Anh Túc

Tác giả:

Anh Túc
(tiếp theo và hết)
*

D. Chế biến.

Bất cứ loại anh túc nào cũng có dược tánh, không nhiều thì ít. Dược tánh này nằm trong tất cả các phần của bông hoa, từ  nhụy, cánh, đài cho tới  cuống hoa (stem). Nhưng dược tánh tốt nhứt, về lượng lẫn phẩm, là của nhóm anh túc có tên Papaver somniferum.

Cách đây mấy năm, một ông ấn độ sang bắc mỹ lập nghiệp, khi khổng khi không trồng hoa thuốc phiện trong vườn nhà, để sáng sáng thả mấy cánh hoa vào tách trà nhâm nhi cho bớt nỗi sầu cố lý (ấn độ hổng cấm vụ ni hén). Trồng trọt sao hổng biết mà khoảnh đất ngày càng nới rộng ra để đủ chỗ cho hoa nhởn nhơ khoe sắc, tới nỗi cảnh sát hụ còi mang xe hủ lô xúc ông và đám bông dzìa bót – 1,200 cây Papaver somniferum tổng công – để chờ thụ án (có thể 5 năm tù ở theo luật định). Toà xử phạm luật vì vô ý, nên ông già ấn độ bị phạt tiền và chỉ lãnh án treo cộng thêm mấy chục giờ công tác cộng đồng. Đây có lẽ là cái án đâu tiên và duy nhứt cho tới nay về việc trồng hoa thuốc phiện. Thực tế, trồng vài ba chục cây anh túc trong sân nhà thì hổng đủ để sản xuất thuốc phiện với mục đích thương mại và ngay cả để ‘phi’. Lý do : Papaver somniferum phải là loại có sản lượng thu hoạch cao, trồng trong vùng hạp phong thổ, với diện tích bạt ngàn theo cái kiểu đồn điền kìa. Khơi khơi le hoe làm kiểng ngó chơi thì thiệt hổng thấm tháp.

Trong đám Papaver somniferum nớ, có ba ‘loại – varieties’ thường nghe nhắc tới – Papaver rhoas trên đồng cỏ xứ Flanders hổng thuộc loại này hén –
1. Papaver somniferum album : Đây là loại thân cao nhứt trong tất cả các giống anh túc, có khi tới ngang ngực người (4-5 feet), bông to màu trắng. Nhựa dùng để làm thuốc phiện.
2. Papaver somniferum nigrium : Với nhiều loại, hoa có gam màu từ tím thẫm gần như đen sang tới xanh dương lạt. Do hương vị đặc biệt nên hạt được rắc vào bánh trái, hoặc ép ra dầu, dùng nấu ăn làm xà bông thơm, hay chế biến thành sơn vẹc ni xài trong trang trí…v.v…
3. Papaver somniferum paeoniferum : Trồng làm kiểng, cho hoa rất đẹp – vì… Paeony hay Peony là tên gọi của hoa mẫu đơn –

Thuốc phiện làm từ Anh Túc P. somniferum album.

Thu hoạch á phiện  phải đúng thời điểm, khi hoa á phiện vừa trở mình bước vào tuổi thanh xuân. Người ta ước lượng khoảng 3 tuần sau khi trổ hoa. Đây là thời điểm bầu nhựa thuốc phiện mãn khai về lượng lẫn phẩm. Càng về sau, bầu càng chín đẫy, nhựa sẽ ít lại và mất hẳn hoạt tánh. Hạt thuốc phiện chín già được dùng trong bếp núc, rắc vào thực phẩm, tuy chúng đã thiệt sự mất hết dược tánh, nhưng kỳ cục cái là nó vẫn theo đường tiêu hóa chạy vào máu rồi ra ngoài nước tiểu, thành ăn uống vớ vẩn, lạng quạng urine test có thể positive (Ốc liệu hồn đó Ốc ơi)

Thu hoạch á phiện bằng cách dùng dao khứa nhiều lát vào capsule. Capsule là cái bầu noãn xanh chứa hạt, lúc bị cắt sẽ rỉ ra một loại nhựa màu trắng, được người thợ hái vét bằng một con dao cong  hình bán nguyệt. Nhựa trắng nguyên thủy này khi tiếp xúc với không khí sẽ sậm màu từ từ và khô lại, được đóng thành những bánh nhỏ gọi là nhựa thô. Nhựa thô được nấu cho lỏng xong sàng lọc để loại bớt cặn bã và chất bẩn, rồi thì mới chạy ra thị trường cho giới tiêu thụ gầy bàn đèn.

Hút là hấp thụ á phiện bằng đường hô hấp. Người dính vào nghiện ngập mà thiếu địa đành phải mua sái (tức nhựa á phiện đã xài rồi) về nuốt đỡ, thành ra nuốt á phiện là hấp thụ bằng đường tiêu hóa. Có những trự mức nghiền đã quá khổ, cần độ á phiện cao trong máu mới đã cơn, rồi vì hút không đủ, nuốt không thấm, đám ni bèn tà tà nấu thuốc phiện với nước xong chích thẳng vào tĩnh mạch – kiểu này dễ ngủm sớm –

E. Dược tánh và nghiện ngập .

Á phiện chứa tới hơn 30 chất alkaloid, chất nào cũng có dược tánh cao. Tại VN, có dạo do tò mò, người ta mới lôi mấy hoàn thuốc tễ của vài vị đông y sĩ nổi tiếng ra phân chất điểm danh, kết quả là… ngoài lượng bột nền (cơm nguội hổng chừng) và những vị thuốc bắc với tên tuổi khó nhớ, thì còn thấy cả thuốc phiện và cả tyfomycine (một loại trụ sanh thời xa xăm, nay đã biến mất trên thị trường). Thành ra rồi… nhơn loại sanh thắc mắc, không hiểu công dụng trị bịnh của các hoàn thuốc ấy nó xuất phát từ đâu trong cái đám dược liệu hỗn tạp nớ ?

Morphine và codeine là 2 alkaloid của á phiện – có tánh trấn thống, an thần, trị ho trị tiêu chảy v.v – dược liệu giảm đau dùng nhiều nhứt trong y học.
Tánh giảm đau của morphine trực tiếp nên nhanh lẹ, codeine lâu hơn vì còn phải vào gan để được biến dưởng thành morphine.

Papaverine là một alkaloid khác trong thuốc phiện, làm cơ co cứng cục bộ (local spasm), được dùng cho bịnh nhơn ‘xìu rìu’ do chấn thương cột sống, spinal cord trauma. Papaverine được chích thẳng vào ‘bình cà phê’ để nó có thể đứng lên, lược cà phê mà đãi người tri kỷ trong giây lát. Lượng papaverine dùng ở mỗi người mỗi khác, cần được tính toán cẩn trọng, vì rằng… nếu quá liều, tình trạng đứng dậy quá lâu (cái kiểu superman) sanh đau đớn đã đành, máu trong trỏng im ắng như nước ao tù nên dễ ‘đóng cặn’, từ đó sanh hoại tử. Bình cà phê chết từ từ – rồi y chang trái sầu riêng lúc nửa đêm, nó rụng… cái độp –  Em hồ nghi nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đã vô tình nhắc tới tác dụng này của á phiện trong ‘Tình Cao Thượng’ mà hổng hề hay biết nó có tên gọi là papaverine đó nha –

Á phiện chứa khoảng 10-12 % morphine.
Để tinh chất được morphine từ á phiện, người ta trộn á phiện với dung dịch kiềm – thường làsodium sulfate – morphine kết lắng, cho ra morphine sulfate dưới dạng bột, dùng để uống hay chích.
Sự việc không dừng ở đó, người ta mang morphine ra tinh chất thêm nữa, lần này với dung dịch acetic anhydride để cho ra diacetyl morphine chlorhydrate, có tên thương mại thị trường là heroine tức bạch phiến, mạnh gấp ba lần morphine, trị ho rất tốt (heroisch nghĩa là rất hiệu quả) và… gây nghiện ngập cao với tử vong lớn khi dùng quá liều (overdose).

Kinh doanh thuốc phiện nở rộ vì nó quá xá lời, chuyện bán buôn vượt khỏi tầm kiểm soát của chánh quyền toàn thế giới.
– Giá cả thị trường của 10 kg thuốc phiện khoảng ngàn rưởi mỹ kim.
– 10 kg thuốc phiện này sẽ làm ra 1 kg morphine hay 0.850 kg heroine.
– Dân chích choác heroine trung bình mỗi bữa cần khoảng 0,085gr. Giá cả thị trường liều lượng này khoảng 150 đô.
Thành ra rồi từ 10 kg thuốc phiện sau khi chế thành heroine thì giá tăng tới một trăm ngàn lần ( x 100.000), một vốn mười vạn lời. Chế biến heroine từ morphine lại dễ dàng – ai muốn giàu xụ và giàu lẹ chịu khó vào nét click một hồi sẽ ra công thức – chiến tranh thuốc phiện là cuộc chiến khó lòng kết thúc, cho dù các quốc gia từ lâu đã liên minh đặng cố sức nhổ cỏ tận gốc !
Nhưng…

F. Khám phá mới nhứt.

… Ánh sáng đã vừa le lói cuối đường hầm. Và ánh sáng ni phát xuất từ một phòng thí nghiệm tại đại học Calgary Alberta, do một vị nữ lưu trẻ tuổi thắp lên… (halle….lú…ja !)
Nàng là ai ? Xin thưa liền cho sốt dẻo, nàng là tiến sĩ Jill Hagel, thuộc phòng thí nghiệm biochemical chuyên ngành về anh túc và morphine, do tiến sĩ Peter Facchini cầm đầu khảo cứu.
Ông Facchini gắn bó với cây á phiện còn hơn với người tình, ròng rã đã 18 năm dài thòong nay mới thấy kết quả . Khám phá này còn cáo chỉ, mới được công bố vào trung tuần tháng march 2010 vừa qua.

Lab của Facchini được đặc cách cho trồng Papaver somniferum albumtrong phòng thí nghiệm để mần màn khảo cứu chuyện morphine của loài anh túc trắng này. Ai cũng biết rằng anh túc có nhiều loài, nhưng chỉ Papaver somniferum album mới có khả năng sản xuất opium dồi dào. Từ hơn nửa thế kỷ nay, rất nhiều nhà khảo cứu khoa học tha thiết chú tâm mong tìm ra lời giải đáp “vì sao lại Papaver somniferum album mà không là mộtPapaver somniferum nào khác” ?

(Cũng cần nói thêm là codeine nhân tạo đã được tổng hợp từ lâu trong phòng thí nghiệm, nhưng morphine thì vẫn phải chế biến từ nhựa anh túc của thiên nhiên vì như đã nói morphine nhơn tạo giá thành cao quá xá)

Cô Hagel, và các đồng sự, dòm ngó cân đo đong đếm các enzyms trong nhựa anh túc trắng. Nhờ vào kỷ thuật lưu trữ data của computer, họ vẽ được bản đồ genomes của opium (genomes là các phức hợp tức combinations của genes) rồi đếm ra 23.000 genes tổng cộng trong nhựa á phiện.

Câu hỏi kế tiếp : Trong số 23 ngàn genes ấy, gene nào (hay những genes nào) được thượng đế giao phó trọng trách tổng hợp ra codeine và morphine ?
Bằng phương pháp loại trừ lần hồi, Hagel tóm ra được hai genes, một làm ra codeine, một làm ra morphine. Khảo cứu được trình làng ngay sau đó, tên tuổi Facchini, Hagel và phòng thí nghiệm biochemical của họ một sớm một chiều rực sáng trên vòm trời khoa học.

Vậy rồi khám phá này của Facchini và Hagel sẽ được áp dụng như thế nào ?
Dà, chưa có gì rõ rệt lắm, người ta nghĩ có thể sẽ dựa vào đó để làm những chuyện sau :

1. Dùng “biến chủng-mutation” để “lai giống-hybrid” ra một loại anh túc chỉ cho codeine chớ hổng cho morphine. Thiếu morphine trong thương mại đồng nghĩa với hết heroine trên thị trường.

2. Xử dụng hai genes này trong phòng thí nghiệm để chế biến codeine và morphine theo kiểu mass production (chế biến hàng loạt) như đã làm với insuline, bằng cách đưa chúng vào các vi sinh vật – nấm hay vi trùng chẳng hạn – để kích thích các vi sinh vật này làm ra codeine và morphine. Vỉ  mass production nên ít tốn kém, giá thành do đó sẽ hạ.

3. Việc kiểm soát xì ke ma tuý từ đó có thể sẽ dễ dàng hơn… chăng ?

Dĩ nhiên đây chỉ là ánh sáng đang le lói cuối đường hầm. Để ánh sáng này phựt cháy thành ngọn đuốc thì chưa chắc. Vì rằng : Triệt hạ việc trồngPapaver somniferum album là việc không tưởng. Thêm nữa một khi codeine và morphine có từ mass production trong lab, giới khoa học y học vui mừng một, nhưng đương nhiên đám chích choác sẽ vui mừng tới mười, dân số của chúng bảo đảm từ đó hổng chừng sẽ gia tăng một cách nhảy vọt.

Đời ấy mà, miếng mề đai nào bao giờ lại chẳng có hai mặt !

*

 

Thảo luận cho bài: "Anh Túc"