Bản Chất Đàn Bà

Tác giả:

Phần Một


Trong một nghiên cứu đáng ngạc nhiên mới đây thực hiện ở Tây Âu ta thấy một số sự kiện nổi bật như sau: những mái (đã có trống, xem như là ‘chồng’) thường chọn đi lẻ thêm với những trống bề thế, già hơn, ngoại hình hấp dẫn hơn, thân hình cân đối hơn, và những trống này cũng đã có những mái kề cận (kể như là ‘vợ’). Những mái thường thích lăng nhăng hơn nữa nếu những anh trống là loại chiều lụy, trẻ hơn, ngoại hình ít hấp dẫn, thân hình mất cân đối. Nếu sửa sang ngoại hình của trống bằng giải phẫu thẩm mỹ ta thấy trống có thêm nhiều cơ may trong những cuộc ngoại tình. Trống càng hấp dẫn bao nhiêu càng ít là người cha chăm chút con cái bấy nhiêu. Khoảng một phần ba ‘trẻ’ sơ sinh ở Tây Âu là hậu quả của những vụ ngoại tình.

Nếu bạn thấy sự kiện này khó tin hay kỳ cục quá bạn không cần phải lo lắng: con người không phải là đối tượng của nghiên cứu ấy nhưng là loài chim sẻ – loài chim vô tư, đuôi nhọn, tíu tít quanh những nhà vựa và cánh đồng vào mùa hè. Liệu giống người chúng ta có khác những chim sẻ đó chăng?

Ám Ảnh Hôn Nhân

Những hậu cung của các bạo chúa thời xa xưa đã cho thấy đàn ông có thể lợi dụng ưu thế quyền lực trong việc truyền sinh, nhưng ta không thể bảo đó là điều kiện điển hình của con người trong giòng lịch sử của mình. Ngày nay ta thấy đã có kẻ bày ra một giáo phái nào đó, tìm cách tẩy não những phụ nữ tin vào tính cách thần thánh của gã, và gã đã biến họ thành những ‘bà trùm’ trong hậu cung của gã. Ðó có lẽ là cách duy nhất để có thể tạo lập tam cung, lục viện kiểu mới. Nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau con người trong thời hiện đại có lẽ đang sống trong những hệ thống xã hội rất gần với hệ thống của thời kỳ ‘săn bắn – hái lượm’ hơn là với thời kỳ sơ khai của lịch sử thành văn của con người. Chuyện đa thê rất hiếm xảy ra trong những xã hội ‘săn bắn- hái lượm’, và định chế hôn nhân đơn thê rõ ràng là phổ biến. Con người sống quây quần thành những nhóm lớn nhưng gia đình vẫn là cái nhân chính: chồng, vợ, con. Hôn nhân là một định chế nhằm vào việc nuôi dạy con trẻ. Nơi nào tôn trọng định chế này, vai trò người cha ít nhất vẫn là giữ một phần trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái, ngay cả khi họ chỉ cung cấp đồ ăn, thức uống mà thôi. Trong phần đông các xã hội, đàn ông thường có khuynh hướng đa thê nhưng chỉ có một số rất ít thành công.

Hệ đơn thê phổ biến đặt loài người chúng ta khác xa với những loài có vú khác, kể cả các linh trưởng. Trong những con vượn, đười ươi, khỉ đột, và khỉ lông dài màu đỏ (orangutan), chỉ có vượn có lối sống khiến ta nghĩ đến một kiểu cách hôn nhân nào đó. Loài vượn sống thành từng cặp trung thành với nhau trong những khu rừng rậm vùng Ðông Nam Á; mỗi cặp sống riêng trong lãnh địa của mình.

Nếu bản chất của đàn ông là gian díu đa tình thì điều gì khiến cho hôn nhân đã có thể xảy ra? Dẫu rằng đàn ông ưa thay đổi nếu ta nghe được một câu nói cửa miệng nơi những nạn nhân của những gã chuyên dụ gái như “ Anh sợ bị ràng buộc phải vậy không nào? ” họ cũng vẫn lấy vợ và cũng gánh vác phần nào chuyện gia đình, dù là họ vẫn không mấy chung thủy với vợ.

Hai mục tiêu này mâu thuẫn nhau chỉ là vì phụ nữ tự bản chất không hề tách bạch thành hai vai trò: vừa là vợ, vừa là ‘gái’. Phụ nữ chẳng phải là món đồ sở hữu thụ động trong tay những bạo chúa. Họ là đối thủ năng động trên bàn cờ tính dục, và họ có những mục tiêu của riêng họ. Lý thuyết về người nam mạnh mẽ, cứng cỏi so với người nữ e lệ, dịu dàng thật khó lòng giải thích được câu hỏi sau: tại sao phụ nữ lại ngoại tình?

Hiệu Quả Herod

Vào khoảng những năm 1980 một số những nữ khoa học gia dưới sự hướng dẫn của Sarah Hrdy bắt đầu lưu ý là hành vi tính dục bừa bãi nơi những khỉ đột cái và khỉ khiến cho lý thuyết của Trivers có phần lúng túng trong giải thích cho rằng sự đầu tư rất nhiều của khỉ cái trong việc nuôi dưỡng con cái đã trực tiếp dẫn đến sự chọn lựa ( khỉ đực) của nó. Những nghiên cứu của Hrdy về giống khỉ đuôi dài ở Ấn (langur) và của học trò của bà là Meredith Small về khỉ macaque hình như cho thấy một loại thú cái rất khác với loại hình của lý thuyết tiến hoá: một khỉ cái lẻn khỏi bầy để đến nơi ‘hò hẹn’ với khỉ đực; có khỉ cái lại chủ động tìm nhiều bạn tình; và có cả khỉ cái mào đầu những đưa đẩy làm tình chẳng khác khỉ đực. Còn hơn cả chuyện chọn đực, nhiều loài khỉ, vượn hình như còn là những kẻ đầu têu những trò lăng nhăng, bừa bãi như thế. Hrdy bắt đầu nêu ý kiến cho rằng có gì đó không ổn trong thuyết tiến hoá liên quan đến động thái tính dục. Một thập niên sau vấn đề đột nhiên trở nên rõ ràng: dưới ánh sáng mới về chuyện tiến hoá nơi động thái giống cái qua một tập hợp những ý tưởng được biết dưới tên gọi “ lý thuyết cạnh tranh tinh dịch”.

Giải đáp cho mối quan tâm của Hrdy nằm ngay trong công việc của bà. Trong nghiên cứu giống khỉ đuôi dài vùng Abu ở Ấn, Hrdy đã thấy một sự kiện khủng khiếp: những khỉ con bị khỉ đực lớn giết hại là chuyện xảy ra như cơm bữa. Mỗi khi một con đực thành trùm mới giữa một bầy cái, nó giết hết khỉ con. Cùng một hiện tượng như thế, ít lâu sau người ta cũng khám phá ra nơi những con sư tử: Khi một nhóm sư tử anh em với nhau dành được một bầy sư tử cái, công việc đầu tiên là chúng tàn sát những con ngây thơ, vô tội. Như những nghiên cứu về sau cho thấy rõ hơn, nạn sát hại những con còn non tuổi là điều thường xảy ra nơi những loài gặm nhấm, loài thú ăn thịt, và các linh trưởng. Ngay nơi những con tương cận với giống người, bọn khỉ đột cũng không thoát khỏi tội này. Nhiều nhà thiên nhiên học chịu ảnh hưởng của những chương trình truyền hình in đậm dấu ấn tình cảm về lịch sử thiên nhiên có khuynh hướng coi chuyện giết những con thú non trẻ là một xáo trộn bệnh lý, nhưng Hrdy và các đồng sự của bà nhìn cách khác. Nạn giết con nhỏ theo họ là một “cách thích nghi” – một chiến lược “tiến hoá”. Khi giết những đứa con ghẻ những con đực khiến quá trình tiết sữa ngừng lại và làm vậy sẽ khiến con cái có thể thụ thai trở lại. Một con khỉ đuôi dài hay một cặp anh em sư tử chỉ có một khoảng thời gian ngắn làm trùm, và nạn sát hại ấu sinh giúp những con này có thể làm cha đến mức có số con tối đa trong thời gian ấy ( theo Mertram, 1975; Hrdy, 1979; Hausfater và Hrdy, 1984.)

Tầm quan trọng của việc sát hại ấu nhi nơi các linh trưởng dần dần giúp những nhà khoa học hiểu được hệ thống phối giống (mating system) của năm loại linh trưởng vì đột nhiên nó cung cấp lý lẽ tại sao những con cái trung thành với một hoặc một nhóm con đực- và ngược lại: nhằm bảo vệ các thành tố di truyền thoát khỏi những con đực hiếu sát. Nhìn rộng hơn thì mô thức xã hội của những khỉ cái cũng như những linh trưởng khác có nguyên nhân là phân bố nguồn thực phẩm. Những con khỉ lông dài màu đỏ cái sống một mình trong những lãnh địa rất giới hạn. Những con đực cũng sống như thế và tìm cách nắm độc quyền trên những lãnh địa của vài con cái. Những khỉ cái này dựa vào bảo vệ của ‘chồng’ nếu những con đực khác xuất hiện.

Vượn cái cũng sống một mình. Vượn đực có thể bảo vệ một khu vực đến năm vượn cái, và chúng cũng dễ dàng thực hành kiểu đa thê như khỉ lông đỏ: một con đực đi ‘khám điền thổ’ những lãnh địa của những con cái trong tầm kiểm soát của mình và ‘cặp’ với tất cả những con ấy. Nhưng khó có thể bảo vượn đực là cha của những vượn con được. Chúng không nuôi con, không bảo vệ vượn con khỏi bị diều hâu sát hại, và cũng không hướng dẫn chỉ bảo chi nhiều cho lũ vượn con. Vậy thì tại sao chúng lại gắn bó trung thành với một con vượn cái như vậy? Nguy hiểm lớn nhất đối với vượn con là bị vượn đực khác sát hại. Theo Robin Dubar của trường Ðại Học Liverpool thì việc đơn thê ở vượn đực nhằm ngăn ngừa nạn vượn con trẻ bị giết.

Con đười ươi (gorilla) cái cũng trung thành với chồng chẳng khác bất cứ con vượn nào. Nó theo ‘chồng’ đến bất cứ xó xỉnh nào mà anh chồng mò tới, và làm bất cứ những gì mà anh chồng làm. Ðười ươi chồng cũng trung thành với vợ. Gã ở với vợ trong nhiều năm và canh chừng nàng trong lúc nàng chăm sóc đười ươi con. Nhưng có một sai biệt lớn lao: chàng có dưới trướng vài chị đười ươi, và rất chung thủy với những chị vợ ấy. Ric-hard Wringham của Ðại Học Harvard tin là hệ thống xã hội của đười ươi có mục đích ngăn ngừa nạn giết hại đười ươi con.

Bọn khỉ đột đã tạo ra một sách lược ngăn ngừa nạn sát hại con nhỏ bằng một hệ thống xã hội có phần khác hơn. Vì chúng ăn những thực phẩm ở rải rác nhiều nơi như trái cây và chúng sống phần lớn thời gian nơi những khoảng trống trên mặt đất, các khỉ đột sống thành những đàn lớn ( một bầy đàn lớn có nhiều cặp mắt canh chừng hơn bầy đàn nhỏ); những đàn này thường phân tán thành những đàn nhỏ hơn trước khi chúng lại họp thành đàn lớn với nhau. Những đàn lúc tán, lúc tụ như vậy khiến một con đực khó lòng thống trị được tất cả. Cách thức để một con đực leo tới đỉnh cao của hệ thống là lập thành những liên minh với những con đực khác, và những bầy khỉ đột thường có nhiều con đực. Như thế một chị cái nay có thêm rất nhiều gã đực có vai trò cha ghẻ. Hậu quả là chỉ có một trường hợp duy nhất mà con đực có thể biết chắc khỉ đột con không phải là con mình: đó là khi nó chưa từng thấy mặt con cái lần nào. Như Jane Goodall đã thấy, những con khỉ đột đực luôn luôn tấn công những con cái lạ mặt có khỉ con bên cạnh và giết khỉ con đi. Chúng không tấn công những con cái không con.

Vấn đề của Hrdy đã được giải quyết. Tính lăng nhăng nơi khỉ và các linh trưởng có thể giải thích bằng nhu cầu cùng chia vai trò làm cha giữa nhiều con đực để ngăn nạn sát hại khỉ con. Ðiều này áp dụng vào loài người được chăng?

Ta có thể trả lời ngay : không. Người ta cũng biết rằng xác suất những đứa con ghẻ bị chết là sáu mươi lăm lần nhiều hơn những đứa trẻ sống với cha mẹ ruột của chúng ( Daly và Wilson, 1988), và có một sự thật khó phản bác là trẻ con thường mang nỗi kinh hoàng khó khắc phục nổi khi phải sống với cha dượng. Nhưng đây chỉ là những dữ kiện áp dụng vào trường hợp những trẻ con đã lớn, không áp dụng cho những trẻ sơ sinh. Những cái chết của chúng không giúp cho người mẹ tự do nuôi dưỡng con cái.

Hơn thế, sự kiện cho rằng chúng ta là linh trưởng có thể đã trật hướng. Ðời sống tính dục của loài người khác rất xa với những ‘bà con’ của chúng ta. Nếu chúng ta giống như orangutan, phụ nữ sẽ sống một mình, xa cách với những người khác. Ðàn ông cũng thế: họ sẽ sống một mình nhưng thường xuyên đi lại với vài phụ nữ ( hoặc nằm chèo queo! ) . Nếu hai đàn ông gặp nhau, hẳn sẽ có một trận quyết đấu. Nếu chúng ta là vượn, đời sống của chúng ta hẳn sẽ khó nhận biết nổi. Mỗi cặp sẽ sống xa nhau hàng nhiều dặm và chiến đấu đến chết nếu có kẻ lạ xâm nhập vào lãnh địa bất khả tương nhượng. Dẫu rằng thỉnh thoảng ta cũng có gặp người láng giềng; và người này cũng rất ít muốn giao tiếp với người khác. Nhưng lối sống của chúng ta không phải như thế. Ngay cả khi ta lui về trong những căn nhà ở những vùng ngoại ô ta không trốn luôn trong đó mà không hề gặp gỡ kẻ lạ. Chúng ta sống cùng với nhiều người trên một vùng đất chung, làm việc, mua sắm, giải trí. Chúng ta là loài sống hợp đoàn và ưa chuộng đời sống xã hội.

Chúng ta cũng không phải là đười ươi. Nếu là đười ươi, có lẽ chúng ta sống trong cấm thành, mỗi cấm thành là một ông khổng lồ trung niên ngự trị, nặng gấp đôi phụ nữ, độc quyền về tính dục trên tất cả các phụ nữ trong thành và luôn hầm hè đe dọa những gã khác. Chuyện tính dục xem chừng còn hiếm hơn cả những ngày lễ các thánh, ngay đối với chàng vạm vỡ, to lớn, chỉ vào khoảng mỗi năm một lần. Còn với những anh chàng khác thì kể như nằm không, chay tịnh ( theo Martin và May, 1981).

Nếu chúng ta là những khỉ đột không lông, xã hội của chúng ta xem ra vẫn có vẻ quen thuộc nhìn theo nhiều cách khác nhau. Chúng ta sống trong gia đình, rất thích giao tiếp với nhiều người khác, biết trên, biết dưới, sống trong những khu vực quen thuộc, và thường khi hung hăng đối với những nhóm người khác với nhóm của ta. Nói cách khác thì ta lấy gia đình làm căn bản, sống nơi thị tứ, là những người có ý thức giai cấp, tinh thần ái quốc, và bài ngoại. Ðàn ông thường dành nhiều thời gian cố leo lên cho được trong nấc thang chính trị hơn là dành nhiều thời gian cho gia đình. Nhưng nếu ta trở lại vấn đề tính dục thì xem chừng ta thấy nhiều chuyện rất khác. Ta vẫn cứ giả định ta là những con khỉ đột không lông thì ta chẳng hề phải nuôi con, không hề phải trả bất cứ một khoản trợ cấp cho con nào; cũng không có lấy tí chút ràng buộc hôn nhân. Phần lớn đàn bà sẽ cặp với đủ hạng đàn ông, dù rằng anh đàn ông ngự trên đỉnh của nấc thang xã hội ( ta gọi là tổng thống chẳng hạn) chắc chắn có quyền chủ tể trên phần lớn những chị đàn bà mắn đẻ. Tính dục là công chuyện liên lỉ, đặc biệt vượt trội trong thời kỳ hứng tình (estrus) của phụ nữ, nhưng họ sẽ quên hẳn trong nhiều tháng, năm khi họ có thai hay nuôi con nhỏ. Việc rượng đực của phụ nữ ai cũng biết vì bộ phận phiá dưới mửng đỏ lên khiến bất cứ chàng nào trông thấy cũng phải ngây ngất, choáng váng. Và các chàng tìm mọi cách để có thể độc quyền những nữ nhân ấy trong vài tuần; không phải lúc nào những anh chàng này cũng đều thành công. Họ cũng mất hứng rất mau khi cái bộ phận mưng đỏ hấp dẫn kia xẹp xuống. Jared Diamond của Ðại Học California ở Los Angeles đã khẳng định là hoạt động trong xã hội sẽ xôn xao biết là chừng nào khi nữ lang xinh đẹp đến sở làm xin việc vào ngày nàng đang ửng hồng ấy.

Nếu chúng ta là những con khỉ đột nhỏ thó hay con bonobo, ta sẽ sống trong những nhóm chẳng khác những con khỉ đột ta vừa đề cập bên trên, nhưng có lẽ sẽ có vài ‘băng’ những anh chàng khát tình thường tìm viếng vài nhóm phụ nữ. Hậu quả là phụ nữ phải đảm trách vai trò nuôi dạy con như vẫn còn thấy rộng lớn ngày nay, và những con bonobo cái ta không thể chối vào đâu được là những chị cũng rất khát tình như thói quen của chúng. Chỉ cần tí chút ‘đầu mày, cuối mắt’ cũng đủ để bonobo cái lâm trận ngay lập tức, và lâm trận theo nhiều kiểu khác nhau ( gồm cả khẩu dâm lẫn đồng tính luyến ái) . Chúng cũng hấp dẫn bọn bonobo đực trong những khoảng thời gian dài. Một con bonobo cái đến một thân cây nơi những con khác đang ăn, trước tiên nó sẽ ‘cặp’ với từng con đực một , và sau đó mới lo đến miếng ăn.

Trong khi một đười ươi cái giao tình khoảng mười lần trước mỗi lần đẻ con, một khỉ đột cái cặp từ năm trăm đến một ngàn lần, và một bonobo khoảng ba ngàn lần. Bonobo- cái rất hiếm khi bị bonobo- đực sách nhiễu, gây hấn bởi một con đực gần bên khi chị ta đang cặp với một anh đực dưới vai vế của anh bonobo ấy; bonobo cái cặp rất nhiều đến mức rất ít khi thụ thai. Thể tạng của bonobo-đực cũng khiến nó ít hung hăng, gây chiến: những con đực không to lớn hơn những con cái và dùng rất ít năng lực để leo lên trong nấc thang giống đực nếu so với loại khỉ đột thông thường. Chiến lược tốt nhất dành cho một anh đực bonobo nhằm duy trì dòng giống đến muôn đời là ăn cho no, đêm trước ngủ cho khoẻ, và chuẩn bị một ngày dài hào hứng.

Những Con-chim-con-hoang

So sánh với đám linh trưởng họ hàng của chúng ta thì chúng ta – giống thông thường nhất trong những linh trưởng lớn nhất – là giống đáng ngạc nhiên hơn cả. Chúng ta đã tái lập chế độ đơn thê và việc chăm sóc con cái mà không mất thói quen sống thành những nhóm đàn ông lớn lao. Như loài vượn, đàn ông lấy đàn bà và giúp vợ nuôi con, tự tin về tình phụ tử, nhưng như những khỉ đột, phụ nữ sống trong xã hội và giao tiếp thường xuyên với những nam nhân khác. Các linh trưởng khác sống trong những xã hội không sao so bì được với chúng ta. Tuy nhiên so với các loài chim, ta có chỗ tương đồng. Nhiều giống chim sống thành bầy nhưng chỉ cặp riêng với một bạn tình trong bầy. Và sự tương ứng với giống loài này dẫn ta đến một giải thích hoàn toàn khác về việc phái nữ cũng thích huê dạng trong tính dục. Một nữ nhân chẳng cần phải ban đặc ân tính dục cho nhiều nam nhân để tránh nạn trẻ con bị sát hại, nhưng có nàng có lý do phân phát đặc ân này cho một tu mi đã được nàng chọn kỹ càng ngoài đức ông chồng của nàng. Có chuyện này là vì ông chồng của nàng, cứ theo định nghiã, thường không phải là anh đàn ông ngon lành nhất. Giá trị của ông chồng là ông ta chỉ lấy một vợ và sẽ không phải chia sớt cố gắng nuôi dạy con cái cho vài gia đình. Nhưng tại sao nàng lại nhận những gien của ông chồng nàng? Và sao lại chẳng cùng lúc có được sự chăm sóc con cái của ông ta mà nàng thì vẫn có thể mang những gien của những chàng khác?

Trong việc mô tả hệ thống phối giống của giống người ta thật khó lòng nói chính xác cho được. Con người là loài rất uyển chuyển trong những thói quen, tùy theo nguồn gốc chủng tộc, tôn giáo, tài sản, và môi sinh. Tuy nhiên ta vẫn thấy một vài nét đặc trưng phổ quát. Trước tiên là phụ nữ thường tìm đến hôn nhân đơn thê, ngay trong những xã hội cho phép đa thê. Hầu như không có biệt lệ, họ thường muốn chọn một cách thật cẩn thận, và chừng nào mà chàng còn xứng đáng, họ thường muốn độc quyền chàng suốt đời, họ tìm cách để chàng cùng chia trách nhiệm nuôi dưỡng con cái, và có lẽ muốn cùng được chết với chàng. Thứ đến là phụ nữ tự thân không tìm đến tính dục ngoại hôn. Dĩ nhiên là có những ngoại lệ về những phụ nữ thật sự ngoài đời hay trong truyện tưởng thường bảo là chuyện lăng nhăng không mảy may lôi cuốn họ, và không có lý do gì mà ta không tin họ. Một nữ nhân quyến rũ thích qua đêm với một gã đàn ông mà nàng chẳng rõ danh tánh chẳng qua chỉ là một kiểu bay mướm do sách báo khiêu dâm của bọn đàn ông cung cấp mà thôi. Những phụ nữ đồng tính, thoát khỏi những cưỡng chế do bản chất giống đực đặt định, không phải đột nhiên dấn thân vào chuyện tình dục hoang đàng; ngược lại họ rất muốn đơn phu. Ta không phải ngạc nhiên về điều này . Những con thú cái ‘được’ rất ít trong những giao phối thêm, vì khả năng sinh sản của chúng bị giới hạn không phải bởi số lượng nhiều ít những con đực giao phối với chúng nhưng là tùy vào thời hạn chúng mang thai con. Về phương diện này, đàn ông và đàn bà rất khác nhau.

Nhưng còn điều thứ ba: phụ nữ đôi khi không chung thủy. Chuyện ngoại tình không phải toàn do đàn ông gây nên. Tuy là hiếm khi hoặc chẳng bao giờ phụ nữ giao phối bất thường với đĩ đực hay kẻ lạ, một phụ nữ trong cuộc đời thật hay trên sân khấu hoàn toàn có thể chấp thuận hoặc khơi mào chuyện yêu đương với một người đàn ông mà họ biết, ngay cả khi họ có “hạnh phúc” trong hôn nhân. Ðây là một mâu thuẫn. Ta thấy ba cách giải quyết. Chuyện ngoại tình có thể qui trách cho gã đàn ông, rằng khả năng thuyết phục của kẻ quyến rũ vợ người vẫn luôn có thể chiếm được một vài trái tim, ngay cả những trái tim khó khăn. Ta cứ gọi điều này là lối giải thích theo kiểu “ Những Quan Hệ Nguy Hiểm” (Dangerous Liaisons)*. Ta cũng có thể qui trách cho xã hội tân tiến và bảo rằng những xốn xang cùng những phức tạp của đời sống mới, của những cuộc hôn nhân không có hạnh phúc,… đã khiến mẫu mực tự nhiên bị đảo lộn và đã đưa tới thói quen xa lạ nơi phụ nữ. Hãy gọi cách giải thích này là “Dallas”**. Hoặc ta cũng có thể nêu ra lý do sinh học nào đó khiến phụ nữ tìm đến giao phối ngoài hôn nhân. Một loại bản năng nơi phụ nữ là không chối từ “ kế hoạch B” khi kế hoạch A không diễn ra xuôi chèo, mát mái. Hãy gọi giải thích này là sách lược “ Emma Bovary”***.

Matt Ridley lập luận rằng ngoại tình có thể đã giữ một vai trò lớn trong việc định hình xã hội loài người vì ta luôn thấy những ưu thế cho cả hai phái khi họ tìm kiếm bạn tình ngoài hôn nhân đơn thê của họ. Kết luận này dựa trên những nghiên cứu về xã hội loài người, xưa và nay, và trong việc so sánh với các loài linh trưởng cũng như các loài chim, bằng cách mô tả chuyện ngoại tình như là một nguồn lực định hình hệ thống giao phối của chúng ta. Theo ông, con người không gì “tự nhiên” hơn là đối tượng bị cắm sừng hay ăn gian. Ta không nên hiểu là tác giả tìm cách biện minh cho chuyện ngoại tình; đúng hơn ông chỉ muốn minh hoạ những cơ năng luật pháp và xã hội nhằm làm nản lòng những kẻ muốn ngoại tình. Ông không khen, hay chê. Ông mô tả một hiện tượng xã hội mà ông cho là ngoại tình, cũng như những chống đối lại chuyện này là “tự nhiên”.

Trong những năm 1970, Roger Short, một nhà sinh học người Anh sau này dời qua Úc, đã ghi nhận điều đặc biệt nơi cấu tạo giải phẫu của loài linh trưởng. Những khỉ đột có tinh hoàn lớn kinh khủng; tinh hoàn của đười ươi khá nhỏ. Mặc dầu đười ươi nặng kí hơn khỉ đột tới bốn lần, nhưng tinh hoàn khỉ đột lớn hơn tinh hoàn đười ươi cũng tới bốn lần. Short đã ngạc nhiên về việc này và đã gợi ý là có thể việc này có liên can tới hệ thống giao phối. Theo Short (1979) thì tinh hoàn càng lớn, linh trưởng càng đa thê.

Ta dễ thấy lý do này. Nếu con thú cái cặp với một vài thú đực thì tinh trùng của những thú đực phải dành nhau để tiến tới trứng trước tiên; cách tốt nhất đối với thú đực để dành phần thắng là có thật nhiều tinh dịch tràn ngập trong tranh dành ảnh hưởng ( Còn có những cách khác nữa: một vài loại ruồi dùng dương cụ rót tinh dịch vào đó trước nhất; chó đực cũng như loài chuột nhảy xứ Úc đều “khoá chết” dương vật của chúng trong con cái sau khi giao phối và dính lẹo trong đó một thời gian. Nơi con người hình như nam giới tạo ra một số lớn tinh dịch “hy sinh” (“ kamikaze” sperm) làm thành một loại chốt đóng kín cửa mình nhằm chặn những ‘kẻ’ đến sau ( theo Eberhard, 1985; Hyde và Elgar, 1992; Bellis, Baker, và Gage, 1990; Baker va Bellis, 1992). Như ta đã thấy khỉ đột sống trong những nhóm trong đó một vài con đực có thể chia nhau một con cái; do đó khả năng chiếm ưu thế là xuất tinh nhiều, và làm nhiều lần – con nào khoẻ trong chuyện này là con có nhiều cơ may thành cha. Quan niệm dựa trên những dữ kiện chưa hoàn toàn này là phổ biến đối với tất cả những loài khỉ và những loài gậm nhấm. Càng chắc chắn độc quyền tính dục, như trường hợp đười ươi, tinh hoàn càng nhỏ; càng sống trong những nhóm nhiều đực cùng giao phối, tinh hoàn càng lớn ( Connor, Smolker, Ric-hards, 1992).

Short đã bất ngờ thấy manh mối về mặt giải phẫu học đối với hệ thống phối giống của một chủng loại: tinh hoàn lớn hàm nghĩa những con cái trong chủng loại thường giao phối với vài con đực. Liệu ta có dùng được thuyết này vào những chủng loại ta chưa làm nghiên cứu? Ta biết rất ít về xã hội những con cá heo và cá voi nhưng về giải phẫu cơ thể ta biết khá rõ về cá voi. Chúng đều có tinh toàn cực lớn. Tinh hoàn của cá voi nặng hơn một tấn và chiếm đến 2 phần trăm trọng lượng toàn thân. Nếu ta lấy khỉ làm mẫu mực thì ta có thể tiên đoán là cá voi và cá heo cái đa phần là loài thú mà con cái giao phối với vài con đực. Tới bây giờ ta được biết đúng như vậy. Hệ thống giao phối của cá heo mũi dài ( giống như cổ vỏ chai) hình như gồm những đàn cá cái lẫn trong những đàn cá đực, và có khi hai con đực cùng một lúc ‘ép’ cái. Ðây là trường hợp cạnh tranh gay gắt giữa các tinh dịch trong nỗ lực truyền sinh mà thế giới loài khỉ đột không so sánh được ( theo Conner, Smolker, và Ric-hards, 1992). Cá voi đực sống trong đàn cá cái của riêng nó có tinh hoàn tương đối nhỏ hơn. Một con đực độc quyền trên một bầy cái và không có cá đực nào khác tranh dành.

Ta thử đem dự đoán này vào loài người chúng ta. So với các linh trưởng thì tinh hoàn của đàn ông thuộc loại trung bình, lớn hơn của đười ươi một cách đáng kể. Cũng như của khỉ đột, tinh hoàn của đàn ông nằm trong một cái bìu lủng lẳng ngoài thân người, nơi đó tinh dịch được tạo ra. Nhờ vậy tinh dịch sống dai hơn. Ðây là bằng chứng rõ ràng phù hợp với thuyết cạnh tranh tinh trùng nơi các linh trưởng ( theo Smith, 1984). Nhưng tinh hoàn của đàn ông không lớn như của khỉ đột, và cũng có bằng cớ là các tinh hoàn này chưa hoạt động hết cỡ của chúng ( và có thể là tinh hoàn của tổ tiên của chúng ta lớn hơn của chúng ta hiện nay): tinh trùng tạo ra tính theo từng gram tinh mô (tissue) nơi giống người rất thấp. Nói gì thì nói, ta có thể kết luận mà chẳng sợ hàm hồ rằng phụ nữ không lăng nhăng cho lắm. Ðó là điều mà chúng ta mong tìm thấy( Harvey và May, 1989).

Không chỉ các loài khỉ, linh trưởng, cá heo là có tinh hoàn lớn khi đương đầu với cạnh tranh tinh dịch. Các giống chim cũng vậy. Và nhìn vào các loài chim mà ta thấy rõ bằng cớ khắng khít về hệ thống phối giống của giống người. Các nhà động vật học đã biết từ lâu là phần lớn những loài có vú là loài đa thê và phần lớn những loài chim là đơn thê. Họ đã cho rằng việc đẻ trứng khiến những con đực có cơ hội rất sớm để chăm lo cho con của chúng hơn là loài có vú. Chim trống hẳn phải bận rộn với việc làm tổ, cùng chia sẻ với chim mái trong việc ấp trứng, và đem thức ăn về cho chim non. Chim trống chỉ không đẻ được mà thôi. Cơ hội góp sức này cho phép những chim trống không chỉ làm một công việc duy nhất là cấy tinh trùng vào chim mái, công việc mà một số điểu loại phải nuôi chim non như loài sẻ, và không chịu nhận việc này trong những loài không nuôi con như loài công chẳng hạn.

Thật vậy, trong một vài loài chim, như ta thấy, con trống làm tất cả mọi chuyện, chỉ nhường cho con mái công việc duy nhất là đẻ trứng – mà trứng lại do nhiều chim đực khác cấy tinh. Trong loài có vú, ngược lại, con đực không thể giúp chi nhiều ngay cả khi chúng muốn đỡ đần một tay. Nó có thể cung cấp thực phẩm cho ‘vợ’ của nó khi vợ nó mang thai và do vậy cũng góp phần vào việc tăng trưởng của phôi thai. Nó có thể mang con đi đây đi đó khi mới đẻ hoặc đem thức ăn tới, nhưng nó không thể đem phôi nhi trong bụng mình hoặc cho con bú khi con mới sanh ra. Con cái nói trắng ra là tự mình phải ôm lấy con nhỏ; ít có cơ hội được giúp đỡ, và con đực thường dành sức lực của mình trong toan tính thành một gã đa thê. Chỉ khi nào cơ hội giao phối rất ít và sự hiện diện của trống là cần thiết cho an toàn cho con nhỏ, như nơi loài vượn, thì ‘gã’ mới trụ lại mà thôi.

Loại lập luận kiểu lý-thuyết-trò-chơi này (xin xem “Game-Theory” sẽ được giới thiệu trong một bài khác) là chuyện thường thấy vào khoảng những năm 1970, nhưng vào giữa những năm 1980 người ta đã có thể thực hiện những thử nghiệm di truyền về máu trên một số loài chim, và những nhà động vật học đã phải kinh ngạc. Họ ngạc nhiên khi thấy là phần lớn chim non trong một ổ không phải là con của con chim-trống-cha. Chim đực cắm sừng lên nhau theo một tỉ lệ lớn. Loài sẻ đất , một loài chim màu xanh da trời nhỏ bé ở Bắc Mỹ, xem ra có vẻ là chim đơn phu rất mực chung tình thì có tới 40 phần trăm những con trong tổ của nó là con hoang ( Payne và Payne, 1989).

Các nhà động vật học đã hoàn toàn xem nhẹ một phần quan trọng của đời sống các loài chim. Họ biết chuyện đó có xảy ra nhưng không đến mức như thế. Trong chuyên môn người ta viết gọn là EPC (extra-pair copulation – giao phối ngoài cặp-bạn-tình). Tôi sẽ gọi chuyện này là ngoại tình, vì đúng là như thế. Phần lớn chim chóc là đơn thê (đơn phu) nhưng chúng không chung tình.

Anders Moller là một nhà động vật học người Ðan Mạch, đã cùng với Tim Birkhead của Ðại Học Sheffield viết chung một cuốn sách tóm lược những điều hiểu biết về việc ngoại tình nơi các loài chim, và đã giúp vén mở một mẫu mực ta cần tìm nơi giống người.

Ðiều trước tiên họ chứng minh là kích cỡ của tinh hoàn của chim thay đổi với hệ thống phối giống của chúng. Nơi các loài chim ‘đa phu’ (khi một vài con đực khiến một con mái của chúng thụ tinh) tinh hoàn lớn nhất. Ta không mấy khó khăn để hiểu tại sao. Con đực nào bắn tinh nhiều nhất là con khiến nhiều trứng nơi con mái có tinh trùng của nó.

Ðiều này không có gì phải ngạc nhiên. Nhưng tinh hoàn nơi một vài loài chim, như con gà gô Châu Mỹ chẳng hạn, là loài mà một con trống có lẽ đã khiến khoảng năm chục con mái thụ tinh trong một vài tuần, lại nhỏ một cách bất thường. Lý do là con mái chỉ giao phối một hoặc hai lần và thường chỉ giao phối với một con đực mà thôi. Ta cần nhớ đến tính chọn lọc của gà gô mái trong khi phối giống. Vì vậy ta thấy là con gà trống làm trùm một bầy không cần phải phí tinh dịch cho từng con mái vì tinh dịch của nó không cần phải cạnh tranh với tinh dịch của những con trống khác. Như vậy không phải là số lần thường giao phối qui định cỡ của tinh hoàn mà chính là số lượng trống mà nó phải cạnh tranh.

Loại đơn thê nằm ở khoảng giữa. Một vài loại có tinh hoàn tương đối nhỏ. Birkhead và Moller ghi nhận rằng những loài có tinh hoàn lớn phần lớn là những loại chim sống thành đàn: hải âu, én, ‘heron’, chim sẻ. Những đàn lớn khiến con mái có nhiều cơ hội ngoại tình với con đực ở tổ kế bên.

Bill Hamilton tin là chuyện ngoại tình có thể giải thích tại sao nơi nhiều loài đơn phu con đực thường màu mè hơn con cái. Lối giải thích cổ điển theo kiểu Darwin là những con đực màu mè nhất hay những con hót hay nhất là những con thu hút mái đến trước nhất, và một tổ (ấm) sớm sủa là một tổ ấm thành công. Ðiều này hẳn phải đúng, nhưng nó không giải thích tại sao tiếng ‘hót’ vẫn tiếp tục nơi nhiều chủng loại rất lâu sau khi chàng đực đã có vợ. Theo Hamilton thì anh đực màu mè không cố lấy thêm vợ nhưng chỉ muốn tuyển thêm người tình.

( Hết phần một)

*Nếu quí bạn đã coi những phim Dangerous Liaisons, Dallas, Emma Bovary quí bạn sẽ hiểu rõ hơn

 

Thảo luận cho bài: "Bản Chất Đàn Bà"