BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN-Đánh kho bom Phú Thọ Hòa

Tác giả:

03 giờ 45 phút sáng ngày 01-06-1954, mọi người còn đang yên giấc, bỗng một tiếng nổ long trời làm rung chuyển cả thành phố Sài Gòn và vùng phụ cận. Những ngôi nhà gần khu vực kho bom Phú Thọ Hòa cửa kính vỡ tung, đồ đạc nghiêng ngả. Lửa bốc dậy đỏ trời, đứng xa hàng chục cây số vẫn nhìn thấy. Những tiếng nổ dữ dội nối tiếp nhau kéo dài suốt hai ngày đêm.

Trận đánh đã giáng thêm một đòn sấm sét vào thực dân Pháp ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Lực lượng vũ trang Sài Gòn – Gia Định hợp đồng với các đơn vị ở chiến trường Điện Biên Phủ nhằm đánh bại thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và Đông Dương.

Tạp chí “Đại học quân sự ngày nay” của Mỹ, số tết 1962, đã ghi: đây là một trong các trận đánh lớn làm thay đổi so sánh lực lượng, là một trận đau nhất… cho giới quân sự Pháp…

Hai người góp phần chủ yếu làm nên chiến công vang dội đó là Bùi Văn Ba và Phạm Văn Hai (Phạm Văn Hai sau này còn lập thêm nhiều chiến công xuất sắc nữa và đã hy sinh tại chiến trường Củ Chi năm 1966. Ở TP. HCM bây giờ có con đường mang tên anh), những chiến sĩ đặc công của tiểu đoàn Quyết Tử 950 thuộc đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Hai người đều được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng Bùi Văn Ba kể về trận đánh như sau:

…Dạo đó, sau trận ta tập kích vào câu lạc bộ sĩ quan không quân Pháp ở đường Mác-ma-hông ít lâu, chúng tôi lại được giao nhiệm vụ mới: tấn công vào kho dự trữ chiến lược của địch trong nội thành. Cụ thể là phải đánh vào kho bom Phú Thọ Hòa, một trong những “dạ dày chiến tranh” quan trọng và lớn nhất của giặc Pháp ở miền nam. Khí thể đơn vị đang lên nên khi nghe nói đến chiến đấu ai cũng phấn khởi. Lúc này quân và dân ta đang phản công địch trên khắp các mặt trận, quyết tâm giành thắng lợi to lớn và quyết định cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trong trận đánh kho bom Phú Thọ Hòa, để thực hiện công việc cuối cùng là đưa chất nổ vào kho bom, đơn vị Quyết Tử của chúng tôi đã phải chuẩn bị gần hai năm trời. Suốt quãng thời gian đó đã có những khó khăn không lường trước được. Công tác điều nghiên là vô cùng quan trọng nên phải làm hết sức công phu. Nó chiếm gần như gần trọn quãng thời gian cần thiết cho trận đánh còn việc chiến đấu thực ra chỉ có mấy giờ đồng hồ, kể cả thời gian hành quân chiếm lĩnh trận địa, tiếp cận địch, đặt trái, gài mìn… Đại đội đã đưa đồng chí Nguyễn Văn Lém (sau này chính là đồng chí Bảy Lớp đã bị tướng ngụy Nguyễn Ngọc Loan dùng súng côn ru-lô bắn chết hồi tết Mậu Thân 1968) bí mật vào làm phu khuân vác trong kho bom. Sau đó đồng chí Nguyễn Văn Oanh, con ruột đại đội trưởng Nguyễn Văn Cự (Ba Huỳnh) lại được “cấy” thêm vào để trinh sát công khai, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trinh sát bí mật tiếp theo. Công phu phải mất hai năm trời, kể từ sau trận đánh lần thứ nhất ngày 31-08-1952 cũng vào kho bom này cho đến trận tấn công quy mô lớn hơn vào 01-06-1954 nhằm phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ.

Tổ điều nghiên bí mật để chuẩn bị mở đường vào đánh kho bom Phú Thọ Hòa lần này gồm 4 anh em: tôi, Phạm Văn Hai, Nguyễn Văn Cứng và Tạ Minh Dục. Trong tổ, tôi không phải là người thành phố nên không thông thuộc trong thành, giống như chim trích vô rừng vậy. Còn Hai, Cứng và Dục đều là thổ địa của Sài Gòn từ lâu rồi. Cứng là đồng chí tổ trưởng của tôi, đã chỉ huy trận tấn công câu lạc bộ sĩ quan Pháp ở đường Mác-ma-hông hồi tháng 9-1952. Trong số anh em này, tôi xin nói kỹ về anh Phạm Văn Hai. Anh Hai quê ở Bà Quẹo, gia đình rất nghèo nhưng anh có chí từ lúc còn nhỏ. Anh hiền lành nhưng rất dũng cảm và kiên quyết, khi đánh giặc, dù gian khổ, cực nhọc đến mấy cũng không bao giờ lùi bước. Tôi cảm phục anh ở nhiều điểm và anh có một câu chuyện làm tôi xúc động.

Lần ấy đang trong một chiến dịch quan trọng thì anh được tin mẹ bệnh sắp chết. Vì nhiệm vụ anh không về nhà thăm mẹ được. Hôm đi công tác qua nhà thì mẹ anh đã mất. Quan tài còn quàn ở đó với khói nhang (hương) nghi ngút, anh định vào viếng và đốt nhang cho mẹ lần cuối cùng nhưng nghĩ tới công tác điều nghiên sẽ bị lộ, anh gạt nước mắt thầm từ giã mẹ, tiếp tục đi làm nhiệm vụ.

Chúng tôi nhận lệnh trực tiếp của đơn vị và lên đường nghiên cứu mục tiêu. Tôi làm tổ trưởng tổ điều nghiên. Xuất phát từ căn cứ của quân khu, sau hai ngày đêm vất vả hành quân vượt qua tám con sông, rạch lớn và nhiều con lộ (đường lớn) nguy hiểm do địch kiểm soát, chúng tôi đã đến được cơ sở. Đang chiến đấu ngoài chiến khu thoải mái, nay chúng tôi phải chấp nhận cuộc sống kham khổ, khắt khe, gò bó ở vùng địch. Ban ngày, tất cả đều phải xuống hầm bí mật ngồi co lưng lại như con tôm, ăn cơm nắm, uống nước chai, chờ cho trời tối mới lên đi điều nghiên.

Để bảo vệ an toàn cho kho bom, địch cho lính đi lùng sục, càn quét liên tục trong vùng dân cư, kết hợp với bọn mật vụ, thám báo đánh phá ta. Tuy gian khổ và căng thẳng như vậy nhưng anh em chúng tôi vẫn giữ vững ý chí , quyết tâm chiến đấu. Chúng tôi bàn với nhau nếm chẳng may bị địch xăm được hầm bí mật thì tốc lên chiến đấu sinh tử với chúng, quyết giữ bí mật cho ý đồ tác chiến để mục tiêu kho bom không bị lộ. Hàng ngày tổ vừa điều tra nắm tình hình địch vừa gây thêm cơ sở trong dân. Cho đến giữa năm 1953, chúng tôi đã có trong tay sơ đồ và các số liệu khá cụ thể về kho bom Phú Thọ Hòa.

Kho này nằm ẩn kín trng vườn cao su Bà Quẹo, gần ngã tư Bảy Hiền bây giờ. Hay đúng hơn, kho bom là cánh rừng cao su được bao bọc bằng những vòng rào kẽm gai. Lúc đó từ Bà Quẹo tới mí rừng cao su còn trống trơn chưa có phố sá, nhà cửa, có thể nhìn thông thống ra phía ngoại ô. Khu kho bom hình bầu dục, dài 2km, rộng 1,5km, được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt. Từ ngoài vao tới trong, lần lượt có 12 lớp rào kẽm gai, Lớp rào ngoài cùng, cứ 25m lại có một trụ đèn, ánh sáng điện sáng lòa ban đêm. Cứ cách hàng rào 100m, địch bố trí một lô cốt hoặc tháp canh. Bên ngoài hàng rào là đường xe tuần tiễu, bên trong là đường mương rộng chừng 5m nhưng không sâu lắm. Giữa các lớp rào, chúng gài dày đặc hàng nghìn quả mìn chống đặc công ta xâm nhập. Giữa kho có một đường ray xe lửa nối liền các kho chuyên chở bom đạn, vật liệu ra vào. Công việc canh gác ở đây do một đại đội lính “mặt gạch” (tức lính Âu Phi) đảm trách, hoàn toàn không có lẫn 1 lính ngụy nào. Phụ trợ với chúng là bọn chó bẹc-giê. Ngược lại, bên ngoài vòng rào, bọn Pháp bố trí khoảng hai tiểu đoàn lính ngụy thay phiên nhau đi càn và phục kích những nơi chúng nghi ngờ.

 

Địch thực hiện chế độ tuần tra ban đêm rất nghiêm bằng ba kíp. Kíp thứ nhất là bộ binh từ ba đến năm tên phối hợp với chó bẹc-giê. Kíp thứ hai là các xe bọc thép có gắn đèn pha ở bốn góc, khi chạy, đèn bật sáng rọi ra tứ phía. Kíp thứ ba là mô tô ba bánh, mỗi tốp hai chiếc. Cứ nửa giờ chúng thay kíp một lần, toán nọ đổi sang toán kia cho đến hết đêm. Hàng đêm chúng đi tuần rất đúng giờ, không khi nào chểnh mảng. Tuy thế, bọn địch ở đâu cũng giống nhau: “vỏ cứng, ruột mềm”. Tức là bên ngoài thì bảo vệ rất dữ nhưng bên trong đều có những sơ hở. Đây là một điểm yếu của địch mà đặc công ta thường lợi dụng khai thác triệt để để trinh sát và tác chiến.

Sau khi “đứng chân” bám trụ vững vàng, tổ điều nghiên tiến hành đột nhập khu kho để nắm tình hình. Đêm thứ nhất, tôi và Phạm Văn Hai bò dưới ánh đèn pha chói chang, vào bên trong kho điều tra quy luật tuần tiễu và bố phòng của địch. Có một vấn đề làm chúng tôi chú ý là sau khi đã vượt qua được tuyền đèn, lọt vào trong chu vi thì rất thuận lợi. Những bóng cây cao su đổ dài, bóng nọ chồng lên bóng kia tầng tầng, lớp lớp nên càng xa tuyến đèn, không gian càng tối sầm lại rất dễ hoạt động. Trong những lô cao su, ở dưới các đường mương, thỉnh thoảng lại có những ống cống. Đang đi, nếu bất chợt gặp xe tuần tiễu của địch thì nhanh chóng chui xuống cống nấp. Chúng đi qua mình lại lên đi tiếp. Gặp chó thì không thể làm thế được. Chúng tôi leo tót lên cây, cho đi dưới đất không đánh hơi được… Hầu như mọi khó khăn đều tập trung ở giai đoạn khắc phục chướng ngại. Không những phải tránh đèn, tránh lính, tránh chó mà con phải bảo đảm khi đi qua không để lại dấu vết gì. Bởi vì nếu mình sơ suất, địch có thể phát hiện được và báo động cho lính bao vây toàn khu kho thì rất nguy hiểm. Do thế, khi đã lọt qua 12 lớp rào thì có thể đi “xổng lưng” thoái mái nếu quãng ấy không có lính đi tuần tra.

Nhưng dù sao thì bọn chó bẹc-giê cũng rất nguy hiểm. Những ngày đầu đi điều nghiên, khó khăn nhất là đối phó với chúng. Những con chó cao lớn không những cắn chết người mà còn đánh hơi rất tài. Ta thi không thể khi nào cũng làm cái bài leo cây được. Đơn vị tìm mọi cách khắc phục trở ngại này. Cuối cùng cũng tìm ra. Cũng đơn giản thôi. Mỗi tối trước khi vào khu kho trinh sát, mọi người đều tắm xà bông thơm, hàng ngày quần áo cũng giặt bằng xà bông thơm. Khi đột nhập vào kho, bọn chó ngửi mùi tưởng lầm là chủ của nó nên không khịt mũi, húng hắng gì mà bỏ đi luôn.

Kho dự trữ chiến tranh của giặc Pháp ở đây đồ sộ. Khoảng 40 dãy nhà kho nối liền, chất đầy những bom, đạn pháo, đạn cối, xăng dầu, nhớt và bao nhiêu là phương tiện chiến tranh khác. Bom chúng để trần, xếp thành đống trên mặt đất còn các loại đạn thì để dưới hầm. Nhà kho có những của đóng và thanh sắt cài ngang. Chỉ cần lắc nhẹ mấy cái là có thể kéo cây sắt ra được. Tổ điều nghiên ngoài việc trinh sát thực địa, nắm quy luật hoạt động của địch và cấu trúc của các khu kho còn có nhiệm vụ phải nắm được toàn bộ số lượng bom đạn, nhiên liệu… Đặc biệt, phải nắm được ký hiệu của từng loại vũ khi để cho công binh xưởng nghiên cứu. Nhưng ngặt một điều là anh em trong tổ đều không biết chữ tây. Anh nào cũng con nhà nghèo, thất học từ nhỏ. Anh Phạm Văn Hai hồi giờ ở chung đơn vị với tôi cũng không đọc được chữ tây. Chúng tôi phần nhiều là đi ở đợ, làm mướn rồi đi tham gia cách mạng. Tuy vậy khó khăn này cũng vượt qua được chỉ có thêm vất vả và công phu hơn một ít. Khi vào điều tra, mỗi người đem theo một quyển sổ con, một mẩu bút chì, một chiếc đèn pin vuông, mặt kính được bịt bằng miếng giấy đã dùi thủng một lỗ nhỏ ở chính giữa bằng đầu đũa để khi rọi ánh sáng không loang rộng, chỉ đủ để cho mình thấy được. Mỗi đêm, khi đột nhập vào khu kho, một anh đứng ngoài canh chừng tụi lính, ba người còn lại vào trong, người rọi đèn, người ghi lại đúng y như chữ in trên những trái bom, trên thùng đạn, thùng xăng…. làm đúng như mệnh lệnh đã giao cho “tai nghe, mắt thấy, tay sờ”. Công việc ghi chép này được đồng chí Tạ Minh Dục, người có trình độ văn hóa cao nhất trong bốn anh em chúng tôi, đảm nhiệm.

Vào kho đạn pháo thì chúng tôi khui từng thùng ra đếm có bao nhiêu hộp đựng ngòi nổ, sẽ tính được bao nhiêu trái, ghi số hiệu xong, đóng lại như cũ. Kho bom thì chỉ cần đo chiều dài, chiều ngang, chiều cao có bao nhiêu trái, về nhà làm phép tính nhân là biết được số lượng của từng kho.

Nói thì đơn giản vậy nhưng khi thực hành là chuyện gian nan, vừa phải bí mật, vừa phải nhớ rành mạch để không trùng lẫn, ra khỏi kho không để lại dấu vết gì khiến địch nghi ngờ. Đã có lúc chúng tôi phải hồi hộp vì những diễn biến bất ngờ như có chó và lính tới…

Cũng do có tài liệu chính xác mà anh em công binh xưởng đã chế tạo ra những ngòi nổ thích hợp, bảo đảm làm số ngòi kích thích, phá hủy toàn bộ kho bom, đạn, xăng dầu sau này.

Cứ thế đêm này qua đêm khác, gần ba tháng trời kiên trì nghiên cứu, tổ đặc công chúng tôi đã nắm được toàn bộ tình hình kho bom Phú Thọ Hòa. Chúng tôi lên sơ đồ và kế hoạch tác chiến đưa về trên duyệt. Việc tấn công kho bom chỉ còn là thời gian. Mọi người trong đơn vị hăm hở chờ đợi Bộ chỉ huy Đặc khu quyết định ngày đánh.

Đang còn trong thời gian chờ đợi nôn nao như thế thì bất ngờ có tên C. ở đơn vị ra đầu hàng giặc. Cả đơn vị bàng hoàng tức giận, nhất là tổ điều nghiên chúng tôi. Công lao mấy tháng trời lặn lội gian khổ bây giờ đổ sông, đổ biển. Tên C, bỏ cách mạng sang đầu hàng địch với hai lý do: cuộc sống ở căn cứ cực khổ và bị hai người chị của hắn lấy chồng là hai tên mật thám cứ liên tục tác động, chiêu hồi. Từ lâu, sống trong hàng ngũ, hắn có bộc lộ sự dao động trước tình hình cuộc kháng chiến còn nhiều cam go. Nhưng không ai ngờ đến mức hắn có thể đi phản bội cách mạng. Sự việc đổ vỡ như vậy khiến cho đơn vị có một bài học cảnh giác sâu sắc.

Như chúnt tôi đã đoán trước, tên C. ra đầu hàng giặc đã gây nên những hậu quả vô cùng tai hại. Nuôi sằn lòng bất mãn bấy nay nên khi vừa bước sang phía bên kia, hắn liền tìm cách lập công. C khai với địch rằng “Việt Minh sắp phá hủy kho bom Phú Thọ Hoà”. Nghe thế, giặc hoảng hốt, tăng cường phòng thủ. Trước chỉ có hàng rào đơn, nay chúng đan thành hàng rào mắt cáo. Trước mỗi trụ điện chỉ có một bóng đèn phía trên, nay chúng gắn thêm một bóng phía dưới khiến hàng rào sáng choang như ban ngày. Việc tuần tra, canh gác cũng nghiêm ngặt hơn trước. Địch tung quân ra đánh phá cơ sở rất ác liệt nhằm quét sạch lực lượng cách mạng quanh vùng, tạo một vành đai an toàn cho kho bom. Điều nguy hiểm nhất là tên C trước ở trong cơ sở nhân dân, nay dẫn lính về, chỉ điểm, bắt bớ nhiều đồng bào làm cho bà con hoang mang, lo sợ, nghi ngờ lẫn nhau. Tình hình trở nên phức tạp nhiều bề. Hàng ngày, tên chiêu hồi tệ hại này đích thân dẫn bọn khét tiếng gian ác trong vùng đi bắt những người dân mà hắn biết mặt, làm một số cơ sở bị vỡ tung. Hắn còn đặt tụi lính đi mai phục đón lõng cán bộ ta ra vào hoạt động. Sự săn lùng ráo riết đó bước đầu gây tổn thất cho đơn vị Quyết Tử. Như trong một lần đưa anh em đi nghiên cứu tình hình bằng hình thức “hợp pháp” đại đội phó Phùng Minh Ký đã bị rơi vào tay địch, một đồng chí khác bị chúng bắn bị thương và bị bắt luôn.

Tình hình rất căng thẳng và bất lợi. Bộ chỉ huy Đặc khu lệnh tạm ngừng tấn công kho bom và cho rút lực lượng về căn cứ, trước mắt là tránh tổn thất, sau nữa là đánh lạc hướng địch. Thời gian này đồng chí Nguyễn Văn Lưu rồi sau đó thêm Nguyễn Văn Oanh được bí mật cài vào kho bom giặc dưới bình phong là hai “cu ly” khuân vác.

Thời gian chờ đợi kéo dài đến hết năm 1953. Suốt thời gian đó, đơn vị vừa tác chiến vừa xây dựng lực lượng. Bên cạnh đó, vấn đề “thực túc binh cường” vẫn rất quan trọng. Đúng như lời bài hát thời đó mà ai cũng thuộc lòng “nếu đánh giặc mà không tăng gia, lấy gì nuôi quân đánh giặc…” Đơn vị mua được một cặp trâu. Tôi và Phạm Văn Hai, ngoài giờ đi chiến đấu về còn phụ với anh em sản xuất được ba mẫu lúa. Năm đó trúng mùa, lúa ăn mãi tới ngày đình chiến, đi tập kết vẫn còn…Nói chuyện này tôi lại nhớ trước đó, nằm 1952, sau trận bão lụt lớn, không có trâu bò, đơn vị ai nấy đều phải kéo cày thay trâu làm ruộng…

Chờ đợi và tập luyện, tập luện và chờ đợi. Anh em trong tổ điều nghiên nghe lòng ray rứt hoài bởi thấy mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Ai cũng nôn nao mong tới ngày được chiến đấu lập công. Phần nữa, xa đồng bào lâu cũng thấy nhớ. Kỷ niệm của những ngày điều nghiên được các má, các cô chú, các anh chị che chở, dùm bọc, giúp đỡ, coi như ruột thịt trong nhà…. cứ làm mọi người bâng khuâng xúc động. Những cơ sở cách mạng ngay trong lòng dân đã tiếp cho chúng tôi sức mạnh thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

… Đầu năm 1954, không khí khác hẳn. Những trận đánh lại rộ lên. Cơ sở cho biết tình hình kho bom Phú Thọ Hòa địch có phần lơi lỏng. Có lẽ chúng phòng bị chặt chẽ quá nhưng mãi không thấy đối phương hành động nên có phần mỏi mệt, chểnh mảng dần? Vừa lúc đó, trên chỉ thị tiếp tục nghiên cứu mục tiêu để đánh. Chúng tôi phấn khởi lắm vì dù sao thì đường đi lối lại đã nắm được. Mọi chi tiết của mục tiêu hầu như còn y nguyên trong trí nhớ.

Tổ điều nghiên trở lại bám cơ sở. Lần này có thêm vài đồng chí mới. Tổ chúng tôi vẫn được giao nhiệm vụ điều nghiên bí mật. Còn tổ của hai đồng chí Phạm Duy Thanh và Nguyễn Văn Cứng chịu trách nhiệm bám lấy tin tức từ hai chiến đấu viên đã được cấy vào kho giặc. Hai đồng chí này đã nhận được bản vẽ toàn bộ đường đi nước bước, hầm hố, nhà kho trong khu vực kho bom, phục vụ sau này cho công việc bí mật xác minh, chuẩn bị sẵn hai đường mở cửa đột nhập đánh địch… Điều khó khăn mà chúng tôi dự kiến đã xảy ra. Dân vẫn còn lo ngại, không còn mạnh dạn như trước. Họ e ngại lại có một vụ như tên C hồi năm ngoái. Nhưng không ai tỏ ra nản chí bởi biết rõ là địch có thể đánh pháp, triệt hạ xóm làng nhưng lòng dân thì không bao giờ triệt phá nổi. Chúng tôi lại đào hầm bí mật, vận động nhân dân xây dựng lại cơ sở từ đầu. Những người dân nhiệt tình với cách mạng và luôn nung nấu mối căm thù giặc có bao giờ họ bỏ chúng tôi. Tổ điều nghiên thực hiện công tác dân vận rất tốt nên đồng bào càng thương mến, giúp đỡ nhiều hơn.

Tuy thế những khó khăn đột biến chưa phải đã hết. Một hôm, đang ngồi trong nhà cơ sở, bỗng tiếng súng vang lên. Biết là địch vây ráp, tôi và Hai băng cửa sau ra hầm. Ngồi thu lu trong lòng đất rồi mà trống ngực vẫn còn gõ thình thịch. Tôi lo là lại có điều xui xẻo vì địch đánh rất bất ngờ. Chờ cho địch rút ra, chiều tối chúng tôi lên khỏi hầm thăm dò bà con mới biết đồng chí Thanh đã hi sinh trước khi xuống được hầm bí mật. Bị bắn gãy chân, trước lúc sa vào tay giặc, Phạm Văn Thanh đã kịp trao lại cho Nguyễn Văn Cứng chiếc đèn pin hộp “winter”, trong đó có bản sơ đồ kho bom Phú Thọ Hòa do Bảy Lưu và Oanh trao cho, để mang về trao tận tay cho các anh Bảy Ý, Ba Huỳnh. Thanh không chịu để cho Cứng cõng chạy mà giục Cứng “Ban ngày, vùng yếu, mặc tôi đồng chí thoát đi để bảo vệ bí mật sơ đồ trận đánh”… Thanh bị bắt, nhổ vào mặt giặc và bị chúng bắn chết tại chỗ trên cánh đồng lúa ngoại thành. Sau đó không lâu lại xảy ra một vụ tương tự. Khó khăn chồng chất lên khó khăn. Vùa đi nắm tình hình chưa được bao lâu đã hai lần bị đổ bể. “Nhất quá tam”, tôi và Hai, Dục họp nhau xây dựng lại kế hoạch và quyết tâm đánh cho bằng được.

Tổ điều nghiên lại đột nhập vào kho. Dạo này địch tuần tra chặt hơn, cứ 15 phút một lần chứ không phải 30 phút như trước nữa. Chờ hết trăng, chúng tôi vượt các vòng rào tiếp cận kho. Tới nơi thì chưng hửng. Anh nào anh nấy giật mình toát mồ hồi. Những kho bom, đạn đầy ứ đã bay đi đằng nào chỉ còn trơ ra những gian kho trống hoác. Anh Hai nói vẻ lo lắng:

  • Chắc là bị lộ. Địch đánh hơi được tụi mình nên chúng bốc đi hết rồi chăng?

Đêm đầu tiên, không ai bàn gì thêm, chỉ thở dài, quay ra với nỗi thất vọng đè nặng trong lòng. Vừa đi tôi vừa nghĩ: không lẽ chúng bỏ cái căn cứ mà suốt bao nhiêu năm chúng đổ dồn không biết bao nhiêu công sức, tiền của để xây dựng. Không có cái dạ dày chiến tranh này thì bọn giặc trên chiến trường nam bộ lấy gì đánh nhau với Việt Minh? Điều vô lý này làm cho tôi cứ băn khoăn, vẫn ngờ vực vào một cái gì đó về thủ đoạn của địch. Nhất định địch sẽ đưa bom đạn trở lại.

Chúng tôi cũng yên lặng nhưng kiên trì bám lấy mục tiêu. Và sự nhẫn nại đó quả không uổng. Một tháng sau trở vào, cả mấy anh em vui mừng đến sửng sốt. Các kho bom, đạn lại đầy ắp như từ đâu mọc ra, có phần nhiều hơn trước. Lại có thêm một bãi xăng đặc gồm la liệt những bồn xăng năm ngất nghểu. Cánh “họ hàng nhà vạc” chúng tôi lại mò mẫm rọi đèn ghi chép từng dòng chữ lằng nhằng rắc rối vào sổ rồi đo chiều dài, rộng, cao của từng dãy kho riêng biệt. Thận trọng hơn, chúng tôi còn gõ vào từng thùng xong xem thử có xăng không. Các gõ của đặc công thì địch không thể nghe được.

Thời gian đã rất khẩn trương. Lúc này chiến dịch Điện Biên Phủ đang diễn ra sôi động. Quân ta đang thắt chặt vòng vây từng ngày. Tin chiến thắng bay về liên tiếp làm mọi người càng phấn khởi, tin tưởng. Đồng chí tổ trưởng trở về căn cứ báo cáo tình hình, Bộ chỉ huy Đặc khu chỉ thị đánh kho bom để hợp đồng với chiến trường Điện Biên Phủ và hỗ trợ cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta trên bàn hội nghị Giơ-ne -vơ.

Tôi và anh Hai trở vào kho nắm địch. Có thể nói đây là những lần điều nghiên cuối cùng rất quan trọng. Đểm đảm bảo bí mật tuyệt đối, chúng tôi ém lại ở các hầm và đi lại, ăn ở hết sức thận trọng. Ban ngày ở dưới hầm bí mật của các cơ sở, đêm mới lên đi trinh sát. Cả tháng không biết mặt trời là gì. Người nhà các cơ sở cũng bảo vệ, chăm sóc chúng tôi chu đáo. Họ luôn chia sẻ niềm vui cũng như nỗi lo âu của chúng tôi mỗi khi đi, về. Ở căn cứ, các đồng chí công binh xưởng cũng đã chuẩn bị vũ khí sẵn sàng.

Tôi nhớ đúng vào giữa tháng 5, tổ điều nghiên đưa đại đội trưởng Ba Huỳnh vào khảo sát thực địa để dứt khoát báo cáo kế hoạch chiến đấu với cấp trên. Đêm đó, cả ba người đi vào suôn sẻ. Trong kho không có hiện tượng gì đột biến. Tôi phấn khởi quá, nói với anh Ba:

  • Có thể đề nghị cấp trên cho đánh gấp được rồi anh Ba.

  • Chúng mình mần ăn đến nưóc này chắc là không còn ăn hụt nữa đâu. Cấp trên cũng quyết tâm dứt điểm cái kho này.

Công việc chuẩn bị cho trận đánh được tiến hành thật khẩn trương. Trên bộ chỉ huy bổ sung thêm một tiểu đội được huấn luyện tỉ mỉ kiểu cách đánh, mà mãi đến khi bước chân về tới đơn vị anh em mới hiểu rõ mình được tham gia vào trận đánh kho bom Phú Thọ Hòa sắp tới. Tiểu đội này cộng với tổ điều nghiên nữa là 12 người. Anh Ba Huỳnh đại đội trưởng là chỉ huy chung. Anh Hai và tôi mỗi người phụ trách một tổ. Tổ của tôi có nhiệm vụ đánh kho bom. Tổ của anh Hai có nhiệm vụ đánh kho đạn và kho xăng, dầu. Số chiến đấu viên mới bổ sung phải được huấn luyện và thực tập trên mục tiêu vì họ chỉ quen đánh những mục tiêu ở ngoại thành, nông thôn còn trong nội thành thì hầu như chưa có kinh nghiệm. Tôi và anh Hai bỏ công sức khá nhiều chỉ vẽ cho anh em từng động tác, từ đi đứng đến ăn ở.

Đội còn đắp một sa bàn kho bom Phú Thọ Hòa giống như thật, trên đó thể hiện đầy đủ, chính xác từng chi tiết. Các mục tiêu trong kho được đánh dấu 1, 2, 3,… cho đến hết, trừ bãi xăng nhớt ra. Mỗi tổ, mỗi chiến đấu viên căn cứ vào những vị trí được phân công trên sa bàn mà nhập tâm, mà tập đánh và phối hợp với nhau cho thật nhuyễn. Tập trên sa bàn xong, tôi dẫn anh em ra tập ngoài thực địa. Công việc này có gây hứng thú nhưng cũng thật khổ luyện. Dưới trời nắng, mọi người nhễ nhại mồ hôi. Rồi những đêm trời tối mịt mù mỗi người tập ngụy trang, vượt rào, trườn, bò, bắt ám hiệu và tín hiệu… Quyết tâm của đội chúng tôi được biểu hiện ngay trong công tác chuẩn bị như thế.

Rồi công binh xưởng cho người chuyển vũ khí tới. Toàn bộ hầu như là những trái nổ nhiều loại, cỡ khác nhau. Loại 1kg, 1,5kg, 2,3kg, có loại nặng hơn. Không cần phải giải thích, chúng tôi hiểu ra là mỗi loại trái dùng để đánh từng mục tiêu khác nhau. Anh em công binh nghiên cứu thật tỉ mỉ, chu đáo… Ngay như chiếc túi để mang trái cũng rất khoa học. Nó có nhiều ngăn để dắt trái vào. Khi đeo trên lưng, buộc dây đai lại thì phẳng như chiếc ba lô, vận động qua những nơi khó khăn cũng không bị khua động. Nhưng khi cần đổi sang động tác xách thì nó gập lại như chiếc cặp, cái đai mang chính là quai xách.

Số vũ khí tự tạo này đều tra kíp hẹn giờ. Các trái đều mỏng vỏ, bên trong nhồi thuốc nổ mạnh, có sức công phá lớn. Kíp trái nổ đều thuộc loại kíp a-xít, nhỏ như cán bút. Khi gài trái xong, dùng kìm nhỏ bóp vỡ ống a-xít. A-xít sẽ nhỏ giọt từ từ cho đến khi ăn cháy miếng cạc-tông ngăn cách hạt nổ thì kích thích trái phát nổ. Theo quy định của kế hoạch trận đánh, tất cả các trái sẽ nổ sau hai giờ kể từ khi bóp kíp. Thời gian ấy đủ để các chiến đấu viên ra khỏi mục tiêu và rời xa cách đó mấy cây số. Toàn bộ số lượng vũ khí và kỹ thuật thiết kế, chế tạo đã được đồng chí chính trị viên đích thân lên Binh công xưởng cùng với ban giám đốc thực hiện, tự tay đánh mã số, ghi rõ cách sử dụng, phân loại, xếp đặt thứ tự cho từng chiếc ba lô, mất 3 tháng trời.

Đêm 30-05-1954, một đêm mùa khô đẹp trời, đội chúng tôi xuất phát. Các đồng chí chỉ huy đích thân đi kiểm tra trang bị của từng người một. Bầu trời Sài Gòn hằn lên một quầng sáng. Giờ này bọn xâm lược đang cầu nguyện một đêm yên lành “tai qua nạn khỏi”. Chúng chắc hẳn không ngờ cơn bão lửa trừng phạt sắp đổ xuống đầu. Chúng tôi về đến cơ sở ở Phú Lâm, trước kế hoạch một đêm. Thấy còn sớm, anh Ba Huỳnh họp đội, bàn:

-Còn thời gian, chúng ta vào đánh đêm nay luôn. Các đồng chí thấy thế nào?

Số anh em trẻ tỏ vẻ hăm hở, đồng ý đánh ngay. Nhưng anh Hai không nhất trí:

-Đánh không đúng theo kế hoạch, thắng thì không sao, nhưng nếu thất bại, đổ bể thì trách nhiệm thuộc về chúng ta. Lúc đó hậu quả sẽ không lường hết được.

Anh Hai nói có lý. Tôi phân tích thêm:

– Đồng chí Hai thận trọng như vậy là đúng. Theo ý tôi, ta nên đánh đúng kế hoạch đã được cấp trên thông qua. Bây giờ đã 10 giờ khuya, nếu vào thì ít ra là 4 giờ sáng mới bóp kíp xong. Trái nổ sau hai giờ, lúc đó là 6 giờ sáng, công nhân khuân vác và đồng bào bị địch tập trung đi làm phu trong kho hàng mấy trăm người sẽ bị thương vong hết. Mặt khác, đánh xong ta rút ra trễ, địch truy kích theo, ta sẽ không bảo tồn được lực lượng.

Tất cả đều nhất trí không đánh trong đêm ấy và phân tán thành từng bộ phận ém hầm bí mật tránh địch chờ tối hôm sau.

Đối với tôi, thêm một ngày co mình trong lòng đất chờ đợi nghe thời gian dài dằng dặc, thật nóng ruột hết sức. Hầm chứa người đông quá nên khi vừa ngả lưng thì mọi người muốn lả đi. Lo nhất là số chiến sĩ ở rừng về đây nằm hầm ẩm ướt, thiếu không khí nên có người lên cơn sốt rét, mặt mày tái xám. Tôi và Hai lo lắng thăm dò, thấy ai cũng đầy vẻ lạc quan. Tôi phấn khởi động viên thêm:

-Ta đã vất vả, gian khổ hành quân tới đây thì chỉ có đánh. Bộ chỉ huy đặt hết niềm tin vào chúng ta và đang mong tin chiến thắng. Chúng ta hãy xứng đáng là chiến sĩ của tiểu đoàn Quyết Tử 950.

Đêm sau, 12 người trong đội ngụy trang xong và xuất phát trong không khí im lặng vốn quen thuộc của chiến sĩ đặc công. Trời đêm tối như bưng là người bạn tốt bụng của chúng tôi. Sau khi vượt qua được hai con lộ, toàn đội tới sát chu vi kho bom. Anh em đang củng cố đội hình để chuẩn bị tiêm nhập thì bất chợt một chiếc xe GMC chở đầy lính ập đến. Tất cả chỉ còn kịp nằm rạp xuống mặt ruộng. Bọn lính trên xe nhảy xuống chạy rầm rập tỏa ra các ngả. Tôi lo đứng tim: chắc địch biết được kế hoạch của ta nên cho quân chặn đánh trước, làm sao bây giờ, nếu chúng phát hiện được thì chỉ còn cách nổ súng, kế hoạch trận đánh coi như tiêu tan. Bọn lính vẫn chạy loang loáng cách chỗ tôi nằm chừng mươi thước. Bỗng ào một cái, cả đám lính lại tập họp, nhảy lên xe. Ai nấy thở phào đứng dậy. Thì ra toán lính chết tiệt này đi tập ban đêm.

Toàn đội áp sát đường mương dọc theo bờ dứa dại. Vào mùa khô, lòng mương cạn, chỉ cần lách những chùm dứa dại, lội qua là đã tiếp cận được hàng rào. Nhưng chẳng may cho chúng tôi vì có một tên lính gác đang “gù” một gái điếm bên cạnh bờ. Hai đứa cứ tỉ tê trò chuyện không dứt ra được. Thế mới gay go. Chừng ấy con người trong đội qua lòng mương là lộ ngay. Một anh trong tổ sốt ruột hỏi chỉ huy:

-Giờ làm sao anh Ba?

Anh Ba Huỳnh ra giấu gọi anh Hai và tôi lại nói:

-Phải bắt gọn cả hai đứa chớ chờ chúng sao được, sắp trễ giờ rồi.

Tôi chưa trả lời, nghĩ bụng: nếu bắt chúng thì phải mất hai người canh giữ, vũ khí nặng nề thế này, ai sẽ mang vào… Chúng tôi đang tính như vậy thì vừa lúc thằng lính và cô gái đứng dậy, dắt nhau về. Lúc này đã 9 giờ đêm. Thời gian như người chạy thi đuổi theo chúng tôi sát nút.

Đội hình chiến đấu trong tổ có thay đổi. Tôi và đồng chí Trơn dẫn đầu hai mũi. Đồng chí chỉ huy trưởng đi giữa. Phạm Văn Hai đi sau cùng để xoá các dấu vết, nếu trường hợp bị lộ thì dẫn đường cho đơn vị rút lui vì anh rất rành đường trong nội thành.

Anh em trườn qua được chừng hai trăm mét, sắp vượt con lộ có bố trí tập trung những trụ đèn chùm rất sáng trước hàng rào thứ tư thì một toán lính tuần tra đi tới. Tôi liền tụt xuống đường mương và làm hiệu cho mọi người phía sau nằm rạp xuống. Những con chó bẹc-giê cao lồng ngồng đi trước bọn lính nhưng sao mãi không nghe chúng khịt mũi. Có lẽ sương đêm xuống dày làm cho chúng bớt nhạy cảm giác? Bởi thế nên có nhiều tên lính và chó đi lướt qua chỗ tôi nằm rồi đi luôn. Tôi nhỏm dậy thấy anh em còn nằm chờ đợi. Biết chắc là địch không thể phát hiện được, tôi ra dấu cho tất cả lao nhanh qua đường. Cứ thế, bằng kỹ thuật đặc công, chúng tôi qua khỏi 12 lớp rào đi vào trong lô cao su. Nhưng những bất trắc khác còn đeo đuổi riết như muốn thử thách mọi ngưởi. Một chiếc xe bọc sắt trờ tới, hụ máy vang động rừng cây. Loáng một cái, ánh đèn pha đã quét tứ tung lên cây cối. Chúng tôi nằm dán người xuống các hố trũng lẫn với màu đất, chờ địch đi qua. Ánh đèn quét xa dần rồi mất hẳn. Rừng cao su tối sầm lại và tĩnh mịch như một vùng hoang vắng.

Đội chúng tôi áp sát mục tiêu thì dừng lại. Đồng chí chỉ huy ra lệnh chuẩn bị các động tác để vào kho bom. Các chiến đấu viên mở ba lô lấy trái ra cho kíp vào vì khi đi đường mỗi thứ đều để riêng. Thực hiện xong những động tác kỹ thuật thì kim đồng hồ đã chỉ 11 giờ.

Các kho bom đạn hiện ra nguyên vẹn như hôm chúng tôi đi trinh sát lần cuối, chưa có một hiện tượng thay đổi, di chuyển gì, khiến cho tôi rất yên tâm. Bao nhiêu ngày gian khổ, lo lắng, chờ đợi dồn vào từng giây phút quyết định này. Theo ám hiệu của chỉ huy trưởng, từng chiến sĩ leo vào các kho để đặt trái. Không gian vẫn chìm trong màn đêm yên tĩnh. Tôi có cảm tưởng như thiên nhiên và thời gian cũng hết lòng ủng hộ chúng tôi trong đêm ấy.

Tổ của anh Hai thực hiện xong việc gài mìn vào 4 kho đạn liền vượt qua bãi trống để vào đặt mình ở dãy kho bom bên kia đường. Đang chạy thì bỗng một con chó bẹc-giê không biết từ đâu xông lại. Tình thế tưởng như nguy kịch thì đột nhiên nó lại rẽ sang hướng khác. Đúng là đêm đó xui mà hên (may), không biết mấy lần cả đội thoát những tình huống hiểm nghèo. Tôi và anh Hai vừa bố trí mìn vừa theo sát kiểm tra kỹ thuật đặt trái của từng anh em.

Sau một giờ căng thẳng, gấp rút, việc đặt mìn hoàn tất. Toàn đội im lặng rút ra theo lối đã vào. Tôi nghe lòng mình khoan khoái, nhẹ nhõm lạ thường. Nghĩ tới kho đạn mà thực dân Pháp ngày đêm dùng để gieo cảnh máu chảy đầu rơi xuống đồng bào sắp nổ tung, lòng tôi tự nhủ nếu bây giờ có hi sinh thì tôi cũng không ân hận chút nào. Nghĩ miên man vậy thôi chớ chưa đầy một tiếng đồng hồ sau, toàn đội đã rút ra khỏi hàng rào cuối cùng. Chúng tôi lại xổng lưng, đi thoải mái, bỏ lại phía sau các kho bom của giặc chỉ chờ đến giờ khai tử. Có thể nói không ai vui sướng bằng chúng tôi lúc này. Tất cả đều nôn nao chờ đợi tiếng nổ hay đúng hơn là chờ đợi loạt nổ dây chuyền. Mọi người bước đi trong sự hồi hộp cao độ. Khi đã đi xa kho bom chừng 3km, vẫn cứ im lặng. Sự im lặng thật nặng nề, bồn chồn khó tả. Bỗng một tiếng nổ vang rền kéo theo hàng loạt tiếng nổ khác khiến chúng tôi quay phắt lại phía kho bom. Một đám lửa đỏ rực bay lên cao. Tất cả chúng tôi hò reo sung sướng.

-Nổ rồi!

-Bắt đầu rồi đó!

Nỗi vui mừng của chúng tôi như được nhân lên khi nghe những tiếng nổ liên tiếp làm bùng lên những quầng lửa đỏ trời. Chúng tôi đứng cả lại, ngắm nhìn cho đã mắt. Tiếng nổ càng lúc càng rền vang dữ dội. Đất dưới chân rung chuyển. Chúng tôi phân biệt rõ các tiếng nổ lớn là bom, tiếng lụp bụp liên hồi là các loại đạn pháp các cỡ. Chúng đang bị kích thích nổ theo dây chuyền. Trong hàng loạt tiếng nổ như trời giông, một tháp lửa bỗng dựng lên đỏ rực giữa bầu trời. Chúng tôi lại reo lên:

-Kho xăng cháy!

Các anh em trong đội rút về căn cứ trong niềm vui hả hê. Sau lưng chúng tôi những tiếng nổ cứ nối nhau rền rền không dứt…

Sáng ngày 1-06-1954, cả Sài Gòn vẫn còn rung chuyển vì tiếng bom đạn nổ dữ dội. Kho dự trữ chiến lược của giặc chìm trong biển lửa. Địch trong thành phố náo động, hốt hoảng và hoang mang cực độ. Chúng cấm hết các ngả đường quanh khu vực kho bom. Hai chiếc máy bay bốn động cơ Priva tơ bay lên quần đảo, thả cát bột và khí các-bon cứu kho bom nhưng lửa vẫn cháy táp loang rộng khắp nơi. Đúng lúc đó kho bom 500kg nổ xé trời đùn không khí và lửa lên cao khiến hai chiếc máy bay hốt hoảng chuồn thẳng. Một tiểu đoàn 400 lính cứu hỏa Pháp được điều tới cứu nguy. Bọn này vô cùng sợ hãi trước cảnh lửa đạn mù mịt nhưng vẫn liều mạng xông vào theo lệnh chỉ huy. Nhưng chỉ một lúc sau, tiểu đoàn lính “chữa cháy” này bị tiêu hao gần nửa quân số. Tình thế khá tuyệt vọng khiến tên quan tư chỉ huy việc cứu kho bom tức giận, cầm roi gân bò quất tới tấp vào bọn lính xua chúng trở vào. Nhưng rồi chính hắn cũng bị chết gục tại chỗ vì mảnh bom phang trúng ngực.

Mọi biện pháp của địch để cứu chữa kho bom đều vô hiệu. Bom đạn vẫn nổ liên tiếp hai ngày đêm.

Sau đó báo chí Sài Gòn đã liên tục đăng những bài và ảnh thú nhận sự thiệt hại của chúng.

Về phía ta, Bộ chỉ huy đặc công nhận được tin từ cơ sở báo về là ta đã phá hủy trên 9.000 tấn bom đạn, đốt cháy 10 triệu lít xăng, làm chết và bị thương gần một tiểu đoàn lính Pháp và lính Âu Phi.

Sau trận đánh, đơn vị được cấp trên tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhì. Tôi, anh Phạm Văn Hai và anh Tạ Minh Dục đều được thưởng huân chương chiến công hạng nhất.

03 giờ 45 phút sáng ngày 01-06-1954, mọi người còn đang yên giấc, bỗng một tiếng nổ long trời làm rung chuyển cả thành phố Sài Gòn và vùng phụ cận. Những ngôi nhà gần khu vực kho bom Phú Thọ Hòa cửa kính vỡ tung, đồ đạc nghiêng ngả. Lửa bốc dậy đỏ trời, đứng xa hàng chục cây số vẫn nhìn thấy. Những tiếng nổ dữ dội nối tiếp nhau kéo dài suốt hai ngày đêm.

Trận đánh đã giáng thêm một đòn sấm sét vào thực dân Pháp ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Lực lượng vũ trang Sài Gòn – Gia Định hợp đồng với các đơn vị ở chiến trường Điện Biên Phủ nhằm đánh bại thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và Đông Dương.

Tạp chí “Đại học quân sự ngày nay” của Mỹ, số tết 1962, đã ghi: đây là một trong các trận đánh lớn làm thay đổi so sánh lực lượng, là một trận đau nhất… cho giới quân sự Pháp…

Hai người góp phần chủ yếu làm nên chiến công vang dội đó là Bùi Văn Ba và Phạm Văn Hai (Phạm Văn Hai sau này còn lập thêm nhiều chiến công xuất sắc nữa và đã hy sinh tại chiến trường Củ Chi năm 1966. Ở TP. HCM bây giờ có con đường mang tên anh), những chiến sĩ đặc công của tiểu đoàn Quyết Tử 950 thuộc đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Hai người đều được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng Bùi Văn Ba kể về trận đánh như sau:

…Dạo đó, sau trận ta tập kích vào câu lạc bộ sĩ quan không quân Pháp ở đường Mác-ma-hông ít lâu, chúng tôi lại được giao nhiệm vụ mới: tấn công vào kho dự trữ chiến lược của địch trong nội thành. Cụ thể là phải đánh vào kho bom Phú Thọ Hòa, một trong những “dạ dày chiến tranh” quan trọng và lớn nhất của giặc Pháp ở miền nam. Khí thể đơn vị đang lên nên khi nghe nói đến chiến đấu ai cũng phấn khởi. Lúc này quân và dân ta đang phản công địch trên khắp các mặt trận, quyết tâm giành thắng lợi to lớn và quyết định cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trong trận đánh kho bom Phú Thọ Hòa, để thực hiện công việc cuối cùng là đưa chất nổ vào kho bom, đơn vị Quyết Tử của chúng tôi đã phải chuẩn bị gần hai năm trời. Suốt quãng thời gian đó đã có những khó khăn không lường trước được. Công tác điều nghiên là vô cùng quan trọng nên phải làm hết sức công phu. Nó chiếm gần như gần trọn quãng thời gian cần thiết cho trận đánh còn việc chiến đấu thực ra chỉ có mấy giờ đồng hồ, kể cả thời gian hành quân chiếm lĩnh trận địa, tiếp cận địch, đặt trái, gài mìn… Đại đội đã đưa đồng chí Nguyễn Văn Lém (sau này chính là đồng chí Bảy Lớp đã bị tướng ngụy Nguyễn Ngọc Loan dùng súng côn ru-lô bắn chết hồi tết Mậu Thân 1968) bí mật vào làm phu khuân vác trong kho bom. Sau đó đồng chí Nguyễn Văn Oanh, con ruột đại đội trưởng Nguyễn Văn Cự (Ba Huỳnh) lại được “cấy” thêm vào để trinh sát công khai, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trinh sát bí mật tiếp theo. Công phu phải mất hai năm trời, kể từ sau trận đánh lần thứ nhất ngày 31-08-1952 cũng vào kho bom này cho đến trận tấn công quy mô lớn hơn vào 01-06-1954 nhằm phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ.

Tổ điều nghiên bí mật để chuẩn bị mở đường vào đánh kho bom Phú Thọ Hòa lần này gồm 4 anh em: tôi, Phạm Văn Hai, Nguyễn Văn Cứng và Tạ Minh Dục. Trong tổ, tôi không phải là người thành phố nên không thông thuộc trong thành, giống như chim trích vô rừng vậy. Còn Hai, Cứng và Dục đều là thổ địa của Sài Gòn từ lâu rồi. Cứng là đồng chí tổ trưởng của tôi, đã chỉ huy trận tấn công câu lạc bộ sĩ quan Pháp ở đường Mác-ma-hông hồi tháng 9-1952. Trong số anh em này, tôi xin nói kỹ về anh Phạm Văn Hai. Anh Hai quê ở Bà Quẹo, gia đình rất nghèo nhưng anh có chí từ lúc còn nhỏ. Anh hiền lành nhưng rất dũng cảm và kiên quyết, khi đánh giặc, dù gian khổ, cực nhọc đến mấy cũng không bao giờ lùi bước. Tôi cảm phục anh ở nhiều điểm và anh có một câu chuyện làm tôi xúc động.

Lần ấy đang trong một chiến dịch quan trọng thì anh được tin mẹ bệnh sắp chết. Vì nhiệm vụ anh không về nhà thăm mẹ được. Hôm đi công tác qua nhà thì mẹ anh đã mất. Quan tài còn quàn ở đó với khói nhang (hương) nghi ngút, anh định vào viếng và đốt nhang cho mẹ lần cuối cùng nhưng nghĩ tới công tác điều nghiên sẽ bị lộ, anh gạt nước mắt thầm từ giã mẹ, tiếp tục đi làm nhiệm vụ.

Chúng tôi nhận lệnh trực tiếp của đơn vị và lên đường nghiên cứu mục tiêu. Tôi làm tổ trưởng tổ điều nghiên. Xuất phát từ căn cứ của quân khu, sau hai ngày đêm vất vả hành quân vượt qua tám con sông, rạch lớn và nhiều con lộ (đường lớn) nguy hiểm do địch kiểm soát, chúng tôi đã đến được cơ sở. Đang chiến đấu ngoài chiến khu thoải mái, nay chúng tôi phải chấp nhận cuộc sống kham khổ, khắt khe, gò bó ở vùng địch. Ban ngày, tất cả đều phải xuống hầm bí mật ngồi co lưng lại như con tôm, ăn cơm nắm, uống nước chai, chờ cho trời tối mới lên đi điều nghiên.

Để bảo vệ an toàn cho kho bom, địch cho lính đi lùng sục, càn quét liên tục trong vùng dân cư, kết hợp với bọn mật vụ, thám báo đánh phá ta. Tuy gian khổ và căng thẳng như vậy nhưng anh em chúng tôi vẫn giữ vững ý chí , quyết tâm chiến đấu. Chúng tôi bàn với nhau nếm chẳng may bị địch xăm được hầm bí mật thì tốc lên chiến đấu sinh tử với chúng, quyết giữ bí mật cho ý đồ tác chiến để mục tiêu kho bom không bị lộ. Hàng ngày tổ vừa điều tra nắm tình hình địch vừa gây thêm cơ sở trong dân. Cho đến giữa năm 1953, chúng tôi đã có trong tay sơ đồ và các số liệu khá cụ thể về kho bom Phú Thọ Hòa.

Kho này nằm ẩn kín trng vườn cao su Bà Quẹo, gần ngã tư Bảy Hiền bây giờ. Hay đúng hơn, kho bom là cánh rừng cao su được bao bọc bằng những vòng rào kẽm gai. Lúc đó từ Bà Quẹo tới mí rừng cao su còn trống trơn chưa có phố sá, nhà cửa, có thể nhìn thông thống ra phía ngoại ô. Khu kho bom hình bầu dục, dài 2km, rộng 1,5km, được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt. Từ ngoài vao tới trong, lần lượt có 12 lớp rào kẽm gai, Lớp rào ngoài cùng, cứ 25m lại có một trụ đèn, ánh sáng điện sáng lòa ban đêm. Cứ cách hàng rào 100m, địch bố trí một lô cốt hoặc tháp canh. Bên ngoài hàng rào là đường xe tuần tiễu, bên trong là đường mương rộng chừng 5m nhưng không sâu lắm. Giữa các lớp rào, chúng gài dày đặc hàng nghìn quả mìn chống đặc công ta xâm nhập. Giữa kho có một đường ray xe lửa nối liền các kho chuyên chở bom đạn, vật liệu ra vào. Công việc canh gác ở đây do một đại đội lính “mặt gạch” (tức lính Âu Phi) đảm trách, hoàn toàn không có lẫn 1 lính ngụy nào. Phụ trợ với chúng là bọn chó bẹc-giê. Ngược lại, bên ngoài vòng rào, bọn Pháp bố trí khoảng hai tiểu đoàn lính ngụy thay phiên nhau đi càn và phục kích những nơi chúng nghi ngờ.

 

Địch thực hiện chế độ tuần tra ban đêm rất nghiêm bằng ba kíp. Kíp thứ nhất là bộ binh từ ba đến năm tên phối hợp với chó bẹc-giê. Kíp thứ hai là các xe bọc thép có gắn đèn pha ở bốn góc, khi chạy, đèn bật sáng rọi ra tứ phía. Kíp thứ ba là mô tô ba bánh, mỗi tốp hai chiếc. Cứ nửa giờ chúng thay kíp một lần, toán nọ đổi sang toán kia cho đến hết đêm. Hàng đêm chúng đi tuần rất đúng giờ, không khi nào chểnh mảng. Tuy thế, bọn địch ở đâu cũng giống nhau: “vỏ cứng, ruột mềm”. Tức là bên ngoài thì bảo vệ rất dữ nhưng bên trong đều có những sơ hở. Đây là một điểm yếu của địch mà đặc công ta thường lợi dụng khai thác triệt để để trinh sát và tác chiến.

Sau khi “đứng chân” bám trụ vững vàng, tổ điều nghiên tiến hành đột nhập khu kho để nắm tình hình. Đêm thứ nhất, tôi và Phạm Văn Hai bò dưới ánh đèn pha chói chang, vào bên trong kho điều tra quy luật tuần tiễu và bố phòng của địch. Có một vấn đề làm chúng tôi chú ý là sau khi đã vượt qua được tuyền đèn, lọt vào trong chu vi thì rất thuận lợi. Những bóng cây cao su đổ dài, bóng nọ chồng lên bóng kia tầng tầng, lớp lớp nên càng xa tuyến đèn, không gian càng tối sầm lại rất dễ hoạt động. Trong những lô cao su, ở dưới các đường mương, thỉnh thoảng lại có những ống cống. Đang đi, nếu bất chợt gặp xe tuần tiễu của địch thì nhanh chóng chui xuống cống nấp. Chúng đi qua mình lại lên đi tiếp. Gặp chó thì không thể làm thế được. Chúng tôi leo tót lên cây, cho đi dưới đất không đánh hơi được… Hầu như mọi khó khăn đều tập trung ở giai đoạn khắc phục chướng ngại. Không những phải tránh đèn, tránh lính, tránh chó mà con phải bảo đảm khi đi qua không để lại dấu vết gì. Bởi vì nếu mình sơ suất, địch có thể phát hiện được và báo động cho lính bao vây toàn khu kho thì rất nguy hiểm. Do thế, khi đã lọt qua 12 lớp rào thì có thể đi “xổng lưng” thoái mái nếu quãng ấy không có lính đi tuần tra.

Nhưng dù sao thì bọn chó bẹc-giê cũng rất nguy hiểm. Những ngày đầu đi điều nghiên, khó khăn nhất là đối phó với chúng. Những con chó cao lớn không những cắn chết người mà còn đánh hơi rất tài. Ta thi không thể khi nào cũng làm cái bài leo cây được. Đơn vị tìm mọi cách khắc phục trở ngại này. Cuối cùng cũng tìm ra. Cũng đơn giản thôi. Mỗi tối trước khi vào khu kho trinh sát, mọi người đều tắm xà bông thơm, hàng ngày quần áo cũng giặt bằng xà bông thơm. Khi đột nhập vào kho, bọn chó ngửi mùi tưởng lầm là chủ của nó nên không khịt mũi, húng hắng gì mà bỏ đi luôn.

Kho dự trữ chiến tranh của giặc Pháp ở đây đồ sộ. Khoảng 40 dãy nhà kho nối liền, chất đầy những bom, đạn pháo, đạn cối, xăng dầu, nhớt và bao nhiêu là phương tiện chiến tranh khác. Bom chúng để trần, xếp thành đống trên mặt đất còn các loại đạn thì để dưới hầm. Nhà kho có những của đóng và thanh sắt cài ngang. Chỉ cần lắc nhẹ mấy cái là có thể kéo cây sắt ra được. Tổ điều nghiên ngoài việc trinh sát thực địa, nắm quy luật hoạt động của địch và cấu trúc của các khu kho còn có nhiệm vụ phải nắm được toàn bộ số lượng bom đạn, nhiên liệu… Đặc biệt, phải nắm được ký hiệu của từng loại vũ khi để cho công binh xưởng nghiên cứu. Nhưng ngặt một điều là anh em trong tổ đều không biết chữ tây. Anh nào cũng con nhà nghèo, thất học từ nhỏ. Anh Phạm Văn Hai hồi giờ ở chung đơn vị với tôi cũng không đọc được chữ tây. Chúng tôi phần nhiều là đi ở đợ, làm mướn rồi đi tham gia cách mạng. Tuy vậy khó khăn này cũng vượt qua được chỉ có thêm vất vả và công phu hơn một ít. Khi vào điều tra, mỗi người đem theo một quyển sổ con, một mẩu bút chì, một chiếc đèn pin vuông, mặt kính được bịt bằng miếng giấy đã dùi thủng một lỗ nhỏ ở chính giữa bằng đầu đũa để khi rọi ánh sáng không loang rộng, chỉ đủ để cho mình thấy được. Mỗi đêm, khi đột nhập vào khu kho, một anh đứng ngoài canh chừng tụi lính, ba người còn lại vào trong, người rọi đèn, người ghi lại đúng y như chữ in trên những trái bom, trên thùng đạn, thùng xăng…. làm đúng như mệnh lệnh đã giao cho “tai nghe, mắt thấy, tay sờ”. Công việc ghi chép này được đồng chí Tạ Minh Dục, người có trình độ văn hóa cao nhất trong bốn anh em chúng tôi, đảm nhiệm.

Vào kho đạn pháo thì chúng tôi khui từng thùng ra đếm có bao nhiêu hộp đựng ngòi nổ, sẽ tính được bao nhiêu trái, ghi số hiệu xong, đóng lại như cũ. Kho bom thì chỉ cần đo chiều dài, chiều ngang, chiều cao có bao nhiêu trái, về nhà làm phép tính nhân là biết được số lượng của từng kho.

Nói thì đơn giản vậy nhưng khi thực hành là chuyện gian nan, vừa phải bí mật, vừa phải nhớ rành mạch để không trùng lẫn, ra khỏi kho không để lại dấu vết gì khiến địch nghi ngờ. Đã có lúc chúng tôi phải hồi hộp vì những diễn biến bất ngờ như có chó và lính tới…

Cũng do có tài liệu chính xác mà anh em công binh xưởng đã chế tạo ra những ngòi nổ thích hợp, bảo đảm làm số ngòi kích thích, phá hủy toàn bộ kho bom, đạn, xăng dầu sau này.

Cứ thế đêm này qua đêm khác, gần ba tháng trời kiên trì nghiên cứu, tổ đặc công chúng tôi đã nắm được toàn bộ tình hình kho bom Phú Thọ Hòa. Chúng tôi lên sơ đồ và kế hoạch tác chiến đưa về trên duyệt. Việc tấn công kho bom chỉ còn là thời gian. Mọi người trong đơn vị hăm hở chờ đợi Bộ chỉ huy Đặc khu quyết định ngày đánh.

Đang còn trong thời gian chờ đợi nôn nao như thế thì bất ngờ có tên C. ở đơn vị ra đầu hàng giặc. Cả đơn vị bàng hoàng tức giận, nhất là tổ điều nghiên chúng tôi. Công lao mấy tháng trời lặn lội gian khổ bây giờ đổ sông, đổ biển. Tên C, bỏ cách mạng sang đầu hàng địch với hai lý do: cuộc sống ở căn cứ cực khổ và bị hai người chị của hắn lấy chồng là hai tên mật thám cứ liên tục tác động, chiêu hồi. Từ lâu, sống trong hàng ngũ, hắn có bộc lộ sự dao động trước tình hình cuộc kháng chiến còn nhiều cam go. Nhưng không ai ngờ đến mức hắn có thể đi phản bội cách mạng. Sự việc đổ vỡ như vậy khiến cho đơn vị có một bài học cảnh giác sâu sắc.

Như chúnt tôi đã đoán trước, tên C. ra đầu hàng giặc đã gây nên những hậu quả vô cùng tai hại. Nuôi sằn lòng bất mãn bấy nay nên khi vừa bước sang phía bên kia, hắn liền tìm cách lập công. C khai với địch rằng “Việt Minh sắp phá hủy kho bom Phú Thọ Hoà”. Nghe thế, giặc hoảng hốt, tăng cường phòng thủ. Trước chỉ có hàng rào đơn, nay chúng đan thành hàng rào mắt cáo. Trước mỗi trụ điện chỉ có một bóng đèn phía trên, nay chúng gắn thêm một bóng phía dưới khiến hàng rào sáng choang như ban ngày. Việc tuần tra, canh gác cũng nghiêm ngặt hơn trước. Địch tung quân ra đánh phá cơ sở rất ác liệt nhằm quét sạch lực lượng cách mạng quanh vùng, tạo một vành đai an toàn cho kho bom. Điều nguy hiểm nhất là tên C trước ở trong cơ sở nhân dân, nay dẫn lính về, chỉ điểm, bắt bớ nhiều đồng bào làm cho bà con hoang mang, lo sợ, nghi ngờ lẫn nhau. Tình hình trở nên phức tạp nhiều bề. Hàng ngày, tên chiêu hồi tệ hại này đích thân dẫn bọn khét tiếng gian ác trong vùng đi bắt những người dân mà hắn biết mặt, làm một số cơ sở bị vỡ tung. Hắn còn đặt tụi lính đi mai phục đón lõng cán bộ ta ra vào hoạt động. Sự săn lùng ráo riết đó bước đầu gây tổn thất cho đơn vị Quyết Tử. Như trong một lần đưa anh em đi nghiên cứu tình hình bằng hình thức “hợp pháp” đại đội phó Phùng Minh Ký đã bị rơi vào tay địch, một đồng chí khác bị chúng bắn bị thương và bị bắt luôn.

Tình hình rất căng thẳng và bất lợi. Bộ chỉ huy Đặc khu lệnh tạm ngừng tấn công kho bom và cho rút lực lượng về căn cứ, trước mắt là tránh tổn thất, sau nữa là đánh lạc hướng địch. Thời gian này đồng chí Nguyễn Văn Lưu rồi sau đó thêm Nguyễn Văn Oanh được bí mật cài vào kho bom giặc dưới bình phong là hai “cu ly” khuân vác.

Thời gian chờ đợi kéo dài đến hết năm 1953. Suốt thời gian đó, đơn vị vừa tác chiến vừa xây dựng lực lượng. Bên cạnh đó, vấn đề “thực túc binh cường” vẫn rất quan trọng. Đúng như lời bài hát thời đó mà ai cũng thuộc lòng “nếu đánh giặc mà không tăng gia, lấy gì nuôi quân đánh giặc…” Đơn vị mua được một cặp trâu. Tôi và Phạm Văn Hai, ngoài giờ đi chiến đấu về còn phụ với anh em sản xuất được ba mẫu lúa. Năm đó trúng mùa, lúa ăn mãi tới ngày đình chiến, đi tập kết vẫn còn…Nói chuyện này tôi lại nhớ trước đó, nằm 1952, sau trận bão lụt lớn, không có trâu bò, đơn vị ai nấy đều phải kéo cày thay trâu làm ruộng…

Chờ đợi và tập luyện, tập luện và chờ đợi. Anh em trong tổ điều nghiên nghe lòng ray rứt hoài bởi thấy mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Ai cũng nôn nao mong tới ngày được chiến đấu lập công. Phần nữa, xa đồng bào lâu cũng thấy nhớ. Kỷ niệm của những ngày điều nghiên được các má, các cô chú, các anh chị che chở, dùm bọc, giúp đỡ, coi như ruột thịt trong nhà…. cứ làm mọi người bâng khuâng xúc động. Những cơ sở cách mạng ngay trong lòng dân đã tiếp cho chúng tôi sức mạnh thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

… Đầu năm 1954, không khí khác hẳn. Những trận đánh lại rộ lên. Cơ sở cho biết tình hình kho bom Phú Thọ Hòa địch có phần lơi lỏng. Có lẽ chúng phòng bị chặt chẽ quá nhưng mãi không thấy đối phương hành động nên có phần mỏi mệt, chểnh mảng dần? Vừa lúc đó, trên chỉ thị tiếp tục nghiên cứu mục tiêu để đánh. Chúng tôi phấn khởi lắm vì dù sao thì đường đi lối lại đã nắm được. Mọi chi tiết của mục tiêu hầu như còn y nguyên trong trí nhớ.

Tổ điều nghiên trở lại bám cơ sở. Lần này có thêm vài đồng chí mới. Tổ chúng tôi vẫn được giao nhiệm vụ điều nghiên bí mật. Còn tổ của hai đồng chí Phạm Duy Thanh và Nguyễn Văn Cứng chịu trách nhiệm bám lấy tin tức từ hai chiến đấu viên đã được cấy vào kho giặc. Hai đồng chí này đã nhận được bản vẽ toàn bộ đường đi nước bước, hầm hố, nhà kho trong khu vực kho bom, phục vụ sau này cho công việc bí mật xác minh, chuẩn bị sẵn hai đường mở cửa đột nhập đánh địch… Điều khó khăn mà chúng tôi dự kiến đã xảy ra. Dân vẫn còn lo ngại, không còn mạnh dạn như trước. Họ e ngại lại có một vụ như tên C hồi năm ngoái. Nhưng không ai tỏ ra nản chí bởi biết rõ là địch có thể đánh pháp, triệt hạ xóm làng nhưng lòng dân thì không bao giờ triệt phá nổi. Chúng tôi lại đào hầm bí mật, vận động nhân dân xây dựng lại cơ sở từ đầu. Những người dân nhiệt tình với cách mạng và luôn nung nấu mối căm thù giặc có bao giờ họ bỏ chúng tôi. Tổ điều nghiên thực hiện công tác dân vận rất tốt nên đồng bào càng thương mến, giúp đỡ nhiều hơn.

Tuy thế những khó khăn đột biến chưa phải đã hết. Một hôm, đang ngồi trong nhà cơ sở, bỗng tiếng súng vang lên. Biết là địch vây ráp, tôi và Hai băng cửa sau ra hầm. Ngồi thu lu trong lòng đất rồi mà trống ngực vẫn còn gõ thình thịch. Tôi lo là lại có điều xui xẻo vì địch đánh rất bất ngờ. Chờ cho địch rút ra, chiều tối chúng tôi lên khỏi hầm thăm dò bà con mới biết đồng chí Thanh đã hi sinh trước khi xuống được hầm bí mật. Bị bắn gãy chân, trước lúc sa vào tay giặc, Phạm Văn Thanh đã kịp trao lại cho Nguyễn Văn Cứng chiếc đèn pin hộp “winter”, trong đó có bản sơ đồ kho bom Phú Thọ Hòa do Bảy Lưu và Oanh trao cho, để mang về trao tận tay cho các anh Bảy Ý, Ba Huỳnh. Thanh không chịu để cho Cứng cõng chạy mà giục Cứng “Ban ngày, vùng yếu, mặc tôi đồng chí thoát đi để bảo vệ bí mật sơ đồ trận đánh”… Thanh bị bắt, nhổ vào mặt giặc và bị chúng bắn chết tại chỗ trên cánh đồng lúa ngoại thành. Sau đó không lâu lại xảy ra một vụ tương tự. Khó khăn chồng chất lên khó khăn. Vùa đi nắm tình hình chưa được bao lâu đã hai lần bị đổ bể. “Nhất quá tam”, tôi và Hai, Dục họp nhau xây dựng lại kế hoạch và quyết tâm đánh cho bằng được.

Tổ điều nghiên lại đột nhập vào kho. Dạo này địch tuần tra chặt hơn, cứ 15 phút một lần chứ không phải 30 phút như trước nữa. Chờ hết trăng, chúng tôi vượt các vòng rào tiếp cận kho. Tới nơi thì chưng hửng. Anh nào anh nấy giật mình toát mồ hồi. Những kho bom, đạn đầy ứ đã bay đi đằng nào chỉ còn trơ ra những gian kho trống hoác. Anh Hai nói vẻ lo lắng:

  • Chắc là bị lộ. Địch đánh hơi được tụi mình nên chúng bốc đi hết rồi chăng?

Đêm đầu tiên, không ai bàn gì thêm, chỉ thở dài, quay ra với nỗi thất vọng đè nặng trong lòng. Vừa đi tôi vừa nghĩ: không lẽ chúng bỏ cái căn cứ mà suốt bao nhiêu năm chúng đổ dồn không biết bao nhiêu công sức, tiền của để xây dựng. Không có cái dạ dày chiến tranh này thì bọn giặc trên chiến trường nam bộ lấy gì đánh nhau với Việt Minh? Điều vô lý này làm cho tôi cứ băn khoăn, vẫn ngờ vực vào một cái gì đó về thủ đoạn của địch. Nhất định địch sẽ đưa bom đạn trở lại.

Chúng tôi cũng yên lặng nhưng kiên trì bám lấy mục tiêu. Và sự nhẫn nại đó quả không uổng. Một tháng sau trở vào, cả mấy anh em vui mừng đến sửng sốt. Các kho bom, đạn lại đầy ắp như từ đâu mọc ra, có phần nhiều hơn trước. Lại có thêm một bãi xăng đặc gồm la liệt những bồn xăng năm ngất nghểu. Cánh “họ hàng nhà vạc” chúng tôi lại mò mẫm rọi đèn ghi chép từng dòng chữ lằng nhằng rắc rối vào sổ rồi đo chiều dài, rộng, cao của từng dãy kho riêng biệt. Thận trọng hơn, chúng tôi còn gõ vào từng thùng xong xem thử có xăng không. Các gõ của đặc công thì địch không thể nghe được.

Thời gian đã rất khẩn trương. Lúc này chiến dịch Điện Biên Phủ đang diễn ra sôi động. Quân ta đang thắt chặt vòng vây từng ngày. Tin chiến thắng bay về liên tiếp làm mọi người càng phấn khởi, tin tưởng. Đồng chí tổ trưởng trở về căn cứ báo cáo tình hình, Bộ chỉ huy Đặc khu chỉ thị đánh kho bom để hợp đồng với chiến trường Điện Biên Phủ và hỗ trợ cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta trên bàn hội nghị Giơ-ne -vơ.

Tôi và anh Hai trở vào kho nắm địch. Có thể nói đây là những lần điều nghiên cuối cùng rất quan trọng. Đểm đảm bảo bí mật tuyệt đối, chúng tôi ém lại ở các hầm và đi lại, ăn ở hết sức thận trọng. Ban ngày ở dưới hầm bí mật của các cơ sở, đêm mới lên đi trinh sát. Cả tháng không biết mặt trời là gì. Người nhà các cơ sở cũng bảo vệ, chăm sóc chúng tôi chu đáo. Họ luôn chia sẻ niềm vui cũng như nỗi lo âu của chúng tôi mỗi khi đi, về. Ở căn cứ, các đồng chí công binh xưởng cũng đã chuẩn bị vũ khí sẵn sàng.

Tôi nhớ đúng vào giữa tháng 5, tổ điều nghiên đưa đại đội trưởng Ba Huỳnh vào khảo sát thực địa để dứt khoát báo cáo kế hoạch chiến đấu với cấp trên. Đêm đó, cả ba người đi vào suôn sẻ. Trong kho không có hiện tượng gì đột biến. Tôi phấn khởi quá, nói với anh Ba:

  • Có thể đề nghị cấp trên cho đánh gấp được rồi anh Ba.

  • Chúng mình mần ăn đến nưóc này chắc là không còn ăn hụt nữa đâu. Cấp trên cũng quyết tâm dứt điểm cái kho này.

Công việc chuẩn bị cho trận đánh được tiến hành thật khẩn trương. Trên bộ chỉ huy bổ sung thêm một tiểu đội được huấn luyện tỉ mỉ kiểu cách đánh, mà mãi đến khi bước chân về tới đơn vị anh em mới hiểu rõ mình được tham gia vào trận đánh kho bom Phú Thọ Hòa sắp tới. Tiểu đội này cộng với tổ điều nghiên nữa là 12 người. Anh Ba Huỳnh đại đội trưởng là chỉ huy chung. Anh Hai và tôi mỗi người phụ trách một tổ. Tổ của tôi có nhiệm vụ đánh kho bom. Tổ của anh Hai có nhiệm vụ đánh kho đạn và kho xăng, dầu. Số chiến đấu viên mới bổ sung phải được huấn luyện và thực tập trên mục tiêu vì họ chỉ quen đánh những mục tiêu ở ngoại thành, nông thôn còn trong nội thành thì hầu như chưa có kinh nghiệm. Tôi và anh Hai bỏ công sức khá nhiều chỉ vẽ cho anh em từng động tác, từ đi đứng đến ăn ở.

Đội còn đắp một sa bàn kho bom Phú Thọ Hòa giống như thật, trên đó thể hiện đầy đủ, chính xác từng chi tiết. Các mục tiêu trong kho được đánh dấu 1, 2, 3,… cho đến hết, trừ bãi xăng nhớt ra. Mỗi tổ, mỗi chiến đấu viên căn cứ vào những vị trí được phân công trên sa bàn mà nhập tâm, mà tập đánh và phối hợp với nhau cho thật nhuyễn. Tập trên sa bàn xong, tôi dẫn anh em ra tập ngoài thực địa. Công việc này có gây hứng thú nhưng cũng thật khổ luyện. Dưới trời nắng, mọi người nhễ nhại mồ hôi. Rồi những đêm trời tối mịt mù mỗi người tập ngụy trang, vượt rào, trườn, bò, bắt ám hiệu và tín hiệu… Quyết tâm của đội chúng tôi được biểu hiện ngay trong công tác chuẩn bị như thế.

Rồi công binh xưởng cho người chuyển vũ khí tới. Toàn bộ hầu như là những trái nổ nhiều loại, cỡ khác nhau. Loại 1kg, 1,5kg, 2,3kg, có loại nặng hơn. Không cần phải giải thích, chúng tôi hiểu ra là mỗi loại trái dùng để đánh từng mục tiêu khác nhau. Anh em công binh nghiên cứu thật tỉ mỉ, chu đáo… Ngay như chiếc túi để mang trái cũng rất khoa học. Nó có nhiều ngăn để dắt trái vào. Khi đeo trên lưng, buộc dây đai lại thì phẳng như chiếc ba lô, vận động qua những nơi khó khăn cũng không bị khua động. Nhưng khi cần đổi sang động tác xách thì nó gập lại như chiếc cặp, cái đai mang chính là quai xách.

Số vũ khí tự tạo này đều tra kíp hẹn giờ. Các trái đều mỏng vỏ, bên trong nhồi thuốc nổ mạnh, có sức công phá lớn. Kíp trái nổ đều thuộc loại kíp a-xít, nhỏ như cán bút. Khi gài trái xong, dùng kìm nhỏ bóp vỡ ống a-xít. A-xít sẽ nhỏ giọt từ từ cho đến khi ăn cháy miếng cạc-tông ngăn cách hạt nổ thì kích thích trái phát nổ. Theo quy định của kế hoạch trận đánh, tất cả các trái sẽ nổ sau hai giờ kể từ khi bóp kíp. Thời gian ấy đủ để các chiến đấu viên ra khỏi mục tiêu và rời xa cách đó mấy cây số. Toàn bộ số lượng vũ khí và kỹ thuật thiết kế, chế tạo đã được đồng chí chính trị viên đích thân lên Binh công xưởng cùng với ban giám đốc thực hiện, tự tay đánh mã số, ghi rõ cách sử dụng, phân loại, xếp đặt thứ tự cho từng chiếc ba lô, mất 3 tháng trời.

Đêm 30-05-1954, một đêm mùa khô đẹp trời, đội chúng tôi xuất phát. Các đồng chí chỉ huy đích thân đi kiểm tra trang bị của từng người một. Bầu trời Sài Gòn hằn lên một quầng sáng. Giờ này bọn xâm lược đang cầu nguyện một đêm yên lành “tai qua nạn khỏi”. Chúng chắc hẳn không ngờ cơn bão lửa trừng phạt sắp đổ xuống đầu. Chúng tôi về đến cơ sở ở Phú Lâm, trước kế hoạch một đêm. Thấy còn sớm, anh Ba Huỳnh họp đội, bàn:

-Còn thời gian, chúng ta vào đánh đêm nay luôn. Các đồng chí thấy thế nào?

Số anh em trẻ tỏ vẻ hăm hở, đồng ý đánh ngay. Nhưng anh Hai không nhất trí:

-Đánh không đúng theo kế hoạch, thắng thì không sao, nhưng nếu thất bại, đổ bể thì trách nhiệm thuộc về chúng ta. Lúc đó hậu quả sẽ không lường hết được.

Anh Hai nói có lý. Tôi phân tích thêm:

– Đồng chí Hai thận trọng như vậy là đúng. Theo ý tôi, ta nên đánh đúng kế hoạch đã được cấp trên thông qua. Bây giờ đã 10 giờ khuya, nếu vào thì ít ra là 4 giờ sáng mới bóp kíp xong. Trái nổ sau hai giờ, lúc đó là 6 giờ sáng, công nhân khuân vác và đồng bào bị địch tập trung đi làm phu trong kho hàng mấy trăm người sẽ bị thương vong hết. Mặt khác, đánh xong ta rút ra trễ, địch truy kích theo, ta sẽ không bảo tồn được lực lượng.

Tất cả đều nhất trí không đánh trong đêm ấy và phân tán thành từng bộ phận ém hầm bí mật tránh địch chờ tối hôm sau.

Đối với tôi, thêm một ngày co mình trong lòng đất chờ đợi nghe thời gian dài dằng dặc, thật nóng ruột hết sức. Hầm chứa người đông quá nên khi vừa ngả lưng thì mọi người muốn lả đi. Lo nhất là số chiến sĩ ở rừng về đây nằm hầm ẩm ướt, thiếu không khí nên có người lên cơn sốt rét, mặt mày tái xám. Tôi và Hai lo lắng thăm dò, thấy ai cũng đầy vẻ lạc quan. Tôi phấn khởi động viên thêm:

-Ta đã vất vả, gian khổ hành quân tới đây thì chỉ có đánh. Bộ chỉ huy đặt hết niềm tin vào chúng ta và đang mong tin chiến thắng. Chúng ta hãy xứng đáng là chiến sĩ của tiểu đoàn Quyết Tử 950.

Đêm sau, 12 người trong đội ngụy trang xong và xuất phát trong không khí im lặng vốn quen thuộc của chiến sĩ đặc công. Trời đêm tối như bưng là người bạn tốt bụng của chúng tôi. Sau khi vượt qua được hai con lộ, toàn đội tới sát chu vi kho bom. Anh em đang củng cố đội hình để chuẩn bị tiêm nhập thì bất chợt một chiếc xe GMC chở đầy lính ập đến. Tất cả chỉ còn kịp nằm rạp xuống mặt ruộng. Bọn lính trên xe nhảy xuống chạy rầm rập tỏa ra các ngả. Tôi lo đứng tim: chắc địch biết được kế hoạch của ta nên cho quân chặn đánh trước, làm sao bây giờ, nếu chúng phát hiện được thì chỉ còn cách nổ súng, kế hoạch trận đánh coi như tiêu tan. Bọn lính vẫn chạy loang loáng cách chỗ tôi nằm chừng mươi thước. Bỗng ào một cái, cả đám lính lại tập họp, nhảy lên xe. Ai nấy thở phào đứng dậy. Thì ra toán lính chết tiệt này đi tập ban đêm.

Toàn đội áp sát đường mương dọc theo bờ dứa dại. Vào mùa khô, lòng mương cạn, chỉ cần lách những chùm dứa dại, lội qua là đã tiếp cận được hàng rào. Nhưng chẳng may cho chúng tôi vì có một tên lính gác đang “gù” một gái điếm bên cạnh bờ. Hai đứa cứ tỉ tê trò chuyện không dứt ra được. Thế mới gay go. Chừng ấy con người trong đội qua lòng mương là lộ ngay. Một anh trong tổ sốt ruột hỏi chỉ huy:

-Giờ làm sao anh Ba?

Anh Ba Huỳnh ra giấu gọi anh Hai và tôi lại nói:

-Phải bắt gọn cả hai đứa chớ chờ chúng sao được, sắp trễ giờ rồi.

Tôi chưa trả lời, nghĩ bụng: nếu bắt chúng thì phải mất hai người canh giữ, vũ khí nặng nề thế này, ai sẽ mang vào… Chúng tôi đang tính như vậy thì vừa lúc thằng lính và cô gái đứng dậy, dắt nhau về. Lúc này đã 9 giờ đêm. Thời gian như người chạy thi đuổi theo chúng tôi sát nút.

Đội hình chiến đấu trong tổ có thay đổi. Tôi và đồng chí Trơn dẫn đầu hai mũi. Đồng chí chỉ huy trưởng đi giữa. Phạm Văn Hai đi sau cùng để xoá các dấu vết, nếu trường hợp bị lộ thì dẫn đường cho đơn vị rút lui vì anh rất rành đường trong nội thành.

Anh em trườn qua được chừng hai trăm mét, sắp vượt con lộ có bố trí tập trung những trụ đèn chùm rất sáng trước hàng rào thứ tư thì một toán lính tuần tra đi tới. Tôi liền tụt xuống đường mương và làm hiệu cho mọi người phía sau nằm rạp xuống. Những con chó bẹc-giê cao lồng ngồng đi trước bọn lính nhưng sao mãi không nghe chúng khịt mũi. Có lẽ sương đêm xuống dày làm cho chúng bớt nhạy cảm giác? Bởi thế nên có nhiều tên lính và chó đi lướt qua chỗ tôi nằm rồi đi luôn. Tôi nhỏm dậy thấy anh em còn nằm chờ đợi. Biết chắc là địch không thể phát hiện được, tôi ra dấu cho tất cả lao nhanh qua đường. Cứ thế, bằng kỹ thuật đặc công, chúng tôi qua khỏi 12 lớp rào đi vào trong lô cao su. Nhưng những bất trắc khác còn đeo đuổi riết như muốn thử thách mọi ngưởi. Một chiếc xe bọc sắt trờ tới, hụ máy vang động rừng cây. Loáng một cái, ánh đèn pha đã quét tứ tung lên cây cối. Chúng tôi nằm dán người xuống các hố trũng lẫn với màu đất, chờ địch đi qua. Ánh đèn quét xa dần rồi mất hẳn. Rừng cao su tối sầm lại và tĩnh mịch như một vùng hoang vắng.

Đội chúng tôi áp sát mục tiêu thì dừng lại. Đồng chí chỉ huy ra lệnh chuẩn bị các động tác để vào kho bom. Các chiến đấu viên mở ba lô lấy trái ra cho kíp vào vì khi đi đường mỗi thứ đều để riêng. Thực hiện xong những động tác kỹ thuật thì kim đồng hồ đã chỉ 11 giờ.

Các kho bom đạn hiện ra nguyên vẹn như hôm chúng tôi đi trinh sát lần cuối, chưa có một hiện tượng thay đổi, di chuyển gì, khiến cho tôi rất yên tâm. Bao nhiêu ngày gian khổ, lo lắng, chờ đợi dồn vào từng giây phút quyết định này. Theo ám hiệu của chỉ huy trưởng, từng chiến sĩ leo vào các kho để đặt trái. Không gian vẫn chìm trong màn đêm yên tĩnh. Tôi có cảm tưởng như thiên nhiên và thời gian cũng hết lòng ủng hộ chúng tôi trong đêm ấy.

Tổ của anh Hai thực hiện xong việc gài mìn vào 4 kho đạn liền vượt qua bãi trống để vào đặt mình ở dãy kho bom bên kia đường. Đang chạy thì bỗng một con chó bẹc-giê không biết từ đâu xông lại. Tình thế tưởng như nguy kịch thì đột nhiên nó lại rẽ sang hướng khác. Đúng là đêm đó xui mà hên (may), không biết mấy lần cả đội thoát những tình huống hiểm nghèo. Tôi và anh Hai vừa bố trí mìn vừa theo sát kiểm tra kỹ thuật đặt trái của từng anh em.

Sau một giờ căng thẳng, gấp rút, việc đặt mìn hoàn tất. Toàn đội im lặng rút ra theo lối đã vào. Tôi nghe lòng mình khoan khoái, nhẹ nhõm lạ thường. Nghĩ tới kho đạn mà thực dân Pháp ngày đêm dùng để gieo cảnh máu chảy đầu rơi xuống đồng bào sắp nổ tung, lòng tôi tự nhủ nếu bây giờ có hi sinh thì tôi cũng không ân hận chút nào. Nghĩ miên man vậy thôi chớ chưa đầy một tiếng đồng hồ sau, toàn đội đã rút ra khỏi hàng rào cuối cùng. Chúng tôi lại xổng lưng, đi thoải mái, bỏ lại phía sau các kho bom của giặc chỉ chờ đến giờ khai tử. Có thể nói không ai vui sướng bằng chúng tôi lúc này. Tất cả đều nôn nao chờ đợi tiếng nổ hay đúng hơn là chờ đợi loạt nổ dây chuyền. Mọi người bước đi trong sự hồi hộp cao độ. Khi đã đi xa kho bom chừng 3km, vẫn cứ im lặng. Sự im lặng thật nặng nề, bồn chồn khó tả. Bỗng một tiếng nổ vang rền kéo theo hàng loạt tiếng nổ khác khiến chúng tôi quay phắt lại phía kho bom. Một đám lửa đỏ rực bay lên cao. Tất cả chúng tôi hò reo sung sướng.

-Nổ rồi!

-Bắt đầu rồi đó!

Nỗi vui mừng của chúng tôi như được nhân lên khi nghe những tiếng nổ liên tiếp làm bùng lên những quầng lửa đỏ trời. Chúng tôi đứng cả lại, ngắm nhìn cho đã mắt. Tiếng nổ càng lúc càng rền vang dữ dội. Đất dưới chân rung chuyển. Chúng tôi phân biệt rõ các tiếng nổ lớn là bom, tiếng lụp bụp liên hồi là các loại đạn pháp các cỡ. Chúng đang bị kích thích nổ theo dây chuyền. Trong hàng loạt tiếng nổ như trời giông, một tháp lửa bỗng dựng lên đỏ rực giữa bầu trời. Chúng tôi lại reo lên:

-Kho xăng cháy!

Các anh em trong đội rút về căn cứ trong niềm vui hả hê. Sau lưng chúng tôi những tiếng nổ cứ nối nhau rền rền không dứt…

Sáng ngày 1-06-1954, cả Sài Gòn vẫn còn rung chuyển vì tiếng bom đạn nổ dữ dội. Kho dự trữ chiến lược của giặc chìm trong biển lửa. Địch trong thành phố náo động, hốt hoảng và hoang mang cực độ. Chúng cấm hết các ngả đường quanh khu vực kho bom. Hai chiếc máy bay bốn động cơ Priva tơ bay lên quần đảo, thả cát bột và khí các-bon cứu kho bom nhưng lửa vẫn cháy táp loang rộng khắp nơi. Đúng lúc đó kho bom 500kg nổ xé trời đùn không khí và lửa lên cao khiến hai chiếc máy bay hốt hoảng chuồn thẳng. Một tiểu đoàn 400 lính cứu hỏa Pháp được điều tới cứu nguy. Bọn này vô cùng sợ hãi trước cảnh lửa đạn mù mịt nhưng vẫn liều mạng xông vào theo lệnh chỉ huy. Nhưng chỉ một lúc sau, tiểu đoàn lính “chữa cháy” này bị tiêu hao gần nửa quân số. Tình thế khá tuyệt vọng khiến tên quan tư chỉ huy việc cứu kho bom tức giận, cầm roi gân bò quất tới tấp vào bọn lính xua chúng trở vào. Nhưng rồi chính hắn cũng bị chết gục tại chỗ vì mảnh bom phang trúng ngực.

Mọi biện pháp của địch để cứu chữa kho bom đều vô hiệu. Bom đạn vẫn nổ liên tiếp hai ngày đêm.

Sau đó báo chí Sài Gòn đã liên tục đăng những bài và ảnh thú nhận sự thiệt hại của chúng.

Về phía ta, Bộ chỉ huy đặc công nhận được tin từ cơ sở báo về là ta đã phá hủy trên 9.000 tấn bom đạn, đốt cháy 10 triệu lít xăng, làm chết và bị thương gần một tiểu đoàn lính Pháp và lính Âu Phi.

Sau trận đánh, đơn vị được cấp trên tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhì. Tôi, anh Phạm Văn Hai và anh Tạ Minh Dục đều được thưởng huân chương chiến công hạng nhất.

Thảo luận cho bài: "BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN-Đánh kho bom Phú Thọ Hòa"