Dân tộc Sán Dìu

Tác giả:

Cinet-DTV)-Sống ở miền Trung du các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang.

san diu

Tên tự gọi: San Déo Nhín (Sơn Dao Nhân)

Tên gọi khác: Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quần cộc,  Mán Váy xẻ…

Nhóm địa phương: Các tên gọi người Sán Dìu đều chỉ ra rằng họ có quan hệ gần gũi với cộng đồng người Dao và thường được các tộc người khác gọi chung là Mán.

Dân số: Khoảng 95.000 người

Ngôn ngữ: Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán Quảng Ðông (ngữ hệ Hán – Tạng)

Địa bàn cư trú: Sống ở miền Trung du các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Họ sống tập trung ở trung du Bắc Bộ, trong vùng từ tả ngạn sông Hồng đổ về phía Ðông. Làng xóm của họ tựa như làng người Việt, có luỹ tre bao bọc và giữa các nhà thường có tường hay hàng rào.

Tết: Theo lịch, cứ đến ngày Đông chí, các gia đình người Sán Dìu thường sửa soạn lễ tết rôm rả chẳng khác mấy so với ngày Tết Nguyên đán.

Lịch sử: Phần lớn người Sán Dìu có nguồn gốc từ Quảng Đông (Trung Quốc), mới bắt đầu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay.

Văn hóa: Thơ ca dân gian của người Sán Dìu phong phú, dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ (soọng cô) rất phổ biến. Trong kho tàng truyện kể dân gian chủ yếu truyện thơ khá đặc sắc. Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma. Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo. Nhiều trò chơi của dân tộc được đồng bào ưa thích là: đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo co.

Phong tục thờ cúng của người Sán Dìu rất độc đáo, đa dạng như các lễ tạ mộ, lễ chấn trạch đuổi ma, lễ kỳ yên nhà, lễ kỳ yên làng, thờ cúng tổ tiên, thờ Táo quân, thờ Thổ công, thờ thần cửa, thần mụ, thờ Phật, thờ tổ sư, thờ Thần Nông, thờ Thành hoàng, ngoài ra họ còn có các lễ thượng điền, hạ điền, cơm mới, cầu đảo… gắn với chu kỳ sản xuất.

Hoạt động sản xuất: Người Sán Dìu chủ yếu làm lúa nước, cũng có một phần làm nương, soi, bãi. Nhờ đắp thêm mũi phụ, lưỡi cày của họ trở nên bền, sắc và thích hợp hơn với việc cày ở nơi đất cứng, nhiều sỏi đá.Ngoài ra, họ còn chăn nuôi, khai thác lâm, thổ sản và làm một số nghề phụ khác như: Đánh bắt, nuôi thả cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát. Về phương tiện vận chuyển: từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển. Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ.

Thảo luận cho bài: "Dân tộc Sán Dìu"