BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN-Tập kích sân bay Tân Sơn Nhất

Tác giả:

a hoso

Trong bộ quần áo rằn ri lấm lem đầy bùn đất trông như một lính ngụy mới đi càn về, Bành Văn Trân khẽ nhếch mép cười với mấy tên sĩ quan ngụy trên chiếc xe “díp” (Jeep) chạy qua, rồi lững thững bước đi. Anh ghé vào một quán nhỏ trên con đường vắng ngoại ô, định mua một ổ bánh mì lót bụng và uống một ly cà phê đặc cho tỉnh người. Nhưng quán chưa bán hàng, anh lại lững thững đi ra… Dáng điệu bình thản ấy của anh khiến không ai có thể ngờ rằng chính anh và đồng đội đã làm một việc “kinh thiên động địa” hồi đêm qua, biến sân bay Tân Sơn Nhất thành biển lửa, thiếu hủy hàng trăm máy bay chiến đấu hiện đại, hàng trăm tấn bom đạn, phương tiện chiến tranh của Mỹ, ngụy.

Bành Văn Trân đang tìm về cơ sở để bắt liên lạc với đồng đội sau trận đánh, trong khi đó cái sân bay khổng lồ tầm cỡ nhất Đông Nam Á này vẫn đang ầm ĩ, náo loạn với những tiếng máy bay, xe bọc thép lùng sục, tiếng nổ của bom đạn… Từng đám khói đen cuộn lên bao phủ bầu trời một màu tang tóc xám xịt.

Sân bay Tân Sơn Nhất rộng 2000 ha, nằm giữa hai quận Gò Vấp và Tân Bình, cách trung tâm Sài Gòn không đầy 5km, có tầm quan trọng đặc biệt về chiến lược trong mạng lưới phòng thủ của địch ở toàn miền nam và Sài Gòn. Nó được mở rộng sau nhiều cuộc dồn dân, cào nhà cướp đất của chính quyền Ngô Đình Diệm trước đây. Căn cứ không quân hỗn hợp này có nhiều đường băng cho đủ loại máy bay quân sự và dân sự với những hầm chìm, ụ nổi chứa từ 4 đến 5 trăm máy bay đậu thoải mái. Trong sân bay có hàng chục kho bom, đạn đủ cỡ với kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ. Khu nhà ở phía nam sân bay là “hang ổ” của bọn chỉ huy quân sự Mỹ gồm: Bộ tư lệnh tập đoàn không quân Mỹ số 7, Bộ tư lệnh quân viễn chinh Mỹ và nhà đại tướng tư lệnh quân đội Mỹ tại nam Việt Nam Oét-mo-rơ-len (Westmoreland). Kế đó là Bộ tư lệnh không quân ngụy và nhà của Nguyễn Cao Kỳ, thiếu tướng tư lệnh không quân.

Với một khối lượng trang bị chiến tranh khổng lồ và một “liên bộ chỉ huy hỗn hợp Việt-Mỹ” quan trọng như vậy cho nên cái căn cứ quân sự này được bao bọc bởi một lớp “vỏ cứng” với 22 lớp rào kẽm gai kiểu Mỹ, từ rào đơn, rào kép đến rào bùng nhùng, rào mắt cáo,… Giữa các hàng rào là đủ các loại mìn, từ mìn gíp, mín cóc đến mìn định hướng, mìn chiếu sáng được bố trí công phu trong các đám cỏ dại và mắc cỡ (cây xấu hổ) dày nhằm chống đặc công Việt Cộng xâm nhập, nhất là ở những hướng “xung yếu”. Bên ngoài chu vi vòng rào, một hệ thống đường nhựa giáp vòng cho xe cơ giới tuần tra. Phía bên trong là những tuyến lô cốt, tháp canh đứng ken nhau được trang bị từ súng đại liên đến đại bác và những đèn pha cao áp cực mạnh hắt sáng xa tới gần 3km.

Các vị trí bên trong được ngăn cách nhau bằng 3 lớp rào và những hào sâu 4m, rộng 8m. Trên những đường nhựa ngang dọc trong chu vi sân bay, cứ mỗi 15 phút lại có một tốp xe chở lính đi tuần tiễu chạy qua. Phần bên trong các đường băng và các hầm chứa máy bay được giao cho lính Mỹ bố phòng, canh giữ với một đại đội chó bẹc-giê, một tiểu đoàn an ninh phi trường và một tiểu đoàn quân cảnh, gác nhà riêng cho tướng Oét-mo-rơ-len và bọn sĩ quan cao cấp. Còn bên ngoài, những tiểu đoàn “con cưng” ngụy như biệt động quân, thủy quân lục chiến “Hải thuyền sát cộng”… được tung ra bảo vệ và ngăn chặn đối phương từ xa.

Mặc dù đã được phòng bị có vẻ “tận răng” như vậy nhưng bọn tướng tá chỉ huy mật vụ, thám báo hàng ngày vẫn trà trộn vào vùng dân cư xung quanh sân bay để dò la, phát hiện các hoạt động của quân giải phóng.

Oét-mo-rơ-len và bọn đầu sỏ chiến tranh ở “lầu năm góc phương Đông” này rất hài lòng về kỳ công ở Tân Sơn Nhất. Cơ quan MACV với biệt hiệu “Thanh gươm ngăn chặn làn sóng đỏ” không ngớt huênh hoang về cái căn cứ không quân cỡ bự này, nơi đã tung ra những trận tấn công khủng khiếp bằng pháo binh và không quân vào đối phương.

Bành Văn Trân và các chiến sĩ trinh sát đặc công dường như thuộc lòng cách bố trí và quy luật hoạt động của địch trong sân bay. Thuộc đến mức anh có thể cầm bút phác hoạ lại một cách mạch lạc từng chi tiết sơ đồ bố phòng của chúng. Nhưng để có được một cái “bản đồ thuộc lòng” công phu như thế, anh đã phải cùng đơn vị trải qua những ngày điều nghiên thật gian khổ.

Nhiệm vụ đánh sân bay đã được quyết định từ tháng 7 năm 1966. Khi Mỹ mở rộng chiến tranh, dùng không quân đánh phá thủ đô Hà Nội, để đáp lại lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Bộ chỉ huy quân khu Sài Gòn – Gia Định chỉ thị cho tiểu đoàn biệt động F.100 hãy bằng lối đánh “đặc công biệt động làm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng ở sân bay Tân Sơn Nhất”

F100 là đơn vị biệt động được thành lập năm 1965, hoạt động chiến đấu trong các quận nội thành Sài Gòn và đã được đồng bào tận tình nuôi dưỡng, đùm bọc, giúp đỡ. Đơn vị này đã chiến đấu hàng trăm trận lớn nhỏ, trong đó có trận tập kích cụm xe Mỹ ở phía tây nam ngã tư Bảy Hiền, phá hủy 98 xe quân sự và diệt gần 100 tên địch, đã gây được một tiếng vang lớn trong thời kỳ đầu đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền nam, thực hiện “chiến tranh cục bộ” của chúng.

Tháng 10 năm 1966, phân đội trinh sát của F100 được phái đi từ một vị trí ém quân trong cơ sở ở khu vực Tân Trụ. Bành Văn Trân và Tư Khinh đưa hai tổ trinh sát luồn sâu vào trong sân bay, bí mật trụ lại. Hai tổ miệt mài nghiên cứu tình hình và thực địa cả ngày lẫn đêm, thỉnh thoảng mới thay phiên nhau trở ra khu vực kênh Tham Lương và ấp Tân Trụ nghỉ “xả hơi”. Chẳng nề nguy hiểm, Trân cải trang thành phu lao động để lọt vào sâu hơn trong sân bay, quan sát từng lô cốt, ụ súng, các chiến hào, cách cấu trúc đồn bót, hệ thống đèn kiểm soát… Có lần, Trân cùng đồng đội phải chịu nhịn đói, nhịn khát ba ngày liền vì cần thiết phải bám vị trí điều nghiên và đảm bảo bí mật cho trận đánh. Anh thận trọng áp sâu vào khu trung tâm, có khi chỉ cách địch năm, bảy chục mét, có khi phải tìm một địa thế cáo để thấy rõ hơn hoạt động của bọn lính. Có lúc anh phải chịu sự căng thẳng cùng cực vì những loạt đèn pha cực mạnh quét sáng lòe ở cự ly quá gần…chỗ anh nấp.

Trong quá trình trinh sát, phân đội đã phát hiện ra một vấn đề đáng lưu ý: Có một kho bom nằm cạnh bãi máy bay, đánh kho bom dễ, nhưng muốn vào được kho bom thì phải vượt qua bãi đậu máy bay phản lực và trực thăng. Vì thế, khi đánh thì phải đánh cả kho bom và bãi đậu ngay cùng lúc. Ý kiến này đơn vị đề xuất báo cáo lên cấp trên và được chấp thuận. Không khí chuẩn bị đánh thật khẩn trương. Trân suốt này cùng anh em đắp sa bàn rồi quay ra tập đánh. Mọi người đều đang đón chờ giây phút chính tay mình trừng trị quân giặc, trả thù cho đồng chí, đồng bào. Ai đã từng trải qua những trận công kiên, tập kích mới thấu hiểu tậm trạng của những chiến sĩ cảm tử sắp bước vào trận đánh.

Sự nôn nao chờ đợi làm cho thời gian trôi đi một cách chậm chạp. Nhưng rồi cái ngày ấy đã tới. Bộ chỉ huy Quân khu hạ lệnh cho tiểu đoàn biệt động F100 tập kích sân bay Tân Sơn Nhất. Đơn vị phối hợp chặn tiếp viện là tiểu đoàn 6 Bình Tân, một đơn vị rất thân thiết trong hiệp đồng chiến đấu với F100.

Ngày 22 tháng 12 năm 1966, khi trời vừa xẩm tối, tiểu đoàn rời khỏi vườn thơm (dứa) Lý Văn Mạnh, cắt qua lộ 10 băng về phía “ấp chiến lược” Tân Hóa. Tất cả mọi người đều trong trang phục rằn ri kiểu lính biệt động quân của địch. Sau một ngày ém trụ, chờ trời tối, đơn vị tiếp tục hành quân tiến thẳng về mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất. Tại vị trí tập kết cuối cùng, các mũi xung kích triển khai đội hình tiếp cận địch. Lúc này, các đơn vị trợ chiến, chặn viện, dân công tải đạn, tải thương… cũng đã có mặt theo quy định.

Chính trị viên Bành Văn Trân và đội trưởng Nguyễn Văn Kịp (tức Đồng Đen) cùng đi trong đội hình của phân đội xung kích 1. Tuy hai người phụ trách hai nhiệm vụ khác nhau nhưng cả hai đều giống nhau ở chỗ đánh giặc gan lỳ, linh lợi. Trong mọi nhiệm vụ, họ chỉ biết “bàn vô”, “làm tới”, “xông lên” chứ không biết chần chừ, tháo lui.

Sau khi vượt quan những đồng ruộng sình lầy và con kênh Tham Lương ngập nước để tiếp cận sân bay, đơn vị được tin 5.000 lính Mỹ vừa đổ xuống trong và ngoài sân bay để chuẩn bị cho trận càn lớn mang tên Xê-đa-phôn. Trận hội ý chớp nhoáng với Đồng Đen quyết định họp chi bộ chớp nhoáng. Mọi người đếu quyết tâm “đánh!”.

Các mũi xung kích tiếp tục dùng kỹ thuật đặc công lần lượt vượt qua những hàng rào treo lủng lẳng những ống lon, ống bơ (nhằm khua lên tiếng báo động khi có người chạm phải), những hào sâu, bãi mìn… thâm nhập vào các vị trí đã định. Trân đích thân cắt hết từng hàng rào này đến hàng rào khác mở đường cho đơn vị tiến lên.

Lợi dụng triệt để mọi sơ hở của địch, Trân và Đồng Đen đưa đơn vị vào vị trí ém quân. Đơn vị đã lọt vào giữa sân bay một cách bí mật và nằm phục chờ tới giờ hiệp đồng nổ súng. Lúc này đã hơn 10 giờ tối.

Trong lúc mọi người còn đang chưa hết choáng ngợp trước cảnh đồ sộ rộng lớn của sân bay, thì bỗng một chiếc xe jeep tuần tiễu từ đâu lù lù chạy tới pha đèn thẳng vào ngay giữa đội hình mũi xung kích 1. Năm tên lính trên xe vô cùng sửng sốt khi phát hiện ra đám lính “rằn ri” lấm lem, nhếch nhác nằm phục trên đường băng. Khẳng định là mình đã bị lộ, Đồng Đen ra lệnh cho phân đội nổ súng chiến đấu. Khi những tên giặc còn như kẻ nằm mơ chẳng hiểu ra sao thì một quả đạn B40 gầm lên, một đám lửa màu da cam phủ lấy chiếc xe jeep, hất chúng văng ra nằm bất động trên nền bê tông xi măng. Chiếc máy truyền tin không còn chủ vẫn ọ oẹ một mình, liền bị mấy phát đạn AK bồi thêm làm cho câm bặt. Các mũi tiến công khác nghe súng nổ cũng lập tức nã đạn dữ đội vào các mục tiêu và binh lính địch làm cho cả sân bay náo loạn. Còi báo động inh ỏi rú lên cấp cứu. Hòa với tiếng súng bộ binh, đạn cối 60mm của phân đội hỏa lực cấp tập rót xuống đài chỉ huy sân bay, khu thông tin và khu nhà ở của bọn giặc lái, ngăn không cho chúng tiếp cận để lên máy bay.

Phân đội xung kích vừa tấn công khu nhà ở của bọn sĩ quan vừa nhanh chóng triển khai về phía mục tiêu. Tại đây, bọn địch đang túm lại từng tốp nhớn nhác chưa hiểu ra việc gì liền bị bắn chết như rạ. Những tên bị thương rống lên ghê rợn trong đêm.

Trong khi đó ở khu giữa sân bay, thực sự xảy ra một trận kịch chiến ác liệt. Đúng như dự đoán, đây là nơi tranh chấp quyết liệt nhất. Bộ binh Mỹ, xe bọc thép liều chết xông tới. Các xạ thủ AK, B40 bắn rát về phía địch, ghìm chúng xuống để các chiến đấu viên khác gài lựu đạn vào cánh các máy bay phản lực. Những chiếc máy bay vận tải cao lớn dềnh dàng, các chiến sĩ phải trèo lên mới tung lựu đạn vào trong được. Những tiếng nổ rộ lên, mặt đất rung chuyển, khói lửa tràn ngập sân bay. Bọn địch bắn pháo hiệu cầu cứu màu đỏ vun vút lên bầu trời. Bành Văn Trân và Đồng Đen vừa chiến đấu vừa bình tĩnh chỉ huy đơn vị diệt từng tốp máy bay và đánh trả bộ binh, xe tăng địch. Hình như không ai biết mệt, thi nhau trút lửa căm thù về phía kẻ thù. Có chiến sĩ phá hủy tới 20 chiếc máy bay mà vẫn còn xông xáo đánh tiếp những chiếc khác. Có chiến sĩ bắn hết đạn lại lao lên nhặt súng kẻ thù bắn tiếp. Trong cơn hoảng loạn địch cố sức điều động xe bọc thép đến giải vây, tiếng động cơ hậm hự, gầm rú vang lên càng làm cho không gian thêm náo động. Các chiến sĩ biệt động dùng xác máy bay địch làm công sự chiến đấu đánh trả lại chúng. Nhiều chiếc xe bọc thép bị trúng đạn cố rấn lên rồi khựng lại, bốc cháy sáng rực trên đường băng.

Tình thế địch trong sân bay càng lúc càng nguy ngập. Chúng tung thêm một chiến đoàn xe bọc thép và một đại đội Mỹ ra hòng bít chặt cửa mở thì gặp ngay mũi xung kích 4 của biệt động nổ súng đánh chặn quyết liệt. Thêm nhiều xe bọc thép của địch trúng đạn bốc cháy ngùn ngụt. Trong khi đó, đại đội 1 chặn viện cũng đang quần nhau với địch ở phía ngoài.

Đã quá nửa đêm.

Một tổ của mũi xung kích 2 nghi binh phía cửa mở, bị địch phát hiện, chúng xua chó bẹc-giê xông vào đội hình tổ đặc công cắn xé. Quả là bọn “lính chó” có lì lợm hơn những tên lính có trách nhiệm bảo vệ sân bay. Nhưng rồi cả bọn chủ lẫn chó đều lần lượt bị quật ngã trước những loạt súng AK chính xác của các chiến sĩ biệt động.

Phân đội cối 60mm, sau khi hoàn thành nhiệm vụ liền cấp tốc rút ra khỏi khu vực đuờng băng. Nhưng đến chiến hào thứ tư thì đụng lính Mỹ. Trận chiến đấu mới này diễn ra không cân sức và rất ác liệt. Các pháo thủ sau khi ném hết lựu đạn thì phải xông vào đánh giáp lá cà với địch. Tư Nông (biệt danh Tư thủ pháo) bê cả dàn đế súng cối nện xuống đầu những tên lính Mỹ cao lớn đang vật lộn với đồng đội của anh. Sau một lúc chiến đấu với tài nghệ đặc công, phân đội rút ra khỏi trận địa dưới làn đạn 12,7mm của địch trút ra như mưa. Các đồng chí nữ du kích Tân Sơn Nhì đã đón gặp phân đội súng cối gần hãng dệt Vi-na-tếch-cô và đưa về khu an toàn.

Mũi xung kích 2, sau khi đánh xong bã máy bay phản lực, liền phát triển hướng tấn công vào hướng nhà Nguyễn Cao Kỳ. Hai quả B40 lao vút tới phá sập một góc nhà viên tướng “cao bồi” sừng sỏ này. Chiếc trực thăng và cả chiếc xe hơi Mẹc-xê-đéc, phương tiện cứu mạng của Kỳ bị trúng đạn trở thành vô dụng. Kỳ phải dùng một chiếc xe Jeep thoát thân.

Bành Văn Trân trèo lên nóc nhà hầm máy bay quan sát thấy dường như các mục tiêu đã cơ bản giải quyết xong liền ra lệnh cho đơn vị rút ra.

So với lúc đột nhập vào, thì việc rút ra khỏi sân bay thật sự khó khăn gấp bội. Phải mở một con đường máu, đánh thốc vào đội hình quân tiếp viện của địch. Trân nhắm hướng đưa đơn vị luồn hàng rào, vượt chướng ngại vật rút lui. Hai chiếc AD6 của địch bay lên chiếm lĩnh bầu trời từ khi trận đánh mới nổ ra. Bây giờ chúng vẫn xoay tròn trên đầu, không ngớt tung từng chùm pháo sáng soi đường cho bọn dưới đất phản kích quân giải phóng. Bầu trời sáng rực như ban ngày, nhìn đâu cũng thấy lố nhố những lính Mỹ, xe bọc thép, xe GMC vây bủa. Địch đã đổ thêm quân để lấy xác đồng bọn và khép chặt vòng vây vào đội hình quân giải phóng. Trân và Đồng Đen mở máy thông tin liên lạc với đơn vị chặn viện ở khu vực cầu Tham Lương. Qua đó được biết đại đội 1 tiểu đoàn 6 Bình Tân đang quần nhau với tiểu đoàn “Trâu điên” của thuỷ quân lục chiến địch từ Gò Vấp kéo sang và đại đội “hải thuyền sát cộng” ở hướng ngã tư Bảy Hiền kéo lên. Đại đội 2 của tiểu đoàn Bình Tân cũng đang giao tranh ác liệt với với bọn viện binh ở yếu khu Ngã năm chuồng chó đến tiếp viện. Đại đội 1 báo là đã bắn rơi một máy bay khu trục ở đoạn từ câù Tham Lương đến hãng dệt Vi-na-tếch-cô.

Đơn vị đang tìm cách “dùi” ra thì bất ngờ một chi đội xe bọc thép từ trong sân bay thọc ra án ngữ khu vực cửa mở. Đồng Đen liền tổ chức một tổ chiến đấu 3 người bám sát đánh kìm chân địch. Trong nháy mắt, xạ thủ B40 bắn quỵ thêm 1 xe. Nó cháy ngùn ngụt cùng với 5 xác xe bọc thép khác do mũi xung kích 4 tiêu diệt trong đợt tấn công trước đó.

Đơn vị vẫn chưa dứt ra khỏi cá hàng rào dày đặc lính và xe Mỹ đang chấn giữ “cổng chính”. Những lần tấn công mở đường đều không thành. Địch vẫn tập trung hỏa lực khống chế, cố giữ đối phương lại chờ trời sáng để tiêu diệt. Tình hình căng lên như dây đàn chực đứt. Thêm một số chiến sĩ hy sinh, một số khác đã bị lạc, các tay súng còn lại quá ít ỏi trước quân Mỹ. Đã hai giờ rưỡi sáng. Trân và Đồng Đen mở hướng khác dẫn đơn vị vượt ra. Nhưng cũng như những lần trước: luồn lách dưới bầu trời pháo sáng, trực thăng rà sát đầu bắn rát. Ba người nữa hy sinh, lại thêm ba người nữa đi lạc. Đơn vị đành phải luồn trở vào sân bay củng cố lại đội hình.

Đến lúc này, trời đã sắp rạng sáng. Mỗi giây phút trở nên quý giá vô cùng. Đầu óc Trân căng lên: không lẽ để chúng “cất vó” hết hay sao? Đã đưa anh em vào được thì phải đưa ra cho bằng được. Anh nhớ các chỉ huy đã căn dặn: “…đánh thắng nhưng phải cố gắng bảo đảm an toàn lực lượng ở mức cao nhất, bởi vì các đồng chí, mỗi người đều là một vốn quý”. Trong tình huống gay go này, hành động của người chỉ huy là quyết định. Trân hiểu tất cả anh em đang chờ đợi sự xử trí của anh.

Trân ra giấu cho mọi người nằm ép xuống cỏ, còn anh nhô lên quan sát mọi phía. Lát sau, anh dẫn đơn vị lách qua một tháp canh. Tên lính gác trông thấy, mất cả thần hồn, chân ríu lại không sao chạy nổi. Hắn ngỡ đâu toán người lạ từ dưới đất mọc lên, cứ trố mắt nhìn, rồi bước thụt lùi, lùi mãi, rồi rơi tõm xuống cái giếng sau lưng.

Vừa qua khỏi cơn nguy hiểm, đơn vị của Trân vượt được quãng đường chừng 200m thì đụng một lô cốt. Một tên lính từ trong boong ke vụt ra, ngơ ngác hỏi:

– Đơn vị nào đó?

Trân hét ngay vào mặt hắn:

– F10

– D nào?

– Con khỉ. Đã bảo F10 còn hỏi D nào.

Thấy không ổn, tên lính nhảy xuống hầm, xả một loạt đạn cạc bin thay cho sự xét hỏi. Hắn bắn khá tồi nên đạn bay sượt trên chiếc mũ vải của Trân. Trân vẫn bình tĩnh:

– Này, làm trò khỉ gì vậy?

Nói rồi anh khoát tay cho đơn vị vượt qua lô cốt. Được mấy bước, Trân ngoái lại dằn mặt hắn:

– Liệu hồn. Bắn tụi tao, tao cho thấy mẹ bây giờ!

Tên lính sợ, im thin thít.

Tên lính bị lọt giếng lúc nãy, bây giờ đã mò lên được, chạy vào trại báo động. Địch hốt hoảng xối đạn bắn theo. Mặc. Trân đưa đơn vị vượt qua 3 hàng rào nữa và một bức tường cao, vượt tiếp mấy hàng rào bùng nhùng kẽm gai khác, thoát ra ngoài chu vi sân bay, cắt đường về hướng trại Hoàng Hoa Thám.

Trời sáng rõ. Mọi người đã trông thấy những chiếc dù trắng pháo sáng của địch rơi lốm đốm trên các cánh đồng mùa khô của Gò Vấp và Hóc Môn. Đơn vị cắt tới một con lộ lớn khác, bỏ những đám khói còn nghi ngút trong sân bay lại khá xa. Ai cũng thấy nhẹ nhõm, mong mau về tới nơi cơ sở ém quân. Bất ngờ xuất hiện một tốp dân vệ bên cạnh nhà thờ Tân Phú. Đội trưởng Đồng Đen tay vẫn cầm khẩu côn 12 ly giả vờ ghé thăm hỏi chúng. Địch hoàn toàn không nghi ngờ và tra xét gì. Đơn vị tiếp tục hành quân về Lộc Hòa. Trên cánh đồng lác đác có người đi lượm (nhặt) dù pháo sáng. Một tên lính dân vệ mang súng M16 từ đâu đi lại. Biết tâm lý bọn lính địa phương rất sợ bọn lính “biệt động quân”, một chiến sĩ nhanh miệng:

– Trung úy xét bắt thằng đó đi!

Trân ra dáng sừng sộ đi tới:

– Ê, mày làm gì đó?

Tên lính run lập cập:

– Dạ, con đi lượm dù trái sáng.

– Lượm làm gì?

– Dạ, con đem về làm mùng (màn).

Tên dân vệ vừa nói vừa cuộn mấy tấm vải dù trắng xóa bừa bộn lại. Sợ hắn giấu lựu đạn trong đó, Trân quát:

– Bỏ xuống!

Thấy tên dân vệ còn trù trừ. Trân lên đạn đánh rốp một cái, hắn liền bỏ dù xuống, hai tay đưa lên đầu. Trân hô “Bước!”. Hắn ngoan ngoãn bước đi, chốc chốc lại ngoái cổ ra sau vẻ lo lắng. Thấy đây là một cơ hội tốt, Trân lệnh cho hắn dừng lại hỏi:

– Anh có biết chúng tôi là ai không?

Tên dân vệ có vẻ ngạc nhiên. Hắn lập bập định nói điều gì thì Trân đã át đi:

– Chúng tôi là quân giải phóng về đây để trừng trị giặc Mỹ. Anh nghe súng nổ hồi hôm rồi chứ? Chúng tôi có thể trị nốt anh. Nhưng nếu anh thấy rõ việc anh cầm súng cho giặc là có tội với nhân dân, từ bỏ con đường đánh thuê cho giặc, góp phần giải phóng quê hương, chúng tôi sẽ khoan hồng.

Tên lính vâng dạ luôn miệng và năn nỉ được tha chết. Sau đó hắn chỉ đường cẩn thận cho đội biệt động về nơi an toàn.
Trận tập kích vang dội này của đơn vị biệt động F100 đã phá hủy 260 máy bay các loại, 1 kho bom 200 tấn, 13 xe quân sự, tiêu diệt và làm bị thương 600 sĩ quan, binh lính Mỹ, ngụy. Làm kinh hoàng những tên chóp bu ở nhà Trắng. Tướng Óet-mo-rơ-len khi đến hiện trường đã phải bật lên than thở “Đây là một trận đánh tệ hại nhất từ trước đến nay đối với chúng ta”.

Thảo luận cho bài: "BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN-Tập kích sân bay Tân Sơn Nhất"