BÀ MẸ QUÊ

Tác giả:

Như vậy rõ ràng là nhờ có người nữ
mà người nam mới trở nên người tốt hơn, nhờ
ngừoi nữ thì người nam mới có mái ấm
gia đình. Người nữ ấy là Mẹ chúng ta, là mẹ của con chúng ta.

Người mẹ tình nguyện cho con tất cả, tất cả tinh thần lẫn thể xác mà không bao giờ nghĩ đến chuyện sẽ nhận
lại bất cứ một thứ gì, dù chỉ một lời nói cám ơn. Đó là tình thương thiêng
liêng vô cùng cao quý.

Cha mẹ thương chúng ta, chúng ta thương con chúng
ta, đó là nước mắt chẩy xuôi. Vậy thì có bao giờ nước mắt “chẩy ngược” không? Ý
tôi muốn nói là con cái có thưong yêu lại cha mẹ không? Có chứ, chữ HIẾU đấy.

Nhưng tự đáy lòng, mỗi ngừơi chúng ta tự xét mình xem,
nước mắt chẩy ngựơc thì có đấy, nhưng không thể, không bằng “nứơc mắt chẩy
xuôi”, chúng ta thương yêu cha mẹ, nhưng không bao giờ chúng ta thương yêu và
hy sinh cho cha mẹ bằng cho con cái chúng ta.

Cá nhân tôi là thế, có thương mẹ tôi bao nhiêu chăng nữa
thì cũng chỉ là một bài viết “Bà Mẹ Quê”, khi NGƯỜI đã về quê thật.

Nhân ngày Lễ Mẹ, mời quý đọc giả nghe tôi kể…Nam
độc giả nào đọc xong
thì nên tặng MẸ và mẹ của
các con một bó hồng, đó là: “Nụ Hôn Trên Má”./.

***

BÀ MẸ QUÊ:

Có nhiều cách gọi về song thân tùy theo
địa phương, nhưng ở quê tôi, một vùng thuộc tỉnh Kiến An, Hải Phòng thì con gọi
bố mẹ là thầy bu, vì thế tôi xin giữ hai danh từ này cho bài viết về mẹ tôi, một
bà mẹ quê.

Thầy tôi qua đời ngày 15 tháng Giêng năm
1947, hưởng dương  41 tuổi. Ông cụ mất đi
khoảng sau 2 tháng bị bệnh mà thuở ấy người vùng quê chỉ biết gọi là bệnh
“thương hàn”(?). Những ngày thầy tôi lâm trọng bệnh và khi các con tiễn chân
ông cụ ra cánh đồng thì nay tôi không còn nhớ gì nữa. Kỷ niệm duy nhất còn sót
lại trong đầu tôi là khi ông cụ tháo vai cày ra khỏi cổ con trâu rồi đưa sợi dây
thừng cho tôi dẫn nó đi ăn, đang gặm cỏ, khi đến bên bờ hồ trước cửa nhà thờ
thì nó nhào xuống nước, ngước mũi lên thở phì phò, còn tôi, một thằng bé chăn
trâu mới 6 tuổi, không thể kéo nó lên được nên tôi đành buông dây thừng, đứng
trên bờ mà khóc vì sợ con trâu sẽ chết đuối.

Nhưng với bu tôi, một bà mẹ quê, thì
tôi nhớ nhiều, nhưng chưa một lần nhắc lại những kỷ niệm này với anh chị em và
con cháu. Khi thầy tôi mất thì bu tôi mới 43 tuổi với một nách bẩy đứa con, tất
cả cùng sống trong căn nhà tranh vách đất ba gian hai trái, một mảnh vườn với
dăm ba sào ruộng thuộc làng Cựu Viên, tỉnh Kiến An, thành phố Hải Phòng, và chỉ
cách hai nơi này chừng hơn 3 cây số.

Một hình ảnh tuy đã hơn 60 năm rồi mà
tôi vẫn còn như đang thấy trước mắt, đó là cảnh vào lúc hoàng hôn, bu tôi đứng ở
góc vườn, sau lủy tre, hướng ra nghĩa trang mà kêu tên thầy tôi trong tiếng nấc
sau khi đã chôn cất thầy tôi xong.

Bu tôi cả ngày phải chân lấm tay bùn với
ruộng lúa vườn rau, mỗi buổi chiều về, sau khi thổi cơm cho con, nấu cám cho lợn
(heo) xong thì mặt trời đã lặn, giữa lúc tranh tối tranh sáng ấy, bà lẳng lặng ra
góc vườn, lúc thì ngồi ngắt đọt khoai lang, khi thì đứng hái lá chè mà thút
thít khóc trong khi các con không hay biết.

Một buổi chiều tối, khi chim đã về tổ,
tôi leo lên cây cau góc vườn để bắt ổ chim sáo đen khi nghe chim con “chíp
chíp” mà tôi đã rình từ lâu, tôi thất kinh suýt rơi xuống đất khi bất chợt thấy
một bóng đen đứng khóc ở góc vườn. Nhưng tôi hoàn hồn ngay khi nhận ra tấm khăn
tang trắng vấn trên đầu, hai đuôi khăn chạy dọc sống lưng của bu tôi, tôi vội tụt
xuống định chạy vào nhà, nhưng rồi khựng lại, ngồi thụp xuống bên gốc cây cau
vì nghe tiếng bu tôi khóc:

“Ối ông ơi! Trời đã tối rồi, ông đi
đâu mà sao không về ăn cơm uống nước với các con ông ơi!”
.

Tuy tuổi lên 6, tuổi nghịch ngợm của trẻ
nhà quê không biết sợ ma nhưng tôi rùng mình nổi gai ốc khi nghe bu tôi kêu lên
như thế. Bà khóc trong nấc nghẹn, cố kềm trong họng không cho ra tiếng vì sợ
các con nghe được, bà cam chịu đau khổ thương nhớ một mình, không đành chia nỗi
buồn với các con. Các anh chị em chúng tôi không ai hay biết việc này, vì sau một
ngày quần quật với công việc ruộng lúa vồng khoai thì tất cả đã mệt nhoài, mọi
người đi nghỉ sớm để sáng mai, khi gà vừa gáy và tiếng chuông nhà thờ
“bính-boong” lúc 5 giờ sáng là đã phải dậy để chuẩn bị ra đồng.

Riêng mình tôi biết bu tôi khóc, tôi chẳng
nói cho ai hay, nhưng tiếng khóc của mẹ xoáy vào đầu tuổi thơ khiến tôi cứ đứng
sau hè nhìn bu tôi rũ xuống như tàu lá chuối héo, nghe bà nấc nghẹn mà ứa nước
mắt theo. Nhiều khi tôi thấy bà vịn cành chè rồi sức nặng của khổ đau kéo cành
chè gẫy xuống. Một chiều tối, tôi nghe tiếng nói bên kia vườn, cách bụi tre, vẳng
sang:

_ Mẹ Quán sao cứ khóc mãi thế! Hãy để cho Quán
nó yên nghỉ.

Đó là tiếng của cụ Dưỡng, chú của thầy
tôi, chắc cụ cũng sót ruột vì tiếng khóc mỗi chiều tối ngoài góc vườn. Bu tôi
là cháu dâu nên phải vâng lời chú chồng, từ đó bu tôi không đứng khóc ngoài góc
vườn nữa. Nhưng nỗi sầu vì nấm mồ chôn chồng chưa xanh cỏ thì làm sao vơi nên
nước mắt tiếp tục rơi cùng những tiếng nấc nghẹn trong góc bếp giữa đêm khuya.

Mùa Đông tháng giá, tiết trời khá lạnh ở
vùng quê miền Bắc trong căn nhà lá vách phên nên có nhiều khe hở để gió lùa vào.
Anh em tôi nằm ổ rơm, đắp chiếu, kín đầu thì hở đuôi và ngược lại kín chân thì
thò đầu, cái lạnh đêm khuya lại thêm cái dạ trống, đúng với câu “bụng đói cật
rét” nên giấc ngủ chập chờn. Nửa đêm về sáng, khi gà vừa gáy, tôi thức giấc, thấy
ánh lửa từ nhà bếp hắt lên, tôi bò dậy và mon men tới gần để sưởi cho ấm thì thấy
bu tôi ngồi nấu cám heo, một tay cầm que, tay kia nắm mớ rơm đẩy vào tiếp cho lửa
cháy, bóng mẹ tôi in lên vách, ngả nghiêng theo ánh lửa bập bùng. Đêm khuya, thấy
con thức dậy bò xuống bếp thì bà mẹ biết con đang thiếu cái gì. Vừa trông thấy
tôi, bà vội kéo vạt áo lau nước mắt, rồi nói:

_ Đói hả? Ngồi xuống đây sưởi cho ấm rồi
bu nướng cho con củ khoai.

Bếp nhà quê đun bằng rơm rạ nên có tiếng
nổ lép-bép làm bắn ra những tia lửa nhỏ tựa pháo bông, kéo theo tro bụi phủ lên
người ngồi nấu. Bu tôi đứng dậy khẽ phủi tro trên khăn tang trắng rồi lấy củ
khoai lang ở cái thúng treo sau lưng vùi vào đám tro giữa ba “ông đầu rau”.

Có thể nhiều người không biết “khoai nướng
vùi bếp tro” là gì, mùi vị nó ra sao, ngay cả con cháu nội ngoại của bu tôi hiện
nay đang sinh sống trên đất Mỹ cũng không biết. Nhưng với tôi, củ khoai lang
vùi bếp tro mà bu tôi “ban” cho tôi không có gì so sánh được. Người ta thường
dùng chữ “ban” để nói về những “hồng ân” mà Thượng Đế, Chúa, Phật ban cho con
chiên, phật tử, nhưng bu tôi đã “ban” cho tôi củ khoai nướng vùi bếp tro giữa
đêm Đông giá lạnh mà xung quanh bếp chỉ có rơm rạ, tro bụi, bóng tối và tình mẹ
con.

Bà mẹ khều củ khoai trong đám tro ra, vò
nắm rơm chà lên vỏ ngoài cho sạch chỗ cháy đen rồi đưa cho con:

_ Khoai còn nóng lắm, con ăn từ từ.

Đúng rồi, khoai nướng thơm và ngon ngọt
với trẻ em miền quê, nếu em đói mà vội ăn đến nỗi quên cả bóc vỏ thì sẽ bị nóng
phải hả miệng ra, ngửa mặt lên mà thổi “phù-phù”, ăn vụng mà nuốt vội miếng khoai
lang dễ bị nghẹn. Bụng đói, cật rét mà hai tay nắm củ khoai nướng nóng thì
thích lắm, nhưng không hiểu sao cái tật tham ăn hằng ngày của tôi biến đi đâu mất,
tôi cũng chẳng hiểu chữ “hiếu” là gì, nhưng vẫn cứ bẻ củ khoai ra làm hai, đưa
bu tôi một nửa mà không nói một lời nào cả. Biết nói gì hơn, và dù văn hay chữ
tốt thì trong hoàn cảnh ấy, ngàn vạn lời nói cũng không đủ. Tôi đưa nửa củ
khoai cho bu tôi chỉ vì tôi thấy bu tôi kéo vạt áo lau nước mắt, chỉ vì trong
ánh lửa rơm chập chờn giữa đêm khuya mà tôi thấy mắt bu tôi đỏ. Tôi đưa nửa củ
khoai cho bu tôi vì tôi biết bu tôi cũng đói nhưng bà nhường miếng ăn cho con
như tất cả các bà mẹ khác.

Cầm miếng khoai trong tay, bu tôi nhìn
tôi không nói gì cả nhưng lại choàng tay qua kéo tôi vào lòng, tay kia xoa đầu
con. Tôi biết bu tôi đang thổn thức và rồi bà khẽ nói:

_ Con lên đánh thức các anh chị dậy ăn
cơm để còn kịp ra đồng.

Hai tiếng “ra đồng” là chỉ công việc ngoài
đồng ruộng như cuốc đất, nhổ mạ, cấy lúa, làm cỏ, trồng rau, trồng khoai, trồng
bắp (ngô) v.v..những công việc của nhà nông để làm ra thực phẩm mà người thành
phố, nhất là các bạn trẻ người Mỹ gốc Việt không bao giờ có thể hình dung ra được
nó vất vả như thế nào.

Ngày qua ngày, bầy gà một mẹ bẩy con đùm
bọc quây quần dưới mái tranh được bao quanh bởi lũy tre, rồi bị chạy loạn vì
chiến tranh. Khi hồi cư về làng cũ thì chỉ còn hoang tàn đổ nát nên mẹ con lại
chạy theo dòng người di tản. Thấy họ đi thì bà mẹ quê cũng dắt con đi, không biết
đi về đâu và làm gì. Những lúc gian nan khốn khổ như thế chắc hẳn bu tôi lại
kêu tên thầy tôi và mong chồng chỉ lối đưa đường cho vợ góa con côi được về nơi
bình an.

Cuối cùng thì gia đình tôi làm dân di cư
trôi dạt vào Nam, về làng Bến Xúc, quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương năm 1954. Người
nông dân thường có sức chịu đựng như “cỏ dại”, vất đâu cũng sống được với đất,
nhưng mẹ con chúng tôi ra đi không mang theo ruộng vườn, chỉ có hai bàn tay nên
phải xoay sở, các anh chị tôi lúc này đã trưởng thành nên phiêu lưu về thành phố
và gia đình tôi lại di chuyển về 172/41 đường Lê Quốc Hưng, Khánh Hội, quận Bốn,
Saigon.

Bu tôi, một bà mẹ quê lạc về thành phố,
bỏ lại sau lưng xa tít mù khơi mái tranh, lũy tre, ruộng vườn, mồ chồng mà sẽ không
bao giờ được nhìn lại nên bu tôi như tàu lá úa và chỉ hồi sinh sau khi đã có tiếng
bập bẹ “bà bà” của các cháu nội ngoại. Có lẽ đây là giây phút hạnh phúc nhất của
bu tôi cũng như các bà mẹ khác, thương cháu chăm sóc cháu hơn thương con.

Vẫn tưởng bu tôi được vui hưởng thái
bình với cháo rau đạm bạc bên con cháu cho tới lúc đầu bạc răng long thì chiến
tranh lại tràn về, các con trai con rể của cụ lên đường tòng quân, thằng Cao
Nguyên, đứa Đông Hà, em tôi ở núi Sơn Chà thì tôi  ở mãi tận mũi Cà Mâu, đâu đâu cũng nghe tiếng
súng nổ. “Đại bác đêm đêm vọng về thành phố” thì bà mẹ quê khốn khổ thức giấc
ngồi tựa lưng vào vách, mắt nhắm, tay cầm tràng hạt, miệng đọc thầm chuỗi
Mân-Côi cầu xin Thượng Đế ban ơn lành cho đàn con nơi lửa đạn.

Nhớ lại lúc tôi nhận được giấy gọi đi
trình diện Không Quân và Võ Bị cùng một ngày, đang phân vân chưa biết chọn nơi
nào thì bu tôi bảo:

_ “Con đừng đi lính tầu bay, thấy tầu nó
bay bay thì bu sợ lắm, con lên Đà Lạt mà học, vì ở đó có chị Hải của con, chị
con sẽ săn sóc cho con thì bu an tâm hơn”.

Chị ruột tôi ở số nhà 16.C Phạm Ngũ Lão,
tôi đã lên đây nghỉ Hè nhiều lần rồi, thấy SVSQ Võ Bị là tôi mê, nay có thêm lời
khuyên của bu tôi nên tôi chọn Võ Bị. Tuy không được bà chị săn sóc, nhưng lại
được nhiều đàn anh săn sóc tận tình hơn, nếu bu tôi mà biết “tận tình” như thế
nào thì chắc là cụ khóc ngất. Ngày tôi ra trường, bu tôi lên Đà Lạt dự lễ mãn
khóa để xem tôi mang lon “quan một” nó ra sao, nhưng mục đích chính là bảo anh
rể tôi làm Cảnh Sát, “sằp xếp làm sao cho tôi làm việc tại Đà Lạt cho “có chị
có em” cho bu tôi an tâm (!). Thế rồi bu tôi thấy tôi đội mũ beret xanh TQLC, cụ
lo lắng, vì một anh rể khác của tôi ở TQLC đã bị thương nhiều lần nên tôi phải
nói dối cụ là tôi được làm văn phòng ở Thủ Đức, gần nhà hơn.

Nhưng rồi tôi đi biền biệt, từ Bến Hải đến
mũi Cà Mâu, chẳng có ngày phép để về thăm mẹ già! Đời lính chiến là vậy, còn bu
tôi thì hằng ngày vẫn thót con tim mỗi khi thấy xe GMC chở quan tài phủ cờ chạy
qua cửa. Khi nghe mấy bà hàng xóm kháo nhau rằng áo quan phủ cờ vàng sọc đỏ là
của lính chết trận thì bu tôi vịn tường ngồi xuống đất đọc kinh tiếp.

Rồi
ngày N tháng 6/1966, một xe GMC/TQLC chạy vào xóm và từ từ dừng lại khiến bu
tôi hốt hoảng khuỵu xuống, nhưng người lính TQLC tìm nhà bà Châu, bà hàng xóm
và cũng là người cùng quê, để báo tin con trai bà là thằng Mão đã tử trận. Bà
Châu xỉu, bu tôi hoảng hốt lo lắng xỉu theo, vì Mão và tôi là bạn và cùng tình
nguyện vào TQLC. Mão Tiểu
Đoàn 1, tôi Tiểu Đoàn 2, cả hai vừa đụng trận tại ngã ba sông Định, thuộc Bích
La Thôn Quảng Trị, nó tử thương, tôi bị đạn xuyên khuỷu tay, thấy không sao nên
tôi đã nói với hậu trạm là đừng báo tin về cho gia đình biết. Khốn thay, hậu trạm
rồi hậu cứ ở Thủ Đức cứ theo đúng thủ tục mà báo tin nên hai ngày sau lại một
xe jeep TQLC đậu trước cửa hỏi nhà bà Tiệp, tên anh cả của chúng tôi, người báo
tin chưa kịp nói gì thì bu tôi ngã xuống bất tỉnh và không còn biết gì nữa!

Vì bị thương nhẹ nên tôi xin xuất viện
ngay để đi phép về thăm nhà. Bu tôi đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, thấy
tôi về, cụ ngồi bật dậy ngơ ngác nhìn con, hai tay vuốt mặt con, nắn vai, nắm
tay con lắc lắc như muốn biết đây là thực hay chiêm bao? Bu tôi không nói gì mà
chỉ khóc, cụ khóc vì lo âu, cụ khóc vì còn cầm được tay con vừa từ mặt trận trở
về.

Những bà mẹ lính chiến thấy mặt con lúc
nào thì được hạnh phúc lúc đó, còn suốt ngày dài lại đêm thâu chỉ toàn là sầu
khổ vì nghĩ đến con ngoài chiến trường. Tôi xin mượn ý bài thơ MTHS: “không chết
người con lính chiến mà chết người mẹ hậu phương”, người lính chiến nếu có chết,
chỉ chết một lần, nhưng những bà mẹ hậu phương thì chết dần chết mòn, chết khi
nghe “đại bác đêm đêm vọng về thành phố”, chết giấc khì thấy con “trở vể trên
đôi nạng gỗ”.

Bu tôi đã chết giấc nhiều lần như thế
khi thấy mấy đứa con, đứa cháu trong họ, cùng đi TQLC lần hồi tử trận như Tô
Thanh Chiêu, Tô Văn Sơn, Vũ Tuấn, Nguyễn Thanh v.v..Cuối cùng thì ngày
19/6/1969, trên con kinh Cán Gáo thuộc tỉnh Chương Thiện, những tiếng nổ đã loại
tôi ra khỏi vòng chiến, nhưng may mắn hơn Chiêu, Sơn, Tuấn, Thanh v.v.., tôi
còn nặng nợ, chưa “đi được” nên khi tỉnh dậy, thấy mình nằm trên giường bệnh viện,
toàn thân những dây cùng nhợ! Mờ mờ nhìn qua lớp băng quấn đầu, tôi nhận ra bu
tôi đang lấy tay cạy những vết máu, vết sình đã khô trên mặt tôi, tôi mấp máy
đôi môi, gọi qua hơi thở của bình dưỡng khí:

_ “Mẹ”.

Tiếng “Mẹ” dễ gọi dễ thương là thế nên
tôi quen với chữ “Mẹ” từ đó.

Tôị bị trọng thương, bị loại khỏi vòng
chiến thì cũng là lúc mẹ tôi bớt được một phần lo âu, thấy tôi lê lết với đôi nạng
gỗ kẹp nách quanh quẩn xó nhà thì mẹ tôi lại mỉm cười:

_ “Con cứ như thế này thì mẹ đỡ lo”.

Chưa trả hết nợ nước nên tôi được hạnh
phúc quanh quẩn một thời gian bên bà mẹ già nhà quê, bà mẹ không biết viết,
không biết đọc mà chỉ biết khóc vì con. Thế rồi đất bằng dậy sóng, các bà mẹ lại
tiếp tục vất vả vì các con, lần sau cùng tôi nghe mẹ khóc là khi tôi cáu kỉnh
nhìn mẹ rồi tôi vất đôi dép cao su làm bằng vỏ xe hơi mà cụ đã len lén để vào
túi xách cho tôi lên đường “học tập vinh quang”.

Sau ngày 30/4/75, ba anh em trai tôi
cùng hai người anh rể đều lên đường để “được” cải tạo làm con người! Chẳng cần
nói thêm thì ai cũng biết một bà mẹ già trong hoàn cảnh ấy thì “có vui bao giờ”.
Nghe hàng xóm xì xào bán tán, mẹ tôi thật thà đi mua quần áo đen và dép râu cho
các con để sớm được về đoàn tụ!

Quá khứ đời tôi lính chiến đã khiến mẹ
lo âu sợ hãi nhưng chưa lần nào tôi hỗn với mẹ như lần này, tôi lôi đôi dép cao
su và bộ quần áo đen ra khỏi túi xách và quăng nó vào góc nhà. Mẹ tôi nhìn sững
tôi và chắc bà tự hỏi tại sao con lại vất những thứ cần thiết ấy, nó sẽ giúp
con để sớm được về với mẹ. Làm sao tôi hiểu được tình thương mênh mông của bà mẹ
quê trong khi bà cũng không biết được con trai mẹ đang chín từng khúc ruột. Tôi
lẳng lặng cầm túi xách lên đường, không lời chào từ giã mẹ già đang ngồi tựa
lưng vào vách mà mắt nhìn theo gót chân con.

“Cải tạo” tới năm thứ chín thì tôi hay nằm
mơ thấy mẹ, linh tính cho biết có điều chẳng lành, tôi hỏi người nhà mỗi khi đến
thăm nuôi thì được biết mẹ tôi vẫn bình thường. Nhưng sao vẫn thấy mẹ trong giấc
mơ, tôi đem chuyện hỏi lại thì lúc đó vợ tôi đành lôi trong túi xách ra một xấp
hình đám tang mẹ tôi mà vợ tôi đem theo những lần trước nhưng vẫn dấu kín. Tôi
không còn nước mắt để khóc mẹ vì tôi đã không chào mẹ khi ra đi, không biết rằng
đó là lúc chào lời vĩnh biệt, không biết ai vĩnh biệt ai. Mẹ tôi khóc vì các
con phải đi xa khi đã thái bình khiến mẹ mù lòa. Mẹ tôi ra đi vĩnh viễn khi tôi
chưa quay về!

“Lòng mẹ thương con như biển Thài Bình dạt
dào”, lòng mẹ như bị dao chém mỗi khi nghe tin con “thắng trận” trở về, “trở về
trên đôi nạng gỗ, trở về hòm gỗ cài hoa”! Lời nào nói cho đủ, viết cho hết
trong vài trang giấy. Những bà mẹ, dù quê hay thành phố, dù bên này hay bên kia
đều là Mẹ Việt Nam. Mẹ VN thì lúc nào cũng vui và khổ đau theo đời sống thăng
trầm của các con, không vui khi các con không vui với nhau. Khổ đau biết bao những
bà mẹ của các anh lính chiến luôn canh cánh bên lòng, lo sợ phải rên rỉ câu:

_“Lá
vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời!”

Những ai còn mẹ, dù trong hoàn cảnh nào
đi nữa thì xin chớ có cử chỉ đáng trách như tôi đã phạm đối với “Bà Mẹ Quê” để
khỏi phải ân hận khôn nguôi./.

Thảo luận cho bài: "BÀ MẸ QUÊ"