Bản chất đàn ông

Tác giả:

(theo Matt Ridley, trong “ the Red Queen – sex and evolution of human behaviour”- phần hai )
• Nếu không có đàn bà, tiền bạc trên thế giới này chẳng nghĩa lý gì – Aristotle Onassis
• Quyền lực là loại thuốc kích dục rất mạnh – Henry Kissinger

Những hoàng đế đầy dục tính

Vào những năm cuối 1970 một nhà nhân chủng học ở California, Mildred Dickemann đã quyết định áp dụng một vài ý tưởng của Darwin vào văn hoá và lịch sử loài người. Bà đơn giản chỉ muốn xem coi các loại tiên đoán mà những nhà theo thuyết tiến hoá nhìn về những loài thú khác liệu có thể áp dụng được vào giống người. Điều mà bà thấy là những xã hội rất mực phân biệt đẳng trật vào sơ kỳ của lịch sử, con người hình như cư xử đúng như ta mong đợi nếu ta biết mục đích của họ trên hành tinh này là để lại hậu duệ càng nhiều càng tốt. Nói cách khác, đàn ông có khuynh hướng đa thê, trong khi phụ nữ tìm cách kết hôn với những người thuộc tầng lớp có vai vế. Dickemann còn thêm là một số những tập quán văn hoá – của hồi môn, nạn giết trẻ gái, nạn thiến thiếu nữ để bảo đảm an toàn trinh tiết của họ – là phù hợp với mẫu mực ấy. Chẳng hạn ở Ấn Độ, những giai cấp trên thường giết trẻ gái nhiều hơn những người thuộc giai cấp dưới vì ít có cơ hội đưa con gái vào những giai cấp cao hơn. Nói khác đi, ‘cặp’ (mating) với nhau là một đổi chác giữa quyền lực phái nam và những phương tiện dành cho khả năng tái tạo của phái nữ.
Cùng lúc với những nghiên cứu của Dickemann, John Hartung của Đại Học Harvard bắt đầu nhìn vào những mẫu mực thừa kế. Ông ta giả thuyết rằng người giàu có trong một xã hội đa thê thường có khuynh hướng để tiền của của họ cho con trai hơn là cho con gái vì một đứa con trai giàu có có thể cho nhiều cháu hơn là đứa con gái giàu có. Lý do là vì con trai có thể lấy năm, bảy vợ, trong khi con gái khó có thể có nhiều con dù lấy nhiều chồng. Do đó xã hội càng đa thê, thì sự thừa hưởng trong các xã hội ấy ngày càng thiên về phiá đàn ông. Một khảo sát bốn trăm xã hội khác nhau tìm ra những hỗ trợ áp đảo cho giả thuyết của Hartung.
Dĩ nhiên điều này chẳng chứng tỏ chuyện gì. Có thể đó là trùng hợp ngẫu nhiên trong lập luận của những người theo thuyết tiến hoá dự đoán việc phải xảy ra. Ở đây ta cũng thận trọng nhắc lại chuyện mà những nhà khoa học thường hay kể cho nhau nghe về việc có người cắt những cẳng của con bọ chét để trắc nghiệm lý thuyết của ông ta rằng những cái tai của bọ chét nằm ở cẳng chân của chúng. Rồi ông ta bảo con bọ chét hãy nhẩy lên, nhưng nó không chịu nhẩy; ông ta kết luận là ông ta đúng: con bọ chẳng nghe thấy gì .
Tuy nhiên những người theo thuyết Darwin bắt đầu nghĩ rằng có thể là lịch sử nhân loại có hy vọng soi sáng được bằng những chùm ánh sáng tiến hoá. Vào giữa những năm 1980, Laura Betzig đãø thử đặt ra tiên đề: đàn ông không xem quyền lực tự nó như một cùng đích, nhưng là phương tiện dẫn đến thành công về mặt tính dục và truyền sinh. Nhìn thế giới hiện thời quanh bà, bà không mấy hào hứng; những kẻ quyền thế thường không con. Hitler bị tham vọng lôi cuốn đến mức không còn thời giờ dành cho việc đeo đuổi phụ nữ.
Nhưng khi bà xem xét lại lịch sử bà đâm ra ngỡ ngàng. Tiên đoán giản đơn của bà về việc sử dụng quyền lực trong thành công tính dục rõ rệt là được lập đi lập lại nhiều lần. Chỉ ở Phương Tây chuyện này mới không thành công trong một vài thế kỷ nay mà thôi. Mà không phải chỉ như vậy, trong phần lớn những xã hội đa thê có nguyên những cơ chế được lập ra một cách tỉ mỉ nhằm bảo đảm việc một kẻ đa thê nhiều quyền lực để lại những kẻ nối dõi cũng đa thê như các tiên đế của họ.
Sáu nền “ văn minh” sớm sủa và độc lập của nhân loại là Babylon, Ai Cập, Aán Độ, Trung Hoa, Aztec, và Inca đáng chú ý ở việc tập trung quyền bính hơn là ở tính cách dân sự của chúng. Tất cả đều do một người cai trị, mà quyền lực là độc chuyên và tuyệt đối. Những người ấy là những bạo chúa, hiểu theo nghiã họ có thể giết bất cứ thần dân nào dưới quyền của họ mà không sợ bị trả đũa. Không có biệt lệ, việc tập trung quyền bính lớn lao luôn đi kèm với năng xuất tình dục ghê gớm. Vua xứ Babylon Hammurabi có hàng ngàn ‘bà vợ ’ nô lệ dưới trướng. Hoàng đế ai cập (pharaoh) Akhenaten ‘xài’ đến 317 bà phi và hàng trăm nô tì. Kẻ nắm quyền Montezuma ở Aztec hưởng đến 4,000 cung nhân. Hoàng đế ấn độ Udayama giữ trong cung cấm mười sáu ngàn tì thiếp. Các hoàng đế trung hoa ta đã biết khá rõ. Vua Atahualpa Inca như ta cũng đã thấy giữ trinh nữ khắp nơi trong vương quốc.
Không chỉ sáu hoàng đế nêu trên, mà ngay cả những tiên đế cũng như những kẻ nối dõi của họ đều có những cung cấm rộng lớn; họ đều dùng những kỹ thuật tương tự để tuyển và giám sát cung nhân. Họ tuyển nữ nhân ( thường là trước tuổi dậy thì), giữ trong những lâu đài khó lòng trốn thoát được, dùng hoạn quan canh giữ, bắt họ hầu hạ và dùng họ nuôi con của hoàng đế. Những biện pháp nhằm tăng khả năng sinh nở của cung nhân rất thông dụng. Phương pháp ngưng cho con bú để phụ nữ sớm có kỳ trứng rụng trở lại ít nhất đã được ghi lại trong bộ luật của Hammurabi vào thế kỷ thứ mười tám trước công nguyên. Đời nhà Đường các hoàng đế trung hoa cho ghi chép cẩn thận ngày hành kinh và thụ thai của cung nhân để hoàng đế chỉ ‘ban ơn mưa móc’ cho những phi tần nào có khả năng mang thai nhất. Các hoàng đế trung hoa cũng còn được các thái y hướng dẫn cách bồi dưỡng tinh khí để có thể duy trì định mức hai phụ nữ mỗi đêm, và đã có thơ văn lưu truyền là có hoàng đế đã than phiền về nhiệm vụ nhọc nhằn này. Những cung nữ này không hơn gì những máy đẻ được hoạch định cẩn thận, nhằm rải những gien của các vua chúa ra khắp nhân gian.
Không phải chỉ những vua chúa mới cho thấy những thí dụ cực đoan ấy. Laura Betzig đã xem xét 104 xã hội có tính cách tự trị về mặt chính trị và thấy là “ trong hầu hết mọi trường hợp, quyền lực báo trước mức độ lớn nhỏ của những hậu cung”. Những ông vua của những vuơng quốc nho nhỏ có khoảng một trăm phi tần, lớn hơn thì một ngàn, còn các hoàng đế tới năm ngàn. Lịch sử có lẽ đã cho thấy những hậu cung như thế mới chỉ là một trong những phần thưởng dành cho những kẻ mưu tìm quyền lực; cũng còn nhiều phần thưởng khác như kẻ hầu, người hạ, cung điện, hoa viên, âm nhạc, của ngon vật lạ, nhung lụa, những trò thể thao ngoạn mục,… Nhưng rõ ràng là phụ nữ vẫn nằm trên cao trong danh sách ấy. Điểm chính trong tìm tòi của Betzig không chỉ nêu ra là những vua chúa đa thê mà còn muốn chỉ ra rằng họ đã tìm mọi cách để có thật nhiều “ con đàn, cháu đống”. Mà những phương pháp ấy không phải chỉ có mục đích tăng cường khoái lạc của hạng quyền uy. ( Ghi chú của người viết bài này: toa thuốc “ nhất dạ ngũ giao sinh lục tử” nổi tiếng của Minh Mạng rõ ràng cũng phản ánh thực tại này; cứ theo thể tạng thì nhà vua chỉ cần “ nhị giao” là đủ phờ phạc rồi!)
Tuy nhiên nếu sự thành công trong việc truyền sinh là một trong những hãnh diện của quyền lực chuyên chế thì ta cũng còn phải để ý tới một đặc điểm khác: tất cả những vua chúa trong cả sáu nền văn minh sớm sủa ấy đều là những kẻ chỉ có một bà vợ chính thức. Nói cách khác, họ luôn luôn đặt để một người chính thức trên những người khác và ưu ái tặng cho danh hiệu “ hoàng hậu”. Nơi nào có nội cung nơi ấy có một bà trùm được đối xử khác với những người nữ khác. Bà vợ này xuất thân con nhà gia thế, và dứt khoát chỉ bà ta mới có quyền có những đứa con kế nghiệp. Solomon có cả ngàn phi tần và chỉ một hoàng hậu.
Betzig điều tra về La Mã thời đế quốc và thấy sự phân biệt giữa hôn nhân đơn thê và sự bất trung rải từ thượng tầng đến hạ tầng xã hội La Mã. Các hoàng đế La Mã nổi tiếng cực kỳ dũng mãnh trên giường tình, dẫu chỉ lấy những bà hoàng làm vợ chính thức ( một bà mà thôi). Quan hệ ái tình giữa Julius Caesar với phụ nữ được mô tả là ngông cuồng. Nói về Augustus, Suetonius đã viết như sau “ khi không thể ‘gù’ phụ nữ được nữa vì đã lớn tuổi, người ta kể là ông ta vẫn còn thèm khát tước đoạt trinh tiết gái trinh- mà chính bà vợ của ông gom về cho ông”. Những “ tội dâm dục” của Tiberius có thể sánh với “ bạo chúa Phương Đông” ( theo Tacitus). Caligula “ tán tỉnh hầu hết các phụ nữ quí tộc ở La Mã” (Dio), kể cả chị em ông ta. Ngay vợ của Claudia cũng tìm gái cho chồng mình (theo Dio). Khi Nero xuôi giòng trên con sông Tiber, ông ta “ có cả đoàn những nhà thổ thiết lập dọc bên sông” (Suetonius). Còn trong trường hợp Trung Hoa, tuy không thành phương pháp đến như thế, đẻ con hình như là chức năng chính của các phi tần.
Nhưng không phải chỉ những hoàng đế là đặc biệt. Khi một nhà quí tộc giàu có tên là Gordian chết trong một cuộc dấy loạn của cha ông ta chống lại hoàng đế Maximin vào năm 237 A.D., Gibbon đã ghi như sau: “ Hai mươi hai cung nhân chính thức và một thư viện chứa tới sáu mươi hai ngàn tác phẩm cho thấy những khuynh hướng của ông, và từ những sản phẩm mà ông để lại, hình như cả hai loại nêu trên đều nhằm mục đích sử dụng hơn là để phô trương”.
Những hào mục “ thường thường” ở La Mã nuôi hàng ngàn nô lệ. Và mặc dù là những nữ nô lệ chỉ quanh quẩn trong nhàø, giá bán của những nô lệ trẻ rất cao. Các nam nô lệ thường phải sống độc thân, vậy thì tại sao những hào mục La Mã lại mua nữ nô lệ trẻ nhiều như vậy? Theo các sử gia là để đẻ thêm những nô lệ khác. Nếu vậy những nô lệ mang thai phải có giá cao; thực tế không phải vậy. Nếu nô lệ không còn trinh, kẻ mua có quyền kiện người bán. Và tại sao lại buộc nam nô lệ hãm mình trong khi đẻ con là chức năng của nữ nô lệ? Ta không còn phải nghi ngờ nhiều là các nhà viết sử của La Mã đã kể lại sự thật khi xem những nữ nô lệ như những tì thiếp. Việc dùng các nữ nô tì vào sinh hoạt tính dục có phần nới rộng ta có thể thấy rất thông thường trong văn chương La-Hy từ thời Homer trở đi; chỉ những người viết thời nay mới không để ý nhiều đến chuyện này mà thôi.
Hơn thế nữa những kỳ hào La Mã đã trả tự do cho nhiều nô lệ ở vào độ tuổi còn trẻ một cách rất đáng nghi hoặc cùng với những tặng phẩm lớn. Đây khó lòng là một quyết định nhạy bén về kinh tế. Những nô lệ được trả tự do đã trở thành giàu có và đông đảo. Narcissus là kẻ giàu có nhất vào thời ông ta. Phần lớn các nô lệ được giải phóng đã được sanh ra trong nhà của các ông chủ, trong khi đó nô lệ làm ruộng hay khai mỏ ít khi được phóng thích. Ta ít còn ngờ vực là những hào mục La Mã đã giải phóng cho những đứa con ngoại hôn, con đẻ của những nữ nô tì của họ.
Khi Betzig chú tâm đến những nước theo Ki-Tô Giáo thời trung cổ, bà cũng thấy là hiện tượng hôn nhân đơn thê và ‘giao phối’ đa thê quyện vào nhau đến mức trầm trọng. Lấy nhiều vợ trở nên kín đáo hơn, nhưng không biến đi. Vào thời trung cổ việc kiểm tra dân số cho thấy tỉ lệ phái tính ở vùng quê nghiêng hẳn về phái nam vì có quá nhiều phụ nữ được “ trưng dụng” trong những lâu đài và tu viện. Công việc của họ là kẻ ăn, người ở thuộc nhiều loại khác nhau, nhưng họ lập thành một loại “ hậu cung” tương đối lỏng lẻo mà tầm cỡ rõ ràng tùy vào của cải và quyền lực của chủ nhân ông các lâu đài. Trong một vài trường hợp, các sử gia và các tác giả khác ít nhiều thừa nhận những lâu đài ấy là những “ tam cung, lục viện” nơi các chủ nhân sống rất xa hoa.
Công tước Baudoin, chủ của một thư lại văn học có tên là Lambert, “ đã được chôn cất với sự hiện diện của hai mươi ba đứa con hoang, cùng với mười trai, gái chính thức”. Phòng ngủ của ông ta ăn thông với khu tớ gái và phòng những gái tơ ở lầu trên. Nó cũng ăn thông với phòng sưởi ấm, “ một căn phòng dành riêng cho những trẻ sơ sinh”. Trong lúc đó nhiều nông dân thời trung cổ may mắn lắm mới lấy được vợ trước tuổi trung niên và khó lòng thông dâm với kẻ khác được.

Phần Thưởng cho Bạo Lực

Nếu truyền sinh là phần thưởng và là mục đích của quyền lực và tài sản thì ta cũng ít ngạc nhiên khi thấy nó là nguyên nhân thường thấy và cũng là phần thưởng của bạo hành. Do vậy ta có thể giả định là Giáo Hội ( Thiên Chúa Giáo) thời sơ khai đã mang nặng những ám ảnh về những vấn đề tình dục. Giáo Hội đã nhận ra tranh dành tình dục là một trong những nguyên nhân gây ra nạn giết người và gây tàn tật cho người khác. Việc xem tình dục là tội lỗi trong những vương quốc Thiên Chúa Giáo chắc chắn có cơ sở cho rằng tình dục thường dẫn đến những xáo trộn hơn là ở việc coi tình dục tự thân là tội lỗi.
Ta hãy xem trường hợp dân trên đảo Pitcairn. Vào năm 1790 chín tên nổi loạn trên tàu HMS Bounty đã lên đảo Pitcairn cùng với sáu đàn ông và mười ba phụ nữ thổ dân Polynesians. Cách xa những nơi đông dân cư đến hàng ngàn dặm,họï sắp xếp một đời sống trên đảo nhỏ này. Ta hãy để ý việc này: mười lăm đàn ông , và mười ba phụ nữ. Khi người ta khám phá ra đảo này mười tám năm sau, mười trong số mười ba phụ nữ sống sót và chỉ còn một gã đàn ông duy nhất. Những đàn ông khác, một tự sát, một chết, và mười hai bị giết. Kẻ sống sót duy nhất đơn giản chỉ là kẻ còn lại cuối cùng trong những cuộc bạo hành dữ dội do dành gái mà ra. Kẻ sống sót này đã xin theo đạo ngay lập tức và thảo ra luật đơn thê cho xã hội Pitcairn. Cho tới những năm 1930 đời sống trên đảo phát triển và những ghi chép gia phả được lưu giữ cẩn thận. Những nghiên cứu cho thấy là luật đơn thê hoạt động tốt. Trừ một vài trường hợp ngoại tình hiếm hoi, dân đảo Pitcairn vẫn tôn trọng và tuân thủ luật đơn thê.
Đơn thê, do luật pháp, tôn giáo, hay truyền thống qui định hình như đã làm giảm những tranh chấp chết người giữa người với người. Tacitus, một sử gia người La Mã, cho rằng sự thành công của những bộ lạc Germanic từng làm ngỡ ngàng một vài hoàng đế La Mã phần lớn do việc họ là những xã hội đơn thê, và nhờ thế họ đã có thể hướng tính chiến đấu của họ ra bên ngoài ( mặc dù người ta không đem giải thích đó dùng cho những người La Mã thành công và đa thê). Không ai được quyền có hơn một người vợ, và vì thế không ai có hứng khởi giết người cùng bộ tộc với mình để đoạt vợ. Xã hội qui định đơn thê cũng không cần phải nới rộng bằng cách bắt thêm nô lệ. Ở Borneo một bộ lạc vào thế kỷ thứ mười chín là bộ lac Iban, đã thắng trong những tranh chấp giữa các bộ lạc. Không như những bộ lạc gần bên, họ là bộ lạc theo chế độ đơn thê; nhờ vào chế độ này khiến số người độc thân trong hàng ngũ của họ giảm đi và họ không cần phải mạo hiểm tìm kiếm phần thưởng bằng những nữ nô lệ bên ngoài.
Giống linh trưởng là giống mà bạo lực giữa các nhóm là một đặc điểm. Cho tới những năm 1970 những chuyên gia nghiên cứu về linh trưởng vẫn còn bận rộn tìm cách xác định những định kiến của chúng ta rằng các linh trưởng là loài yêu chuộng hoà bình sống trong những xã hội hoà bình. Rồi khi họ bắt đầu quan sát khiá cạnh hiếm hoi nhưng hung bạo hơn của khỉ đột (chimpanzees) họ thấy những con đực của một bầy đàn đôi khi tiến hành những chiến dịch cuồng bạo chống lại những con đực của bầy đàn khác, truy lùng và giết kẻ thù. Thói quen này rất khác với lối sống của những loài thú sống thành đàn trên những lãnh thổ riêng của chúng là chỉ tìm cách xua đuổi những kẻ muốn xâm nhập vào lãnh thổ của chúng. Phần thưởng dành cho những kẻ xâm lược có thể là đoạt được lãnh thổ của kẻ thù, nhưng đó chỉ là phần thưởng rất nhỏ so với công việc quá nguy hiểm khi đương đầu với đối phương. Một phần thưởng có phần phong phú hơn luôn chờ liên minh những con đực thành công: những con cái trẻ của nhóm bị đánh bại gia nhập hàng ngũ những con chiến thắng.
Nếu chiến tranh là điều chúng ta thừa hưởng từ những kình nghịch giữa những nhóm linh trưởng đực để dành những linh trưởng cái, với lãnh địa chỉ là một phương tiện dẫn đến cứu cánh là tính dục, ta có thể bảo rằng các bộ tộc gây chiến với nhau nhằm dành phụ nữ chớ chẳng phải nhằm dành lãnh thổ. Trong một thời gian dài những nhà nhân chủng đã nhấn mạnh là người ta lâm chiến với nhau nhằm dành tài nguyên khan hiếm, đặc biệt là việc khan hiếm chất protein. Vì vậy khi Napoleon Chagnon, người được huấn luyện theo truyền thống này, khi tơí Venezuela nghiên cứu bộ lạc Yanomano vào những năm 1960, ông ta đã bị cú ‘xốc’: “ Những người này không đánh nhau vì những điều mà tôi đã được huấn luyện trước đây – tranh dành tài nguyên khan hiếm. Họ đánh nhau vì dành phụ nữ.” Hay ít nhất là theo như họ cho biết. Trong ngành nhân chủng học có một truyền thống là bạn không nên tin những gì người ta kể cho bạn nghe, vì vậy Chagnon đã bị cười nhạo vì đã tin người. Hay như lời ông ta: “ Bạn được phép công nhận dạ dầy là nguyên nhân của chiến tranh, nhưng bạn không được quyền xem bộ phận sinh dục là nguyên nhân ấy.” Chagnon đã quay trở lại vùng này nhiều lần và đã tích lũy một khối lượng dữ kiện đáng nể chứng tỏ hiển nhiên là những gã đàn ông giết những đàn ông khác là những kẻ có nhiều vợ hơn, và là những kẻ độc lập về vị trí xã hội, hơn là những người không phải là những kẻ sát nhân.
Trong bộ tộc Yanomano, chiến tranh và bạo lực tiên khởi là do dành tính dục (sex). Chiến tranh giữa hai làng lân cận bùng nổ khi một phụ nữ bị bắt cóc để trả đũa một cuộc tấn công mà nguyên do cũng là một vụ bắt cóc phụ nữ của phe kia. Bạo động ngay trong một làng cũng thường bắt nguồn từ ghen tuông; một làng quá nhỏ thường bị đánh cướp phụ nữ, nhưng một làng quá lớn thường là do ngoại tình mà bạo động bùng ra. Phụ nữ là nguyên nhân thông thường và là phần thưởng của bạo động nơi bọn đàn ông trong bộ tộc Yanomano, và chết chóc thường xảy ra. Ở vào độ tuổi bốn mươi, hai phần ba số dân trong bộ tộc đã mất những người thân vì bị thảm sát. Đối với những người Yanamono dời khỏi khu rừng sinh sống của họ, sống trong xã hội có luật pháp ngăn ngừa việc giết người kinh niên là điều kỳ diệu và là thèm muốn của họ. Cũng như thế, người Hy Lạp đã thích thú nhớ lại việc thay thế hận thù bằng luật pháp, đánh dấu bằng huyền thoại phiên xử Orestes. Theo Aeschylus, Orestes đã giết Clytemnestra vì đã giết Agamennon, nhưng đám đông nổi giận đã được Athena thuyết phục bằng phán quyết của toà án và chấm dứt hệ thống đẫm máu các hận thù truyền kiếp. Thomas Hobbes đã không cường điệu khi ông lập danh sách những đặc điểm nổi bật của nhân loại thời sơ khai “ mối nguy hiểm và lo sợ thường trực về cái chết tàn khốc”; dù rằng ông không đúng lắm trong phần thứ nhì khá quen thuộc của câu nói:“ và đời sống của đàn ông, đơn chiếc, nghèo nàn, hung hiểm, thô bạo, và ngắn.”
Bây giờ Chagnon tin rằng sự khôn ngoan như ước định ta hằng thấy là người ta chỉ đánh nhau để dành những nguyên liệu hiếm hoi là trật đường. Nếu tài nguyên khan hiếm, họ dành dật tài nguyên. Nếu không, sẽ không có chuyện dành dật đó. “ Vậy tại sao ta phải lấn cấn về chuyện dành nhau ‘gạo’ ( mangango nuts) trong khi vấn đề có ‘gạo’ là có phụ nữ. Sao không là đánh nhau dành phụ nữ nhỉ ?” Ông ta tin rằng phần lớn những xã hội loài người chưa hoàn toàn kiệt quệ về tài nguyên. Bộ tộc Yanomano có thể dễ dàng khai quang rừng để có đất trồng cây chuối già (plaintain), và có thể là họ sẽ có dư thừa thức ăn.
Không có gì đặc biệt lạ lùng về bộ tộc Yanomano cả. Tất cả những nghiên cứu về những xã hội trước khi có chữ viết đều cho thấy mức độ bạo lực hoành hành rất cao trước khi những chánh phủ mang tính chất quốc gia áp đặt luật lệ lên chúng. Một nghiên cứu cho thấy một ước lượng khoảng một phần tư tổng số đàn ông đã bị giết bởi những đàn ông khác trong những xã hội ấy. Về động lực gây tội ác, tính dục là nguyên nhân chủ yếu.
Một huyền thoại căn bản của văn hoá tây phương, thiên hùng ca Iliad của Homer là câu chuyện khởi đầu một cuộc chiến do việc bắt cóc một phụ nữ là Helen ( Helen-thành-Troy). Các sử gia đã từ lâu xem việc Helen-thành-Troy bị bắt cóc không gì hơn là cớ tranh chấp lãnh thổ giữa người Hy Lạp và dân thành Trojan. Nhưng liệu ta có thể chỉ tin theo như vậy chăng? Có thể là bộ tộc Yanomano đã thật sự tranh chiến vì phụ nữ như họ cho biết như thế. Và có lẽ những người Hy Lạp của Agamemnon cũng đã làm như vậy theo chuyện kể của Homer. Thiên Iliad đã mở đầu và ngự trị bằng cuộc tranh dành giữa Achilles và Agamemnon, mà nguyên nhân là Agamemnon khăng khăng đòi tịch biên một tì thiếp, Briseis, của Achilles để đổi lại việc trả lại người thiếp của Achilles, Chryseis, cho người cha-tư tế (priest-father) của nàng là người đã nhờ Apollo trợ giúp chống lại người Hy Lạp. Sự rạn nứt trong nội bộ vì tranh chấp phụ nữ đã khiến người Hy Lạp xém thua trận chiến, mà trận chiến ấy cũng bắt nguồn từ tranh dành phụ nữ.
Trong những xã hội tiền nông nghiệp, bạo lực thường là con đường dẫn đến thành công tính dục, đặc biệt trong những giai đoạn xáo trộn. Trong nhiều nền văn hoá khác nhau chiến lợi phẩm trong chiến tranh thường là phụ nữ hơn là nam giới. Nhưng tiếng vang còn dội đến thời cận đại. Hiếp dâm là một động lực mà chiến thắng có thể đem lại ( chú của người viết bài này: bạn đọc có thể thấy những hình ảnh hiếp dâm tàn bạo, dã man khi đọc ‘ Candide’ của Voltaire). Các viên tướng, tuy nhận thức được việc này, nhưng thường nhắm mắt bỏ qua cho những hành vi quá đáng của các binh đội. Ngay trong thế kỷ này, lai vãng những khu gái điếm ít nhiều được xem là mục đích được thừa nhận trong nhiều đội hải quân khi lên bờ. Và hiếp dâm kèm theo chiến tranh vẫn còn. Ở Bangladesh trong chín tháng chiếm đóng của quân đội Miền Tây Pakistan vào năm 1971, có đến 400,000 phụ nữ có lẽ đã bị binh lính hiếp. Ở Bosnia vào năm 1992 những báo cáo về những trại dùng vào chuyện hiếp dâm cho binh lính Serbia đã quá thường đến độ không cần biết tới nữa. Don Brown một nhà nhân chủng học ở Santa Barbara đã nhớ lại những ngày trong quân đội: “ Người ta nói chuyện tính dục (sex) ngày, đêm; họ không khi nào nói chuyện quyền hành.”

Những Nhà Dân Chủ Đơn Thê

Như vậy ta thấy bản chất của đàn ông là khuynh hướng đa thê khi cơ hội tới, và họ dùng của cải, quyền lực, cùng bạo lực như phương tiện dẫn đến những cứu cánh trên trong những ganh đua với những đàn ông khác; thông thường họ không hy sinh mối quan hệ đơn thê ( với người vợ chính thức) đã được củng cố của họ. Nó mô tả một bản chất có phần ngả theo những khuynh hướng đạo đức hiện đại: đơn thê, trung thành, bình đẳng, công chính, và không bị bạo lực chế ngự. Nhưng nhà nhân chủng học chỉ làm công việc mô tả, chứ không đề ra các mẫu mực. Mà bản chất con người là điều khó tránh.
Ngoài ra lịch sử dài dặc về chế độ đa thê nơi giống người, bắt đầu ở Babylon cách nay khoảng bốn ngàn năm trước, hầu như đã chấm dứt ở Phương Tây. Tuy thế, những tì thiếp chính thức đã biến thành những người tình không chính danh, và những người tình ấy luôn phải dấu không cho những bà vợ chính thức biết. Vào năm 1988, quyền lực chính trị khó có thể là một giấy phép dành cho người ta quyền đa thê, khiến người ta lâm vào cảnh ngặt nghèo bởi bất cứ sự bất trung nào. Hoàng đế trung hoa xưa giữ hàng ngàn tì thiếp trong cung không sao, nhưng Gary Hart ra tranh cử tổng thống của một quốc gia hùng cường nhất trên hành tinh này khó lòng trót lọt nếu hai vợ.
Sao lại có chuyện kỳ cục này? Có phải là nhờ Thiên Chúa Giáo chăng? Khó lòng khẳng định như vậy được. Giáo hội đã tồn tại song hành với những chế độ đa thê hàng nhiều thế kỷ, và nói một cách chua chát thì những trói buộc của giáo hội cũng do quyền lợi của giáo hội như của bất cứ một người thường nào. Hay là do nữ quyền? Nữ quyền mới xuất hiện trễ tràng sau này. Không sử gia nào có thể giải thích điều gì đã thay đổi như thế, nhưng đoán rằng những ông vua đến lúc cần có những liên minh nội bộ đủ để buộc họ phải từ bỏ quyền lực chuyên chế. Và dân chủ xem như một phương cách hỗ trợ ấy đã nảy sinh. Một khi những người đàn ông đơn thê có quyền bầu phiếu chống lại những kẻ đa thê, số phận của những kẻ đa thê đã được định đoạt.
Quyền chuyên chế, đến cùng với văn minh nhân loại, đã tàn lụi. Giai đoạn lịch sử dài đằng đẵng này kể như là giai đoạn trật đường trong lịch sử nhân loại. Trước khi có “ văn minh” ( civilization) và kể từ khi có dân chủ, con người đã không thể tích lũy quyền lực khiến những kẻ thành công nhất trong họ thành những kẻ chuyên chế tằng tịu bừa bãi. Điều tốt nhất mà họ có thể trông đợi vào thời kỳ Pleistocene* là một hoặc hai bà vợ trung thành và thêm vào đó vài mối gian díu nếu khả năng săn bắn hoặc chính trị của họ lớn lao một cách đặc biệt. Điều tốt nhất họ có thể hy vọng vào thời buổi chúng ta hiện nay là một người tình trẻ trung và dễ coi hơn cùng với bà vợ tận tụy mà người ta tìm cách thay thế sau mỗi chục năm sinh sống. Về bản chất xem ra ta chẳng khác những thời xa xưa là mấy.

Ghi chú :

Đây là bài viết (trích một phần) phỏng theo tác phẩm “ The Red Queen – Sex and the Evolution of Human Nature”. Tác giả Matt Ridley một nhà động vật học người Anh theo thuyết tiến hoá. Chắc chắn sẽ có một số người trong giới nghiên cứu khoa học không đồng tình với lối diễn giải của ông về động thái con người liên quan đến tính dục. Tuy thế tác giả đã dẫn chúng ta qua một cuộc hành trình dài dặc từ thuở con người hình thành các bộ tộc, qua các chế độ chuyên đoán của các vua chúa, cho đến ngày nay và cũng giúp cho ta thấy một lối nhìn về bản chất của giống người. Bài này nằm trong một số bài nhằm giới thiệu đến bạn đọc những tìm tòi trong khoảng thời gian một, hai chục năm trở lại đây về động thái con người của một số những nhà nghiên cứu thuộc những trường đại học lớn ở Anh, Mỹ.

Thảo luận cho bài: "Bản chất đàn ông"