Biểu tượng hoa văn trên bộ trang phục của người Tà Ôi, Thừa Thiên – Huế

Tác giả:

(Cinet – DTV) – Hoa văn có vai trò quan trọng đối với bộ trang phục truyền thống của người Tà Ôi, Thừa Thiên Thuế. Nó không chỉ đơn thuần là một hình thức trang trí, tạo vẻ đẹp cho bộ trang phục mà thông qua đó chúng ta thấy được đời sống sản xuất, lao động, sinh hoạt, giao lưu văn hóa cũng như quá trình phát triển lịch sử của một tộc người.

hue-taoi1

Để làm nên một bộ trang phục của ngươi Tà Ôi, hết sức công phu từ công đoạn tìm và tạo chất liệu vải cho đến vật liệu bộ khung dệt và dệt. Dệt những bộ trang phục thông thường đã khó và khi chèn cườm lại càng khó hơn. Bởi lẽ những nét hoa văn họ sáng tạo ra không chỉ để trang trí thuần túy mà còn mang biểu tưởng của một xã hội tộc người…

Biểu tượng cuộc sống qua hoa văn trên trang phục của dân tộc Ta Ôi có thể chia làm 8 loại chủ yếu sau:

Biểu tượng cố kết cộng đồng: gồm có 6 hình ảnh tiêu biểu. Đó là Trmóq pakoóm – “Tương hợp, giao hòa”, Karboóq trmóq – “Đoàn kết một lòng”, Siteeng teeng r-al – Liên kết tỏa sáng, Siteeng teeng pakhâm – “Liên kết bền vững”, charbeeng – “Cầu nối đơn”, Charbeeng kloak – “Cầu nối đôi”. Như chính tên gọi, các hình ảnh trên quy tụ thể hiện tính cố kết ở mọi phương diện cuộc sống để cùng tồn tại và phát triển. Và đó cũng là đặc trưng đáng trân trọng và cần khai thác triệt để để tiếp tục làm nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội Ta Ôi thời hiện đại.

Biểu tượng lao động và sản phẩm lao động:  là chuỗi hình ảnh về phương tiện lao động, sản phẩm lao động và vai trò lao động của người phụ nữ. Hình ảnh về phương tiện lao động gồm: Kanooi – “Cái ổ” để chăn nuôi; Apơat – “Cái trỉa” để trồng trọt; Apoóh tiho – “Bẫy sập”, Aram – “Cái đơm”, Anoók – “Cái xúc cá”, Mbeen – “Cái lưới” để săn bắt; Karta – “Cầu thang” để cất giữ, sấy khô lương thực, thực phẩm. Hình ảnh về sản phẩm lao động có thể từ việc trồng trọt mà có như Tôm a-úm – “Cây ngô”, Tôm khăn – “Cây sắn”, Tôm aro – “Cây lúa”, Kallong atuang – “Hạt đậu” nhưng cũng có thể hái lượm sản vật rừng núi sông suối như Abăng – “Mụt măng”, Pir Arui – “Hoa đỗ quyên”, Kartoonh – “Rau rớn”,…. Hình ảnh thể hiện vai trò lao động của người phụ nữ duy nhất là Klikloóh – “Đàn bà giã gạo” hay cũng chính là hình ảnh Mẹ lúa. Trong lao động để tạo ra thu nhập thường nhật cho gia đình, cộng đồng, trụ cột lại chính là phụ nữ.

Biểu tượng chiến đấu thể hiện rõ nhất qua 6 hình ảnh: Khêl – cái khiên, Talleau – “cái kiếm”, Kos – “Giáo”, Chiroóng – “Chông”, Tarăh – “Mũi tên”, Karring – “Hàng rào kiên cố”. Nhữnh hình ảnh này vừa là vũ khí giao tranh với đối phương khi xảy ra cuộc chiến vừa là phương tiện bảo vệ, an toàn, ổn định cuộc sống cộng đồng nhưng cũng vừa là thông điệp chủ quyền, sở hữu về một vùng, một khu vực nào đó. Dân tộc Ta Ôi cũng như các dân tộc khác ở vùng Bình Trị Thiên, đã từ lâu dấy lên tinh thần yêu nước thương nòi. Ngay từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng hồi đầu công nguyên dưới cái tên người Lý ở vùng Ô Lý, người Ta Ôi đã cùng hợp lực nhất tề đứng lên đánh đuổi giặc Hán. Rồi đến các cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Tây Sơn, chống thực dân Pháp, chống phát xít Nhật và chống đế quốc Mỹ, lòng vẫn không sờn, họ đem cả sức người sức của phục vụ kháng chiến cùng các dân tộc khác của Việt Nam. Chỉ bằng những thứ vũ khí thô sơ ấy mà đã có bao nhiêu người con Ta Ôi lập nên kì tích. Anh hùng liệt sĩ A Vâu (xã Hồng Kim, huyện A Lưới), đã đào hố thả chông, đặt bẫy giết nhiều tên Mỹ, nguỵ; Hồ Thị Đơm (xã A Ngo, huyện A Lưới), đặt chông, hái lá rừng ủ men thả vào đoạn sông mà kẻ thù thường xuyên uống ăn,…

Thảo luận cho bài: "Biểu tượng hoa văn trên bộ trang phục của người Tà Ôi, Thừa Thiên – Huế"