Bohemian Rhapsody.

Tác giả:

Bữa nay November 24th, mình nghe Queen thay đổi không khí hén.

Queen là ban nhạc rock hồng mao với 4 trự đực rựa, nổi tiếng vào giữa thập niên 70.
Queen viết nhạc, viết luôn hòa âm phối khí cho chính mình. Đây là những nghệ sĩ đầy năng khiếu nghệ thuật và óc sáng tạo. Liệt kê nhơn sự ra như sau :
Freddie Mercury : Ca sĩ chánh, piano.
Brian May           : Lead guitar, ca sĩ phụ.
John Deacon      : Bass guitar.
Roger Taylor      : Drums.

1.
Bohemian Rhapsody có lẽ là bản nhạc đưa Queen lên đỉnh danh vọng, do Freddie sáng tác. Lạ cả về hình thức lẫn nội dung, đây một ballad trộn lẫn opera và hard rock.  Lời của bài hát đầy riêng tư, bí ẩn tới độ… tối hù, và người ta vẫn chỉ đoán mò chớ chưa hiểu một cách rõ ràng chánh xác.
Chi phí thu âm của bản nhạc này cho tới nay vẫn được coi là tốn kém nhứt, dẩn đầu trong kỷ lục Guiness. Năm 1975, Bohemian Rhapsody là single đứng đầu top hit âu châu ròng rã 12 tuần. Và năm 1991, với cái chết của Freddie Mercury, Bohemain Rhapsody lại một lần nữa dần đầu top hit trở lại.
Video clip dán sau đây được thu live tại Montreal năm 1981 

2.
Who Wants To Live For Ever (… when love must die !). Sáng tác của Brian May, viết cho phim Highlanders.
Một hãng xưởng bỏ phế đã được trang trí lại thành nơi thu hình video clip sau đây, cùng với dàn Royal Philharmonic orchestra, 40 trẻ em giữ phần chorist và hàng ngàn ngọn nến.
Phần đầu do Brian hát, và toàn phần sau do Freddie. Tiếng hát của Freddie có lẽ tới nay, theo ý riêng tui, vẫn chưa có người kế vị… King of the kings… Cream of the creams…
(Roger, trong bài này, múa dùi trống dòm mê quá xá mê nha trời)

 

3.
Love  of My Life,

http://www.youtube.com/watch?v=U1uTt32Hnco

thu live, cũng tại Montreal …. úm ba la..

4.
Let Me Live

 

Bohemian Rhapsody.
*

 

Queen biography tiết lộ một thông lệ nhóm : Bài hát cho dù ai viết nhạc, người đặt lời sẽ là tác giả của nó. Riêng hoà âm và phối khí thì thường bao giờ cũng là phần đóng góp chung theo nhạc cụ sở trường của các thành viên. Thông lệ này đã dẫn đến việc hầu như các thành viên đều cố gắng viết lời cho nhạc của mình để khỏi bị mất “sở hụi”. Mãi sau này, thông lệ được xóa bỏ và các bài hát đã được ký một tên duy nhứt : by Queen.

BH trình làng vào khoảng cuối hè 1975, điều này phải được hiểu như là tác giả của nó, Freddie Mercury, đã thai nghén đứa con tinh thần từ trước đó, khi thông lệ về “chủ quyền” bài hát vẫn còn. Và nhạc lẫn lời bài hát là công lao hoàn toàn của Freddie.

Bài hát được chia làm 5 phần, trong đó phần I là capella (hát bè không có nhạc), phần II là ballad, phần III Opera, phần IV Hard rock và phần V trở lại Ballad để đi vào kết thúc.
Như lệ thường, dòng nhạc được modulate liên tục, chen lẫn những đoạn solo của Brian (guitar) John (bass) và Roger (drums) theo đúng tinh thần và âm hưởng nhạc… Queen !

I. Introduction.
Is this the real life? Is this just fantasy?
Caught in a landslide. No escape f-rom reality
Open your eyes. Look up to the skies and see
I’m just a poor boy (Poor boy). I need no sympathy
Because I’m easy come, easy go
Little high, little low. Any way the wind blows
Doesn’t really matter to me, to me

 

II. Ballad.
Piano music…

 

– 1[sup]st[/sup] verse
Mamaaa just killed a man
Put a gun against his head
Pulled my trigger, now he’s dead
Mamaaa, life had just begun
But now I’ve gone and thrown it all away
Mamaaaaaa, ooooooooh
Didn’t mean to make you cry
If I’m not back again this time tomorrow
Carry on, carry on as if nothing really matters

 

– 2[sup]nd[/sup] verse.
Too late, my time has come
Sends shivers down my spine
Body’s aching all the time
Goodbye, everybody
I’ve got to go
Gotta leave you all behind and face the truth
Mamaaaaaaaaaaaaaa, oooooooh (Anyway the wind blows)
I don’t want to die
Sometimes wish I’d never been born at all

 

[Guitar Solo]…..

 

III. (Mock…) Opera
I see a little silhouetto of a man
Scaramouch, Scaramouch, will you do the Fandango
Thunderbolt and lightning, very, very frightening me
(Galileo) Galileo (Galileo) Galileo, Galileo Figaro
Magnifico-o-o-o-o
I’m just a poor boy nobody loves me
He’s just a poor boy f-rom a poor family
Spare him his life f-rom this monstrosity

 

Easy come, easy go, will you let me go?
Bismillah! No, we will not let you go. Let him go
Bismillah! We will not let you go. Let him go
Bismillah! We will not let you go. Let me go (Will not let you go)
Let me go (Will not let you go) (Never, never, never, never)
Let me go, o, o, o, o.
No, no, no, no, no, no, no
(Oh mama mia, mama mia) Mama Mia, let me go
Beelzebub has the devil put aside for me, for me, for me!

 

IV. Hard rock
So you think you can stone me and spit in my eye
So you think you can love me and leave me to die
Oh, baby, can’t do this to me, baby
Just gotta get out, just gotta get right outta here

 

[Guitar Solo]
(Oooh yeah, Oooh yeah)…

 

V. Ballad…
Nothing really matters.Anyone can see
Nothing really matters. Nothing really matters to me
Any way the wind blows…

Đoạn introduction capella (phần I) và Opera (phần III) hoàn toàn là của Freddie, viết và phụ trách thực hiện khi thâu âm. Cũng chính hai phần này đã đưa BR vào Guiness Record về chi phí tốn kém !
Tốn kém như thế nào ?
Thường khi thu âm một bài hát (trừ nhạc classic) bao giờ phần nhạc cũng được thu trước.
Tưởng tượng dzầy hén : Một cái khung với âm điệu chánh được dựng lên làm sườn (như sườn nhà) để các nhạc cụ nương theo đó mà “trang trí” đóng góp bằng phần chơi của mình. Các phần này hoàn toàn thu riêng. Kế đó chúng mới được ráp chung lại (mixing) để trở thành phần nhạc. Ca sĩ sẽ là người góp giọng (giọng chánh) sau cùng.

Cách thu này có cái lợi là phần thu âm của các thành viên hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc vào nhau, thành nếu có sai thì sửa sai cũng dễ, chưa kể là… trong kinh doanh sau này, phần nhạc có thể còn được bán để dân nghiền hát mần màn… karaoke !

Freddie viết đoạn I và III với ý hướng sáng tạo “đưa opera vào rock”, do đó hai đoạn nhạc này đã được viết cho nhiều bè theo kiểu ca đoàn. Rồi ngon lành nữa là… thay vì mượn ca đoàn thứ thiệt hát dùm, Freddie để tứ nhân bang hát luôn cho gọn.

Technical terms tui thiệt sự hổng rành, nên phần viết sau đây có thể không hoàn toàn chánh xác, xin bà con đọc với tinh thần… cẩn trọng.
Nên nhớ rằng, ở thời điểm 1975, kỹ thuật phòng thu chưa tinh tế như bây giờ. Máy thu lúc ấy mới chỉ có 24 “dòng” (bây giờ đã tới bao nhiêu thì tui chưa kịp hỏi nên hổng rõ).

Để tạo một lực lượng nhân sự hùng hậu cho cái ca đoàn chỉ vỏn vẹn 4 người ấy, mỗi thành viên với phần bè của mình, đã phải hát nhiều lần, thu nhiều lần… nên rồi người ta đã phải huy động thêm 3-4 phòng thu âm khác nữa cho đỡ tốn thì giờ.

Các phần hát bè ấy sau cùng đã được đặt chồng lên nhau (re-mix) để tạo nên âm thanh của một ca đoàn hùng hậu (nghe nói đã phải chồng lên như vậy tổng cộng tới 180 lần cả thảy – dễ nể hông trời).
Sau cùng thì chi phí tốn kém đã nhảy vọt và chạy thẳng luôn vào Guiness Record cho tới nay !

Đặc biệt cái nữa là… phần I hoàn toàn do Freddie mình ên “tự biên tự diễn”. Cu Fred mần ráo hết 4 bè, mix và re-mix tùm lum, cho dù trong clip nhạc, người ta đã cố ý quay mặt của tứ nhơn bang để… “đánh lừa” dư luận !

Vì nhiêu khê dzậy nên trong live show, hai phần I và III này, thoạt tiên, bao giờ cũng vắng bóng. Rồi sau nhằm “khắc phục khó khăn” với ý hướng sáng tạo “đột xuất” (trời trời nhuyễn nhừ ngôn ngữ hén), đoạn opera được thêm vào bằng cách thức như sau : Đèn sân khấu phụt tắt theo kiểu đêm trừ tịch, để khách thưởng lãm nghệ thuật nghe tape thu âm sẵn. Hết phần opera thì đèn bựt sáng trở lợi để dòng nhạc nổi loạn đi vào phần hard rock (phần IV)
Ngó vào hình thức bản Bohemian Rhapsody  thấy dzối dzắm dzậy, chừng chiếu cái kiếng lúp dòm dzô nội dung (tức lời hát) thì người ta còn ấm ớ nhiều lần hơn. Hổng hiểu đang xảy ra chuyện gì ? Người này hồ nghi có án mạng giết người (sát nhơn đền tội), người nọ đoán chừng  tác giả dùng hình ảnh để gián tiếp tiết lộ khuynh hướng đồng giới của mình. Một chuyên gia khác (đờn bà, dĩ nhiên) còn ngon lành phân tách, cho giọng cao giọng thấp trong các bè của 2 phần Capella và Opera là để ám chỉ cái khác biệt phái tánh nam và nữ, rồi tỉnh bơ kết luận, rằng… dòng nhạc Bohemian Rhapsody nóng bỏng dục tình… erotic ! Wow…. !

Queen Band dậy tăm tiếng vào thời diểm 75-80, nhưng chỉ ở châu âu và các xứ trong liên hiệp anh. Tại mỹ, nhạc của Queen chưa bò vào được Top Ten. Người việt y hình cũng ít biết đến Queen, vì rằng ở thời điểm này chúng ta còn đủ thứ chuyện phải lo, rảnh rang đâu mà để ý tới nhạc, nhứt là nhạc Rock vô bổ !

Hồi nẳm tui nghe Queen thì thích, mà thích vậy vậy sơ sài chớ hổng có thì giờ dòm chừng coi chúng tông tích ra sao, hát cái gì. Thấy 4 tên đực rựa trang điểm ăn bận lập dị, õng ẹo trên sân khấu.. ngộ hết sức ngộ ! Mà rồi… chúng đi tới đâu fans bu theo rần rần tới đó. Nghe vé concerts của Queen sold out cái vèo, lắm khi chỉ tic tắc trong vòng vài tiếng (tò mò… đi coi thử cho biết) thì tui nghĩ, chắc đây cũng chỉ là hiện tượng, thị hiếu tạm thời, cái kiểu “easy come easy go” vậy thôi, rồi tui quên khấy chúng luôn !

* * *

Đầu thập niên 80, xuất hiện trong cộng đồng “ghê gớm” và công đồng “chích choác” một hội chứng bịnh lý lạ lùng : Sau một cơn cảm cúm sổ mũi ho hen vớ vẩn, hệ thống miễn nhiễm (immune system) của người bịnh thinh không xuội lơ, rồi cơ thể dính tùm lum bịnh tật, và người bịnh chết dễ dàng vì mọi thứ vi sanh vật, ngay cả những loại thông thường lẽ ra không đủ độc để quất xụm con người !

Lôi bịnh nhơn ra đo thì thấy Helper T cell CD4 – một loại bạch cầu có số lượng trung bình trong máu 500-1200×106/L – thinh không từ từ sụt và sụt một cách đáng kể (lượng T cell CD4 này sẽ được dùng trong thẩm định tiến triển và “trị liệu” sau này).

Miễn nhiễm.
Phần sau đây, về hệ thống miễn nhiễm, có hơi dzắc dzối, tóm tắt ra cho những ai tò mò muốn biết (còn không tò mò thì bỏ qua luôn, đừng có phàn nàn tội nghiệp tui hén)

Miễn nhiễm là một cơ chế tự nhiên, chỉ thiệt sự được biết tới đầy đủ kể từ đầu thế kỷ 20, rồi được phát triển thành một ngành khoa học riêng với tên gọi Immunology.
Tóm gọn thì đây là một hệ thống phòng ngự rối rắm tinh vi tới diệu kỳ của cơ thể con người, thiếu nó là con người tiêu dên và tiêu lẹ. Miễn nhiễm đồng nghĩa với “sanh tồn trong môi trường bịnh tật”.

Hệ thống miễn nhiễm là khả năng nhận ra để “uýnh nhanh uýnh mạnh” nhằm triệt hạ “cừu nhơn” hổng thương xót. Miễn nhiễm còn có nghĩa là gim tên tuổi nó vào bộ nhớ bằng cách download các tín hiệu của nó, đặng mơi mốt hễ cứ thấy bóng dáng hơi hướm nó là a lát xô xông tới túm lấy mà thượng cẳng chơn hạ cẳng tay tiếp (cho mày chết luôn…)

Nói tới cơ chế miễn nhiễm là nói tới bạch cầu, vì vai trò chánh của hệ thống miễn nhiễm do đội thiện chiến quân leucocytes đảm trách.
Leucocytes tả xung hữu đột hung hăng một mất một còn với kẻ thù, những tác nhơn gây bịnh trong cơ thể (pathogens),
Khi pathogen lọt vào và tìm cách phát tán trong cơ thể, thì đội quân leucocytes hùng hậu được huy động liền. Trên thành tế bào của leucocytes có những  ‘khung cửa hẹp’, kêu bằng receptor, đây là những cái bẫy để dụ pathogen, một khi đã đưa chơn chạm dzô là a lê hấp… chim vào lồng cá cắn câu… mất mạng như chơi ngay ! Mạng bị mất vì bị đớp thẳng (há miệng nuốt ực cái), hoặc bị xuội lơ mất hết võ khí, rồi thong thả bị tỉa lần hồi.
(còn tiả hổng nổi pathogen thì cơ thể trở nên carrier, một hình thức cấy sinh tử phù, trở thành truyền nhơn sát thủ bất đắc dĩ của pathogen, mang nọc độc đi gieo rắc tùm lum trước khi bị hạ thủ !).

Dĩ nhiên bạch cầu phân ra làm nhiều loại, nhưng quan trọng nhứt hẳn phải là lymphocytes.
Lymphocytes là bộ máy đầu não của chiến tranh phòng chống xâm lăng, trong đó có hai loại lymphocytes chánh, B cell và T cell, với bộ nhớ memories rất nhạy và rất chánh xác.
B và T cell khởi sự hoạt động khi pathogens bám vào receptor. Cell có nhiều loại receptor để các pathogen chọn lựa theo gu theo taste. Cơ chế hoạt động của đám cell này như sau :

– Với B cell : Như đã nói, khi một vật lạ dính vào receptor của leucocytes nói chung và B cell nói riêng, nó sẽ bị tiêu diệt bằng nhiều cách : Hoặc nó bị nuốt trửng (phagocytosis), hoặc nó thành antigen, kích thích B cell tiết antibody mần màn thanh lọc kẻ thù. Bộ nhớ của B cell sẽ giữ tín hiệu kích thích này để mơi mốt nhanh lẹ sẳn sàng gởi quân vào chiến địa khi cần đến.
Antibody là hỗn hợp đạm, tổng hợp từ hơn 20 loại protid khác nhau, nên rồi… hổng có protein thì sẽ hổng có antibody. Ăn uống kiểu trường chay miết, thiếu protein (kể cả protein thực vật) thì lỡ có chi cũng… hơi kẹt !

– Với T cell : T cell so với B cell hổng nhặm lẹ bằng. Lý do là vì T cell hầu như mù và điếc, nó hổng nghe hổng thấy sự hiện diện của antigen. Rồi nó phải kiên nhẫn chờ “antigen processing” xảy ra cái đã.

Antigen processing là khi antigen bám vào một receptor thích hạp thứ nhì (gọi là co-receptor. Một số co-receptor đã được nhận diện và đánh dấu với ám số CD) Antigen processing nôm na “dán nhãn”. Nhãn này giúp T cell nghe và nhận ra pathogen, kích thíchcytotoxin tiết ra, cytotoxin là một chất độc (y chang bột anthrax hén) sẽ phơ gọn đối phương.

Hai loại T cell :
. Killer T cell : Nói theo soccer thì đây là những trung phong, attacker (spelling).
Killer T cell giữ nhiệm vụ làm bàn nghĩa là giết cừu nhơn bằng cytotoxin.
Co-receptor của Killer T cell mang số CD8.

. Helper T cell : giữ chân hậu vệ trong sân cỏ.
Helper T cell cũng bắn giết bằng cách thức cytotoxin, ngoài ra nó còn xăn tay áo mần màn thợ vịn cho  B cell và Killer T cell.
Co-receptor của nó khoác áo CD4 (nói ở trên).

Cái khác biệt giữa Killer cell và Helper cell là vận tốc tiết cytotoxin.
Killer cell rất nhạy, chỉ cần “nổ” 1 máy CD8 duy nhứt (the one and only) thì hệ thống miễn nhiễm đã  tưng bừng hoạt động, cytotoxin ào ạt tiết ra. Trong khi ấy, Helper cell lại ù lì, cần phải “nổ” rất nhiều máy CD4 thì hệ thống mới “cất cánh” đặng.
Gần đây giới khảo cứu còn tìm ra rằng, để tăng cường hoạt động optimal, B cell cũng có co-receptor mang ám số (y hình… dà làm biếng check…) CD19.

Immune system là “nhận diện” ra kẻ thù rồi “loại bỏ” kẻ thù sau đó . Cách khác, Immune system là nhìn ra self và non self, cái chi của mình thì để yên, cái chi hổng của mình thì… đục !
Nhận diện ra mình bằng cách đọc tín hiệu di truyền (genetic code) trong DNA ở nucleus tức nhân tế bào.

Nhưng…. ôi những cái nhưng làm rối rắm cuộc đời cell !
Đã xảy ra một rối loạn chi đó, hệ thống miễn nhiễm không còn toàn vẹn. Hoặc hệ thống bị cừu nhơn xâm chiếm và hủy hoại như trường hợp AIDS. Hoặc hệ thống miễn nhiễm không còn đọc được tín hiệu di truyền của chính mình nên hết còn phân biệt được self và non-self, thế là đụng đâu nó uýnh đó và uýnh càn, một hình thức tự hủy self destruction, thấy trong các bịnh có tên gọi chung là auto-immune.

*

Đầu năm 1980, hội chứng bịnh lý của AIDS được nhận diện trong cộng đồng “ghê-gớm” nam giới – gọi rôm rả vậy vì chúng ta đang ở thời điểm đầu của thập niên 80 hén, chớ còn thiệt sự “ghê” chẳng có gì là gớm, nó rất bình thường là khác nữa  – khiến người ta thoạt tiên nghi ngờ, rằng đây có thể là một loại bịnh auto-immune.
Giải thích như là… cơ thể nam giới thinh không nhận vào một lượng tinh dịch, trái cựa và…  trái chỗ. Thế là cơ thể bèn mần màn chống thù, cả thù ngoài (non-self) lẫn thù trong (self). Rồi vì chống hăng quá nên toàn hệ thống miễn nhiễm mới sanh ưu tư khắc khoải và tê liệt dần.

Đây là cách giải thích nguồn căn một loại bịnh còn quá xá mới lạ.
Tiếp sau đó, khi bịnh xuất hiện trong cộng đồng “chích choác” (cả ghê lẫn hổng ghê) thì người ta biết nó là một loại bịnh lây nhiễm bằng đường máu. Việc này đồng nghĩa với… giả thuyết auto-immune không đứng vững vì thiếu… cơ sở !

Tại mỹ,  3 thành phố có mật độ dân cư “ghê” và “chích” đông đúc và do đó có tỷ lệ bịnh tật cao là New-York, San Francisco và Los Angeles, nên rồi dựa vào những tường trình khoa học sơ khảo, bộ máy y học và y tế khổng lồ của mỹ rục rịch sang số, hướng thẳng vào “tâm bão”, mấn màn cân đong đo đếm, tìm tòi khảo cứu mong tìm ra trị liệu và phòng ngừa bịnh tật.

Vai rút gây bịnh AIDS ác ôn côn đồ y chang cộng sản. Nó là một loại phương trình dzô nghiệm trong toán học, làm ta lờ quờ hổng cách chi kiếm ra… đáp án !
Vậy dzồi dzắc dzối thiệt sự nó nằm ở khúc nào ?

Thưa ở khúc… tới nay chưa hề có phương thức điều trị vai-rút, hổng có thuốc men nào giết vai-rút đặng, bất kể là vai rút gì. Vai rút đến vai rút đi ai biết (thơ cải biên, thơ ai tui quên dzồi…) Cơ thể bắt buộc phải đơn thân độc mã chiến đấu với kẻ thù bằng vũ khí miễn nhiễm (leucocytes & antibody),  nếu có yểm trợ từ  bên ngoài thì cũng  bằng cách tiếp tế lương thực qua loa mà thôi – nghĩa là lăng xăng thợ vịn, châm dầu châm nhớt chùi bu-gi – để cơ thể dồn hết quân đội và vũ khí đạn dược vào chiến địa hầu rảnh tay một mất một còn với… cộng sàn. Hổng giết được vai-rút bằng yểm trợ vũ khí bên ngoài thì phải tìm cách chuẩn bị để quân đội thiện chiến bên trong sẵn sàng chớ sao nữa.

Đầu thế kỷ 20, y học tiến một bước dài, vaccin tức thuốc chủng chào đời. Chủng ngừa nghĩa là mang antigen vào cơ thể để kích thích việc tạo antibody như một đội quân trứ bị, sẵn sàng khi cần đến. Antigen này hoặc chỉ là một phần cấu trúc của pathogen (như trường hợp thuốc chủng pneumococci gây viêm phổi) hoặc là pathogen nguyên con đã được làm giảm độc tánh.

Nhưng…
Thứ nhứt : đưa pathogen vào cơ thể đôi khi cũng dzối dzắm cuộc đời vì side effect của thuốc chủng.
Thứ nhì ngay chính pathogen cũng tự biến chủng (mutation) để thích ứng, thế là có màn kháng thuốc, resistance, kháng với trị liệu và kháng luôn cả với thuốc chủng.
Vai-rút gây AIDS có tên gọi là HIV. Vậy dzồi HIV có chi đặc biệt mà độc địa ngang cơ cộng sản vậy hè ?
Thế là chuyện vai-rút lại có lý do để tán tiếp. Freddie và BR chịu khó chờ thêm xí nữa !

*

HIV, em là ai ?
HIV được coi là tác nhơn gây bịnh AIDS, tiếng việt là bịnh Liệt kháng.
Nói là nói vậy chớ vẫn chưa ngã ngũ hằn trăm phần dầu. Một số (ít) các nhà khoa học virology đưa ra luận cứ để bác bỏ việc này, rằng HIV chưa chắc đã gây AIDS, rằng AIDS chỉ là bịnh auto-immune, rằng có thể HIV chỉ là tác nhơn phụ co-factor, chớ hổng phải tác nhơn chánh, v.v và v.v … Rồi họ tự xưng mình là nhóm đối kháng dissidents, chỉ muốn gióng lên tiếng chuông cảnh báo sự thật. Có vài trự còn mần màn ‘quá độ’, kết luận rằng… vi khuẩn HIV chưa chắc đã là có thiệt, nó chỉ là sản phẩm khoa học giả tưởng của bộ máy y tế thế giới do đám hãng thuốc Huê kỳ giựt dây nhằm sản xuất và buôn bán thuốc men trị liệu !
Con vai rút này ra sao thế nào mà dzối dzắm dzữ dzậy cà ?
Thưa HIV thuộc nhóm lentivirus trong đại gia đình có danh xưng retrovirus.
Vì sao lại lenti và vì sao lại retro ha ?  Thế là phải chi tiết nữa thì mới cắt nghĩa đặng (giời ơi là giời !)

HIV em là ai ?
Giản dị hóa thế này cho dễ nhớ hén.

1.
Tế bào nào cũng có cái nhân và trong nhân này DNA huy hoàng ngự trị. DNA là hai sợi dây làm bằng đường và phosphate (sugar-phosphate) xoắn vòng lấy nhau, nằm giữa hai sợi dây này là những “cầu nối” . Cầu nối y chang những bậc thang có cấu trúc căn bản là 4 chất hoá học đi theo từng đôi, cặp A-T và cặp C-G, phân bố theo một trình tự liên tục lập lại. Trình tự này ngôn ngữ di truyền kêu bằng sequence.  Chính các sequences này xác định tín hiệu di truyền tức genetic code (ước lượng khoảng 3 tỉ ở tế bào con người – dễ nể hông)

Khi tế bào phân hóa, nghĩa là sanh sôi nảy nở, tín hiệu di truyền của DNA sẽ được mang bằng những messager RNA.
Cách khác… DNA là tía má của RNA.

2.

HIV gọi là retrovirus vì trình tự sanh sản của nó lộn tùng phèo.
Trước hết HIV là một loại virus chi có RNA (1 sợi). Khi vào cơ thể, virus mần màn retro, nó bám vào thành tế bào chủ rồi tiết enzym “reverse transcriptase”. Chính enzym này sẽ biến RNA thành DNA (nhân đôi thành 2 sợi).
Rồi virus lại dùng một enzym khác có tên “integrase” để đưa DNA này lọt hẳn vào trong nhân, dính luôn vào DNA của tế bào chủ và thay đổi luôn genetic code của tế bào chủ (tức tế bào bị nhiễm virus).
Điều trị AIDS nghĩa là tìm cách ngăn chặn, cắt đứt tiến trình của virus một khi chúng xâm nhập vào cơ thể, và một trong những phương thức ấy là ức chế hoạt động của hai enzyms reverse transcriptase và integrase này đây.
HIV gọi là lentivirus vì thời gian ủ bịnh incubation (từ lúc bị nhiễm virus, cảm cúm sơ sài đến lúc triệu chứng bịnh AIDS xuất hiện) kéo dài, có thể từ vài chục ngày đến vài chục năm.

3.

HIV ưu ái đặc biệt helper T cell, nên thông thường số lượng helper T cell (CD4) được dùng để thẩm định tình trạng và giai đoạn tiến triển của bịnh, đồng thời quyết định thời điểm trị liệu và theo dõi.
4.
Có đi thì có lạc. Tiến trình di chuyển của genetic code cũng y chang. Term di truyền của chuyện đi lạc này kêu bằng biến chủng mutation. Nhưng trời sanh trời dưỡng, cơ thể sanh vật thường có khả năng “tự phê tự kiểm” rồi “tự điều chỉnh” để sống còn.
Ở một số virus, khả năng tự điều chỉnh này rất yếu, thế nên virus mới biến chủng lia chia. Kết quả : trên nguyên tắc cùng dòng virus, nếu không biến chủng chi dzáo thì chủng ngừa 1 bận coi như… tình sẽ trăm năm (lóng ni chắc ăn, người ta mần màn booster, lay tỉnh &  kích thích đám antibody đang ngủ gà ngủ vịt đâu đó cho chúng ồn ào thức giấc)
Nếu genetic code ấm ớ thay đổi hoài cũng kẹt. Thay chầm chập thì còn hy vọng chế kịp thuốc chủng và chế định kỳ (bằng cách lần theo sequence) như trường hợp virus cúm Influenza A, chớ còn thay và thay quá lẹ như HIV thì đành thúc thủ, khỏi chế thuốc chủng chi dzáo vì làm sao có thể theo virus cho kịp !

5.

– Trong lãnh vực khảo cứu khoa học, bao giờ cũng có những điều kiện cần thiết được các nhà khảo cứu xúm lại đặt ra hầu tiêu chuẩn hóa  một cách căn bản những khám phá trong từng lãnh vực khảo sát.
Virology và di truyền tế bào tuy là ngành khoa học sanh sau đẻ muộn, nhưng đã tiến triển vượt bực kể từ đầu thế kỷ 20, với sự xuất hiện của kiếng hiển vi điện tử, có khả năng phóng đại hàng chục ngàn lần những vi sanh vật.
– Trong Virology, hai điều kiện phải có để “tìm ra” một loại virus mới là :
a/
Phải isolate được virus, nghĩa là tách rời virus ra khỏi môi trường hỗn độn xung quanh, rồi chụp hình dán tên cho nó ( ID card)
b/
Phải theo dõi để tìm ra cách thức sinh sống hoặt động của nó trong “môi trường sống”, nghĩa là phải cấy được nó trong một dòng tế bào sống và sống liên tục (immortal cell). Nói cách khác virus phải sinh trưởng trong dòng tế bào sanh sôi nảy nở triền miên (cái kiểu như stem cell hén) không hề bị gián đoạn (nghĩa là tế bào chết và dòng tế bào tiêu luôn).
Đây là hai điều kiện cần thiết trong khảo cứu virology. Thông thường các phòng khảo cứu khoa học trên toàn thế giới giữ liên lạc chặt chẽ với nhau để truyền bá kiến thức, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và trao đổi cả mẫu nghiệm dùng trong khảo cứu.
*

David versus Goliath – Vụ án HIV.

Trào Nixon, y tế mỹ “hạ quyết tâm” dứt điểm ung thư. Quốc gia lẫn tư nhân dồn tiền vào lãnh vực khảo cứu, cốt mong tìm ra nguyên nhơn và từ đó tiến dần đến trị liệu.
Đầu thập niên 70, một ánh sao bỗng rực rỡ toả ánh sáng trên bầu trời y học, ánh sao mang tên Robert Gallo.

Bên trời tây, viện Pasteur của pháp đương nhiên nhập cuộc.
Dẫn đầu nhóm khảo cứu của viện Pasteur là tiến sĩ Luc Montagnier, chuyên khoa virology.
Đầu thập niên 80, viện Pasteur Paris gởi bà Barre Sinoussi, tiến sĩ khảo cứu virology sang mỹ để học phương thức cấy virus trong môi trường khảo sát tại phòng thí nghiệm Gallo, hầu về áp dụng tại đất nhà.

*

Đầu năm 1983 (3rd January) viện Pasteur nhận được từ nhà thương Salpintière Paris, mẫu nghiệm cắt từ hạch cổ của một anh ghê-gớm tên Frederic Bruyère.1979 Cu Bru khi ấy 33 tuổi, thiên di sang New-York sống phóng khoáng như mây trời và thay nhơn tình như thay quần xà lỏong. Rồi anh dzìa lại Paris và đi luôn vào bịnh viện vì chứng bịnh lạ lùng chưa có tên tuổi (anh chết năm 1988). Mẩu nghiệm được đặt tên BRU rồi được mang giao cho Barre-Sinoussi đem đi cấy trong các tế bào máu đặng dòm chừng.

Trong vòng 15 bữa, hổng thấy vi sanh vật nào xuất hiện ráo trọi nhưng bù lợi, lượng reverse transcriptase tăng vọt, chứng tỏ có retrovirus nào đó đang hiện diện (virus trốn trong nhân tế bào thì sao mà phát giác ra nó được, trời) Nhưng tới ngày 15 thì các tế bào nhiễm virus lăn đùng ra chết hết một lượt, reverse transcriptase trờ dzìa mức zero ! Rồi lại lôi mẫu nghiệm (giữ frozen ở nhiệt độ -80 Celcius) ra cấy nữa rồi cấy nữa….

Tuy hổng nhận diện ra virus nhưng Montagnier cũng được Gallo gởi cho hóa chất tương đương như antibody của virus HTLV (1 và 2), sẽ tạo phản ứng khi chạm vào antigen (virus).
Nhưng phản ứng antigen-antibody đã không xảy ra, thế nghĩa là… con retrovirus BRU hổng phải là con HTLV (cả 1 lẫn 2) của Gallo. Nói cách khác… retrovirus này hoàn toàn mới toanh xi hảo. Rồi nó được đặt tên làLymphadenopathy Associated Virus LAV.

Ít lâu sau, May & June 1983, viện Pasteur nhận thêm được hai mẫu nghiệm lấy từ hai bịnh nhơn khác có triệu chứng AIDS, một homosexual, một hemophile đã từng được truyền máu, mẫu nghiệm mang ám số IDAV 1 và IDAV 2 (Immune Deficiency Associated Virus).
Kết quả : virus cô lập được từ hai mẫu nghiệm này cũng y chang virus BRU (tức LAV).

*

Lúc này coi như đã đủ tiêu chuẩn để tuyên bố chắc ăn việc khám phá ra dòng virus mới gây AIDS.
Noblesse oblige… Montagnier gởi cho Gallo hai mẫu nghiệm với điều kiện là ‘chỉ được dùng cho công cuộc khảo cứu chớ cấm xử dụng cho mục đích thương mại.
Rồi team của Gallo cũng tìm ra virus và đật tên là HTLV-3.

Tới đây thì hai teams dzáo dziết chạy đua với thời gian để kiếm ra test xét nghiệm định bịnh. Mùi tiền đã ngửi thấy trong gió.
Test của Montagnier có tên ELIZA, chế từ LAV.
Test của Gallo có tên Western Blot chế từ HTLV-3.

Rồi cả hai cùng đi xin bằng phát minh hầu như một lượt.
Montagnier được cấp bằng ở âu châu, nhửng ở mỹ thì còn phải chờ cứu xét theo đúng thủ tục. Trong khi ấy, Gallo lại được cấp bằng cái ào trước cả thời hạn luật định.

Giới y học, báo chí và chánh trị của cả hai nước bỗng chụm lại ngó vào, vấn đề được thổi phồng lên thành một cuộc tranh chấp pháp lý để… giữ thể diện quốc gia. Mọi chi tiết theo trình tự thời gian được đưa lên… bàn mổ.

Ông nói ông phải bà nói bà hay.
Pháp cho là mình đã kám phá ra virus trước mỷ (hồi bỏ antibody HTLV của Gallo vào mẫu nghiệm BRU mà phản ứng antigen-antibody không xảy ra).
Mỹ đưa bằng chứng hùng hồn, rằng tụi tui tìm ra virus sau nhưng lại tìm ra cách cấy liên tục trước (nghĩa là dòng tế bào chủ tiếp tục sanh sản chớ hổng hề bị gián đoạn – xin coi lại phần trên).

Rồi hổng hiểu cách nào đó, báo chí mỹ phanh phui, rằng vì Gallo có specimen của Montagnier, nên có thể HTLV-3 và LAV đều cùng một gốc. Chưa kể là cách định danh của Gallo là bằng chứng hùng hồn việc sai lạc, chứng tỏ Gallo chẳng hiểu gì ráo về khám phá của mình.

Rắc rối định danh ấy như thế này :
HTLV nghĩa là human T cell leukemia virus, HTLV-1 và HTLV-2 quả thiệt là virus gây leukemia.
Nhưng HTLV-3 gây AIDS chớ đâu có gây leukemia, thế thì 3 là 3 cái chỗ nào ?

Gallo gân cổ cãi lại : A… đừng có trắng trợn vu khống tui chớ, HTLV-3 có nghĩa là human T cell lymphotropic virus, mà gọi tắt thì cũng là HTLV, nên mới bắt buộc phải thêm số 3 dzô cho… rõ ý. Cũng là HTLV đó nhưng chúng đâu có giống nhau !

*

Dư luận mỹ bất bình, chánh phủ mỹ bèn lập hội đồng giám định mần màn điều tra, đám Pasteur cắc cớ lôi HTLV-3 của Gallo ra ngó sequences, rồi tìm ra rằng, cả hai đều chung tổ tiên cội nguồn ở pháp từ một người bịnh duy nhứt !
Hội đồng giám định tuyên bố Gallo thiếu đạo đức chức nghiệp, cố ý lập lờ đánh lận con đen.
Dĩ nhiên là Gallo kháng án…

Trong khi ấy Viện Pasteur lôi Gallo và lab của Gallo ra trước toà, đòi bồi thường thiệt hại (mấy chục triệu) đòi chia đôi lợi nhuận tiền bán test Western Blot, và chia từ A đến Z.
Toà dùng dằng hổng biết xử thế nào cho đôi đàng vẹn vẻ.
Hội đồng giám định khoa học hoa kỳ điều tra một hồi rồi kết luận Gallo vô ý nên vô tội. Mẫu nghiệm của Gallo bị nhiễm LAV (của Montagnier) là vì cu Popovic ẩu tả thiếu tinh thần khoa học (cho đáng kiếp, ai biểu).

Xen cuối cùng :
Nguyên thủ hai nước pháp mỹ gặp nhau nói phải quấy. Mỹ nhìn nhận chuyện lây nhiễm mẫu nghiệm, tuy pháp cô lập virus nhưng mỹ cấy được virus trước. Viện Pasteur hạ thấp tiền bồi thường xuống còn 1 triệu đô (để trả án phí), pháp được chia 50-50 tiền bán test Western Blot kể từ ngay ký kết thoả ước sau cùng.
Vụ tranh chấp kèo dài 10 năm, kết thúc vào mùa hè 1994.

Năm 2008, Luc Montagnier và Barre-Sinoussi bợ Nobel y học.
Năm 2010, Luc Montagnier buộc phải về hưu theo đúng luật định. Ông vừa cắp hoa li về tới nhà thì đã có đám tàu phù chờ sẵn trước cửa nhà, bê ông thẳng ra private jet rước liền sang đại học Thượng Hải giảng dạy.
Liệu dzồi con én già Montagnier có sẽ mang mùa xuân về tới đại học Thượng Hải hay không thì chỉ có trời mới biết đặng !

Năm 83, nhà thương tui nhận vào hai bịnh nhơn có triệu chứng AIDS, cả hai đều đực rựa, homosexual và trên 40. Một trự bị suy hô hấp vì Pneumocystis carinii Pneumonia, trự kia bướu nấm trong não và cằm nổi cái mụt ruồi tổ chảng sần sùi, một dạng ung thư Kaposi (sarcoma).

Thời ấy giả thuyết AIDS là bịnh nhiễm virus coi như đã chắc lắm dzồi. Nhưng virus gì thì  hổng  biết, lan lây thế nào cũng hổng biết luôn (đường sinh dục, đường máu, đường hô hấp…??). Y học còn lớ ngớ chưa biết đâu lần, thành thử AIDS khi ấy đồng nghĩa với ghê-gớm và với… đi tàu suốt !

Bịnh nhơn AIDS bị cách ly trăm phần dầu, một mình đối bóng trong căn phòng nhỏ. Nội bất xuất đã đành, nhưng ngoại cũng tránh nhập luôn. Nếu bất đấc dĩ phải nhập thì người ta mần màn gown mũ mask găng và slipper, tất cả đều disposable. Ra tới cửa phòng là cởi hết quăng lại. Thế vẫn chưa đủ, ta còn phải kỳ cọ rửa tay với một loại xà bông có tánh sát trùng cực mạnh và sau đó xịt alcohol rồi chờ  khô.
Bước vào phòng, ta có liền cái cảm giác thần chết đang núp đâu đó, rồi bất ngờ ló ra ôm gọn lấy ta. Không khí trong phòng ngột ngạt vì.”mật độ” quá cao của virus từ hơi bịnh nhơn… thở ra (mà trời ơi… cái mask lại hở thôi là hở, có mask cũng như không !)

Tình trạng dầu sôi lửa bỏng vậy nên người ta mần màn lương y như mẹ ghẻ, làm đủ bổn phận cho xong rồi gọn lẹ dọt. Khỏi có vụ nán lại vòng vo ân cần tán dóc – cho dù tán la nghề của nàng – chuyện xã hội, chuyện văn thơ, chuyện mưa nắng gió trăng… Đại khái bịnh đến dzồi bịnh đi (… nghĩa địa), may lắm ta còn nhớ được cái tên chớ mặt mũi bịnh ta quên tuốt luốt !

Hồi hai bịnh nhơn AIDS của tui lìa đời, cả trại bịnh thở phào như thoát gánh nặng !
Kỳ thị hở ? Hẳn là vậy dzồi. Người chớ có phải mẹ Teresa đâu !

Rồi 84-86, rồi 87-89, do hiểu biết chánh xác, chuyện kỳ thị giảm nhanh trong môi trường y tế, nhưng các thông tin dồn dập của truyền thông báo chí đã gieo rắc những bất an ở xã hội bên ngoài.  Người ta sanh lòng ái ngại khi phải tiếp xúc với người có bịnh, thậm chí người ta còn đâm nghi kỵ luôn cã những người đang ngon lành đứng thẳng – nghĩa là mạnh khoẻ như voi – nếu chẳng may lòi ra chuyện đi nghiêng của nó – đứng thẳng đấy nhưng  đi… vòng kiềng –

Vào lúc còn tranh tối tranh sáng, tâm lý tinh thần người bịnh AIDS ra sao ? Vụ này tui thiệt hổng tường, bị vì hổng có dịp (đúng hơn hổng kiếm dịp) để hỏi thăm tìm hiểu. Ở thời điểm cuối thập niên 80 ấy, y hình AIDS chưa kip xuất hiện trong cộng đồng “thẳng”, nên rồi bịnh nhơn AIDS đương nhiên bị dán (và thường là dán đúng) nhãn  homosexual.

*

Xã hội đời thường sao hổng biết, chớ trong bịnh viện người ta thấy rõ cái tình lân ái của đám vòng kiềng này. Chúng tận tâm tận lực với nhau dể sợ lắm kia. Một trự vào nhà thương liệt giường liệt chiếu, cả cái cộng đồng có nó là thành viên bỗng gắn bó ồn ào. Chúng thay phiên nhau  thăm viếng,  thậm chí nếu cần còn túc trực thường xuyên mần màn hầu hạ chăm sóc (đút cơm cháo, tắm gội đổ bô…).
Vào phòng bịnh, nhơn viên y tế lên đồ còn hơn phi hành gia đổ bộ xuống mặt trăng, vậy chớ cái đám ni, bắt buộc chúng mới nai nịt theo mình, chừng mình vừa ngoảng mặt đi, chúng cởi ráo ! Chúng rần rần như di party, ồn ào vui vẻ hết biết, làm đám y tế đứng vòng ngoài phải ngẩn ngơ !

Rồi gia đình ruột thịt của người bịnh đâu à ? Thường thường ít thấy lắm. Có thể hoặc vì gia đình ái ngại chuyện bịnh tật thì ít, nhưng chuyện vòng kiềng nhiều hơn – xã hội lúc ấy đã và đang rất homophobia ! Củng có thể dân vòng kiềng lẳng lặng rời gia đình hổng nói lời từ biệt nên rồi bịnh tật cũng chẳng ai hay. Một số trường hợp, thân nhơn người bịnh vì biết con cháu anh em mình có người bạn đường tận tâm tận lực nên yên trí, hoặc ngại đụng “nó” rồi hổng biết xử sự ra sao, nên rồi cũng ít lui tới thường xuyên !

Hồi chuyện homo trong xã hội còn là phobia thứ thiệt, thì tui cũng bị lên ruột theo !
Diễn ý văn vẻ thì dzầy : Hễ cứ đụng đám vòng kiềng là y như phép tui dòm liền hai cái cẳng của chúng, coi chúng đi giày size mấy, kiểu gì, màu sắc ra sao, vớ len dày hay vớ vải mỏng… đại khái là tui quan sát chúng tỉ mỉ coi chúng giống mình chỗ nào, khác mình ở chỗ nào…

Tới một lúc nào đó, chuyện dòm cẳng đám vòng kiểng từ từ lùi vào dĩ-dzãng. Gió tuy đổi chiều, nhưng tình của tui với đám vòng kiềng cũng chỉ tới đó chớ hổng tiến xa thêm, tui vẫn chưa kiếm ra thì giờ để tìm hiểu tâm tư tình cảm của chúng !

 

Thảo luận cho bài: "Bohemian Rhapsody."