CÁCH MẠNG THÁNG TÁM-OSS (Mỹ) – Đồng minh trong cuộc kháng chiến chống Nhật

Tác giả:

Có lẽ ít người biết được rằng Hồ Chủ tịch và lực lượng Việt Minh đã từng có mối quan hệ với nước Mỹ, cụ thể là Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) – tiền thân của CIA – nhằm củng cố thêm sức mạnh cho Việt Nam trong thời kỳ giành chính quyền những ngày đầu.

Cuốn sách “OSS và Hồ Chí Minh – Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật” của giáo sư Dixee R. Bartholomew-Feis do NXB Trường đại học Kansas (Mỹ) xuất bản năm 2006, được NXB Thế Giới và Công ty văn hóa và truyền thông Võ Thị dịch và xuất bản tại VN tháng 8-2007. Đây là một tư liệu mới của Mỹ lần đầu tiên được giới thiệu tại VN – một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nhất về lịch sử quan hệ Việt – Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai…

DeTham_02

Nền móng đầu tiên

Sau khi đảo chính Pháp, Nhật dàn xếp một cấp độ kiểm soát mới tại VN. Người VN tìm cách thoát khỏi tình trạng cùng khổ, và ở miền Bắc, một vị cứu tinh hợp lý – Việt Minh – đang giành được động lực thúc đẩy tiến trình phát triển.

Nhiệm vụ của Cơ quan Tình báo chiến lược (OSS) tại châu Á lúc đó là nhằm đánh bại phát xít Nhật, do đó các nhân viên OSS buộc phải tuyển mộ đặc tình, sau đó là các nhóm vũ trang quân sự dưới sự bảo trợ của OSS rồi phái họ trở lại khu vực này. Vì vậy đường lối của hai dân tộc Việt và Mỹ gặp nhau trong một thời khắc ngắn ngủi – một thời khắc vừa nguy hiểm lại vừa đầy hứa hẹn đối với tương lai của cả hai nước….

Đến Việt Nam

Vào ngày 2-11-1944, trong một chuyến trinh sát, trung úy Shaw – một phi công Mỹ – buộc phải đáp xuống vùng ven Cao Bằng. Trong cuốn Từ Côn Minh về Pắc Bó, Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải), một nhà tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Côn Minh và Việt Bắc, nhớ lại: “Một hôm, tại Cao Bằng, một tổ chức cứu quốc đã cứu sống một viên phi công Mỹ đáp xuống lãnh thổ của chúng ta do trục trặc động cơ.

Anh là trung úy Shaw. Pháp và Nhật đang truy tìm anh, nhưng các nhà cách mạng đã bảo vệ anh, đưa anh tới phòng làm việc của ông Phạm Văn Đồng tại vùng Nước Hai. Ông Phạm Văn Đồng đưa anh tới gặp Bác Hồ. Shaw được đón tiếp chu đáo và rất vui khi gặp Bác. Anh nói rằng anh đã nghe những lời tuyên truyền bị bóp méo liên quan đến Việt Minh, và chỉ đến lúc đó anh mới nhận ra sự thật”.

Sau này Shaw mới khám phá nhiều điều khác về Việt Minh. Khi còn ở Côn Minh (Trung Quốc), Shaw đã công bố một số thông tin, trong đó có một quyển sách nhỏ dạng nhật ký có tựa đề Một Đông Dương thực sự dưới con mắt trung úy Shaw.

Shaw kể rằng: “Ngay khi tôi chạm đất, một người Đông Dương trẻ tuổi bước tới mỉm cười, thân mật bắt cả hai tay tôi và ra hiệu tôi đi theo anh ta. Tôi đưa cho anh ta 600 đồng Đông Dương. Anh ta nhất quyết không nhận tiền và trông có vẻ bị xúc phạm. Tôi rất ngạc nhiên với thái độ của anh ta và nghĩ có lẽ anh ta cho rằng ngần ấy tiền chưa đủ. Đó là một sai lầm lớn của tôi! Lúc đầu tôi nghĩ họ là những kẻ tham lam, nhưng trên thực tế hầu hết những người yêu nước Đông Dương lại rất đức độ. Họ giúp chúng tôi không phải vì tiền của chúng tôi, mà vì tình yêu thương và tình bằng hữu. Họ biết rằng chúng tôi đang chiến đấu không chỉ vì nước Mỹ mà còn vì tự do và dân chủ của thế giới, và cũng vì đất nước của họ nữa. Vì lý do đó mà họ coi bổn phận yêu nước của mình là giúp đỡ chúng tôi – những đồng minh của họ”.

Mười ngày sau, Shaw nhận được lá thư từ Ủy ban Trung ương Việt Minh chào mừng anh và thông báo: “Chúng tôi đã ra lệnh cho căn cứ địa của chúng tôi tại Cao Bằng tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết để bảo vệ tính mạng ngài và hộ tống ngài ra biên giới Bắc kỳ – Trung Quốc”. Ủy ban Trung ương đề nghị Shaw giúp xây dựng tình hữu nghị vững mạnh giữa Mỹ và Việt Nam.

Ngoài ra, cuốn sách cũng tiết lộ nguồn gốc và mục đích của Việt Minh cũng như vị trí của họ trong mối quan hệ với Đồng Minh: “Việt Minh hùng mạnh thế nào, tôi không biết. Nhưng như những gì tôi đã chứng kiến thì tổ chức này rất được nhân dân ủng hộ. Đi đến đâu tôi cũng được dân làng chào với hai tiếng “Việt Minh! Việt Minh!” và họ làm tất cả để giúp những người yêu nước, cho dù có bị ngăn cấm và đàn áp”.
Shaw kể: “Tháng mười hai, những người bạn Đông Dương đưa tôi trở về Trung Quốc. Trước khi chia tay, họ dặn đi dặn lại tôi phải gửi lời chào tốt đẹp nhất của họ tới quân đội và nhân dân Mỹ. Tôi rất vui khi được quay trở lại và kể với đất nước tôi về tình hình thực tế tại Đông Dương… Tôi khiêm nhường nghĩ rằng vì nhiệm vụ dân chủ cũng như vì lợi ích chiến lược, chúng ta phải giúp đỡ phong trào chống Nhật, chống phát xít của Đông Dương một cách có hiệu quả”.

Những người bạndownload (3)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà lãnh đạo Võ Nguyên Giáp (đứng thứ ba và thứ năm từ trái qua) chụp ảnh với những người bạn Mỹ. Chỉ huy đội Hươu của OSS là Allison Thomas (đứng thứ tư từ trái qua) – Ảnh tư liệu

Ngày 20-3, Wedemeyer – tư lệnh quân Mỹ tại mặt trận Trung Quốc – đã phê chuẩn QUAIL, một chiến dịch lớn tại Đông Dương, để “thiết lập những mạng lưới tình báo quân sự và cho phép chúng ta cấp vũ khí và đạn dược cho những ai kháng Nhật”. Ngày 13-4, Archimedes Patti, một cựu chiến binh của OSS trong các chiến dịch Ý, từ Washington tới đảm nhận chức vụ lãnh đạo phái đoàn OSS tại Đông Dương. Khi Patti bắt đầu tìm hiểu nơi ở của Hồ Chí Minh thì hai thành viên khác của OSS là Frank Tan và Mac Shin đang ở Tĩnh Tây, chuẩn bị cho chuyến đi hai tuần qua biên giới xuống phía nam Đông Dương, vào VN để đào tạo một nhóm du kích Việt Minh.

Hồ Chí Minh đã đi trước hai người này và ra lệnh cho 20 người của mình quay lại hộ tống và bảo vệ họ trước quân Nhật. Hồ Chí Minh đã cùng đi với họ trong chặng cuối của cuộc hành trình tới Việt Bắc. Khi mọi người đã qua biên giới an toàn, cả nhóm tiếp tục đi tới căn cứ của Việt Minh tại Tân Trào.

Chặng này nhóm có đông người hơn. Hồ Chí Minh, Tan (người mà Việt Minh gọi là Tam Xinh Shan để che giấu danh tính của ông) và Shin (bí danh là Nguyễn Tư Tác) nhập cùng những thành viên khác của Việt Minh, gồm năm nhân viên điện đài vừa hoàn thành khóa học tại Trung Quốc, mười học viên điện đài cho công tác tình báo, sáu người mang máy phát tín hiệu truyền thông, mười vệ sĩ – phần lớn trong số họ đã được huấn luyện kỹ tại Gio Jio và đang ở cấp bậc trung úy, được trang bị tiểu liên và súng cacbin và một nhóm thanh niên được tuyển chọn riêng để học điều khiển điện đài tại Tân Trào.

Khi cả nhóm đến Tân Trào, Hồ Chí Minh đưa cho Tan một bản báo cáo cuộc hành quân được đánh máy với nhiều chi tiết về địa thế hiểm trở, những mối nguy hiểm khi hành quân ban đêm, hệ thống quân thám và phu khuân vác phức tạp dọc đường, những động vật hoang dã gặp phải… Và, giống như Shaw, Tan cũng bị chinh phục khi trò chuyện tới khuya với con người có sức lôi cuốn quần chúng này qua rất nhiều đêm ở bên nhau trong những khu rừng đại ngàn Bắc Việt Nam.

Frank Tan và Mac Shin ở Tân Trào gần bốn tháng. Trong những tháng làm việc bên nhau, Hồ Chí Minh và Tan đã có một tình bạn đặc biệt thân thiết. Cả hai đều đã trải qua sự phân biệt đối xử tại quê nhà – Hồ Chí Minh dưới ách thống trị của Pháp và Tan là người Hoa lớn lên trong khu vực toàn “người da trắng” tại Boston. Tan hồi tưởng: “Khi quan hệ của tôi với Hồ Chí Minh trở nên thân thiết hơn, tôi bắt đầu hiểu rõ con người ông – một người hiến dâng cả cuộc đời để giành lại tự do cho nhân dân mình. Một sự hi sinh như thế khiến ông chẳng làm gì khác ngoài nghĩ và hành động cho một mục tiêu duy nhất”.

 

Chống kẻ thù chung

Vương Minh Phương, một cán bộ Việt Minh sống tại Côn Minh (Trung Quốc), đã gọi điện cho Archimedes Patti vào giữa tháng 4-1945. Trong cuộc nói chuyện với Patti, Phương mô tả Việt Minh là một mặt trận chính trị và cũng là một “lực lượng vũ trang, được tổ chức thành các đơn vị du kích và tích cực hoạt động trong cuộc kháng chiến chống Nhật”.
Phương cam đoan với Patti rằng Việt Minh sẵn sàng chiến đấu sát cánh bên người Mỹ chống lại kẻ thù chung.

 

Những ánh mắt mớidownload (4)

Thiếu tá Allison Thomas (thứ tư từ phải sang) đứng quan sát những chiến sĩ Việt Minh tập ném lựu đạn ngày 17-8-1945 – Ảnh tư liệu

Sau khi nghe Vương Minh Phương kể nhiều về quá trình lịch sử của Việt Minh và tin tưởng vào năng lực tiềm tàng của Việt Minh, Archimedes Patti có một yêu cầu: ông muốn gặp cụ Hồ Chí Minh. Khi Patti và Phương gặp nhau lần thứ hai, Phương nói với Patti là anh đã gửi thông điệp tới cụ Hồ Chí Minh và đã bố trí một cuộc gặp tại thị xã biên giới Tĩnh Tây.

Cuối tháng tư, Patti rời Côn Minh, kết hợp chuyến đi đến các đơn vị của OSS đóng quân dọc theo biên giới Trung Quốc với chuyến thăm Tĩnh Tây. Sau khi làm các thủ tục với người trung gian là một đảng viên cộng sản Trung Quốc, cụ Hồ Chí Minh và Patti cuối cùng đã gặp nhau tại một hiệu ăn nhỏ bên đường vào ngày 27-4-1945. Ngay từ đầu hai người đã có thiện cảm với nhau. Mặc dù từ những nền tảng hoàn toàn khác nhau nhưng hai ông đều có chung nhiều đặc điểm: cả hai đều có, theo đánh giá của nhiều người, một trí tuệ sắc bén và cả hai đều biết làm chủ tình thế. Patti vô tình nói ra những câu mà theo bản năng ông biết rõ sẽ thu hút sự chú ý của cụ Hồ Chí Minh: “Tôi rất hài lòng khi được gặp một người có nhiều bạn bè Mỹ tại Côn Minh”. Cụ Hồ Chí Minh kể vắn tắt một danh sách dài những mối bất bình đối với chủ nghĩa thực dân Pháp và cho Patti xem một loạt ảnh các nạn nhân nạn đói năm 1945. Sự đồng cảm của Patti đối với người Việt Nam và thái độ coi thường đối với người Pháp tăng lên. Ông không biết mình đã phản ánh phần lớn tình cảm của hai người Mỹ đầu tiên đã từng có mối giao thiệp rộng rãi với cụ Hồ Chí Minh là Frank Tan và Charles Fenn. Chẳng bao lâu sau họ cùng nhiều người Mỹ khác gia nhập hàng ngũ những người khâm phục cụ Hồ Chí Minh.

Giữa tháng sáu, trung úy Dan Phelan nhảy dù xuống khu căn cứ của Việt Minh, nơi anh ta sẽ ở lại trong vài tháng. Sau khi hạ cánh, Phelan được Tan đón rồi đưa tới Tân Trào giới thiệu với cụ Hồ Chí Minh, ông Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh quanh căn cứ. Trong suốt thời gian ở cùng Việt Minh, Phelan say mê những cuộc nói chuyện dài với cụ Hồ Chí Minh. Một thời gian sau, Phelan, cũng như Fenn, Tan và Patti bắt đầu nhìn Việt Minh bằng ánh mắt mới. Một tuần sau khi đến căn cứ của Việt Minh, Phelan gửi một bức điện với giọng điệu rõ ràng đã khác về đại bản doanh: “Các ngài đang hiểu lầm quan điểm của Việt Minh. Họ chỉ là những người yêu nước, những người xứng đáng được tin tưởng và ủng hộ hoàn toàn”.

Tiếp tục chiến đấu

Mùa xuân năm 1945, OSS điều thiếu tá Allison Thomas tới Trung Quốc, bắt đầu hoạt động với tư cách là chỉ huy đội SO số 13, mật danh là đội Hươu. Thượng tuần tháng sáu, cụ Hồ Chí Minh thông báo cho Patti rằng hiện Việt Minh có khoảng 1.000 chiến sĩ du kích “được huấn luyện tốt” sẵn sàng để Patti sử dụng cho “bất cứ kế hoạch nào” để chống Nhật. Ngày 16-7, Thomas nhảy dù xuống khu vực lân cận làng Tân Trào cùng hai thành viên người Mỹ trong đội của anh là Prunnier và Zielski. “Ủy ban đón tiếp” của Việt Minh đưa ba người xuống đất. “Mọi người thật sự hứng khởi – Thomas nhớ lại – Chúng tôi vui mừng khi tất cả tiếp đất an toàn và lành lặn”. Sau đó Thomas nhận được một “màn chào mừng” từ một đám đông anh ước đoán khoảng 200 người. Cựu chiến binh Việt Minh Vũ Đình Huỳnh nhớ lại Thomas đã rất “sửng sốt” khi Việt Minh trả lại anh ta một nắm đôla bị rơi ra khi nhảy dù. “Đúng là họ rất sững sờ – Vũ Đình Huỳnh viết – tất cả bọn họ càng ngạc nhiên hơn khi biết sự hoàn trả này không phải của những người nguyên thủy cổ xưa không biết gì về giá trị tiền bạc, mà từ lực lượng kháng chiến biết nhiều ngoại ngữ và chắc chắn biết rõ giá trị của những gì đã rơi từ trên trời xuống”. Sau đó Thomas được đề nghị đọc một bài “diễn văn chào mừng” ngắn chứa đựng ít “lời hoa mỹ.” Anh nhớ nội dung là: “Tất cả chúng ta đang cùng nhau tiến hành cuộc đấu tranh chống Nhật”. Thomas gặp Tan và Phelan và được họ đưa cả nhóm về “ngôi nhà mới”, được chuẩn bị đặc biệt dành cho những người Mỹ.linhthuydanhbo_kienthuc (4)_nltq

Những người lính của lực lượng Việt – Mỹ, được trang bị vũ khí thu được của Pháp, trước trận đánh ở Thái Nguyên – Ảnh tư liệu

Những tân binh trẻ của Việt Minh được người Mỹ huấn luyện cách sử dụng súng cacbin M-1, súng tiểu liên Thompson, súng trường, bazooka, súng máy hạng nhẹ và Bren. Chương trình huấn luyện gồm phép đạc tam giác, tập bắn và lau chùi vũ khí. Họ còn được hướng dẫn cách sử dụng súng cối và lựu đạn. Việc tập luyện tương đối căng thẳng từ ngày 9 đến 15-8, từ 5g30-17g. Ngày 10-8, họ nhận được một đợt thả đồ tiếp tế bổ sung vũ khí và đạn dược để tiếp tục công tác huấn luyện tân binh. Chắc chắn nhà lãnh đạo Võ Nguyên Giáp rất vui mừng với những khí tài bổ sung này. Trang thiết bị được thả dù xuống Việt Bắc vào ba vị trí thả đồ tiếp tế của đội Hươu, kết hợp với những loại vũ khí nhẹ do Việt Minh chế tạo tại những nhà máy quân khí đơn sơ của họ trong rừng đã tạo thành một đội quân được trang bị vũ khí đầy đủ, gây ấn tượng cho những người dân nông thôn. Ông Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Nhìn thấy nhóm quân mới đứng trong hàng ngũ chỉnh tề và được trang bị súng trường mới cùng lưỡi lê sáng loáng khiến chúng tôi phấn khởi và tin tưởng”.

Trong khi đó, mặc dù sự đầu hàng của Nhật dường như đã diễn ra vào ngày 10-8, nhưng cả người Mỹ lẫn người Việt tại Việt Bắc đều không thể chắc chắn là chiến tranh thật sự kết thúc, vì vậy công tác huấn luyện vẫn tiếp tục hơn bốn ngày sau. Nhưng ngay khi người Mỹ đang kết thúc cuộc chiến của họ, Việt Minh lại đang sắp đặt những kế hoạch mới. Giữa tháng tám, Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức một hội nghị chiến lược tại một ngôi làng gần Tân Trào. Niềm phấn khởi lan truyền khắp nơi khi các phái đoàn từ xa như miền Nam, miền Trung, Lào và Thái Lan trên đường về Tân Trào, khi những cán bộ đã nhiều năm không gặp nhau tìm hiểu lại về nhau và khi tự do dường như sắp đến gần. Như một hoạt động bên lề hội nghị, các đại biểu được đưa tới những trại huấn luyện để chứng kiến công tác huấn luyện của lực lượng Việt – Mỹ. Đối với hầu hết các đại biểu, các thành viên đội Hươu là những người Mỹ đầu tiên họ đã từng gặp.

Ngày 15-8, khi hội nghị bế mạc thì Thomas ăn mừng tin về sự đầu hàng “sắp diễn ra”, ông Võ Nguyên Giáp quyết định hạ trại, đến gặp cụ Hồ Chí Minh và tiến về Thái Nguyên. Ngay khi ông Võ Nguyên Giáp và Thomas tới trụ sở chính của cụ Hồ Chí Minh thì thấy cụ đến trên một chiếc cáng. Cụ Hồ Chí Minh báo tin Nhật đã đầu hàng vô điều kiện. Thomas phát những vũ khí đội Hươu đã sử dụng trong huấn luyện cho bộ đội Việt Minh và thông báo với cả học viên và những người Mỹ rằng họ có thể sẽ ra đi ngày hôm sau. Đêm hôm đó những người Mỹ và người Việt liên hoan đến khuya. “Chúng tôi bắn pháo hiệu và pháo hoa trước các binh sĩ của mình – Thomas nhớ lại – Tất cả mọi người cùng hét to “Hoan hô! Hoan hô!”. Đêm nay chúng tôi là những chàng trai hạnh phúc. Chúng tôi sẽ có bộ dạng khá tệ khi lên đường sáng ngày mai”. Trong lúc các binh sĩ ăn uống và hát hò, một thành viên Việt Minh là Triệu Đức Quang nói với những người Mỹ là anh đã coi họ như những người bạn. “Những người bạn Mỹ của chúng ta giải thích rằng hòa bình đã đến và bây giờ tôi không phải đánh nhau nữa”, anh nhớ lại. “Nhưng – Triệu Đức Quang vội nói thêm – quân Nhật vẫn có mặt trên đất nước tôi, và nước chúng tôi vẫn còn chiến tranh vì thế chúng tôi vẫn phải tiếp tục chiến đấu”.

 

Tiến về Hà Nội

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại sự hân hoan tràn ngập ở Tân Trào khi tin tức về Nhật đầu hàng được loan báo.

“Tôi nhận lệnh chuẩn bị chiến đấu từ Ủy ban trung ương – ông giải thích – Ngày 16-8, cùng quân giải phóng tôi rời Tân Trào để tấn công quân Nhật tại Thái Nguyên, đó là thị xã đầu tiên được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của quân thù trên đường chúng tôi tiến về Hà Nội”.

Về Thái Nguyên

Ông Giáp và Thomas Allison chỉ huy các chiến sĩ vượt qua địa hình khó khăn. Chuyến đi bốn ngày tới Thái Nguyên phải băng qua những con đường núi dốc đứng và lội qua những dòng nước lũ, thường xuyên đi trong bùn lầy và mưa. Tuy nhiên, hằng đêm họ được lo chỗ ngủ khô ráo, sạch sẽ và bữa ăn nóng sốt. Mặc dù tuyến đường vất vả, cựu chiến binh Việt Minh Nguyễn Chính hồi tưởng những cuộc trò chuyện vui vẻ bằng tiếng Pháp như chỗ bạn bè với Thomas, về nụ cười của viên thiếu tá và câu trả lời “không vấn đề gì” khi anh chịu đựng những cơn mưa rào và lôi ra những con vắt xanh.

Chẳng những nhận được đồ tiếp tế từ những người nông dân, anh còn được chào đón bằng những nụ cười hân hoan, những tràng vỗ tay và tiếng hò reo “Hoan hô! Hoan hô!”. Nhiều cán bộ địa phương đến chào mừng Thomas. Và Thomas đã đáp lại: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến đất nước của các bạn, nhưng đến lúc này chúng tôi có rất nhiều tình cảm và ấn tượng tốt đẹp về vẻ đẹp của cảnh vật và con người của vùng đất này. Tôi hi vọng sau này chúng tôi sẽ có nhiều cơ hội hơn để đi thăm đất nước các bạn, Việt Nam, và đó hẳn là một niềm vui lớn. Nhưng bây giờ, cả các bạn và chúng tôi phải thực hiện nhiệm vụ chung trong cuộc chiến chống Nhật và chúng ta hãy cùng hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi hi vọng mối quan hệ hữu nghị Việt – Mỹ sẽ tồn tại lâu dài”.

Ngoài sự chào đón của người dân, Thomas còn nhớ đã nhìn thấy cờ Việt Minh trong những ngôi làng mà anh đi qua. Anh kết luận rằng đây là một biểu hiện rõ ràng về sức mạnh của Việt Minh tại khu vực đó. Cũng chính trong chuyến đi vất vả tới Thái Nguyên này mà Thomas đã hiểu thêm về nhà lãnh đạo Võ Nguyên Giáp: “Chuyến đi bộ xuyên qua những vùng đồi núi là khoảng thời gian tôi gần gũi nhất với tướng Võ Nguyên Giáp. Lúc đó tôi khoảng ba mươi tuổi, và ông có lẽ chỉ lớn hơn tôi ba tuổi. Có lúc ông kể cho tôi nghe rằng vợ và chị dâu của ông đã chết trong nhà tù của Pháp. Ông có tình cảm chống Pháp rất mạnh. Ông là người mạnh mẽ, không nghi ngờ gì nữa. Người Pháp gọi ông là núi lửa bị tuyết bao phủ. Ông luôn biết kiềm chế bản thân, và rõ ràng là rất thông minh và có giáo dục. Quân lính của ông tôn thờ ông. Tôi rất mến ông”.

Tướng Võ Nguyên Giáp và Thomas đến Thái Nguyên vào khoảng năm giờ sáng. Nơi họ dừng chân đầu tiên là tòa thị chính thành phố. Tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một tối hậu thư yêu cầu đầu hàng tới quân Nhật.
Từ 6-6g30 sáng, chiến sự nổ ra giữa quân Nhật và Việt Minh. Những trận đánh tiếp diễn sau đó. Đến ngày 26-8, Thái Nguyên đã làm lễ mừng ngày giành được tự do từ tay Nhật. Có một cuộc diễu binh trong thị xã, và hầu hết các tòa nhà đều treo cờ Việt Minh.

Độc lập

Vào tháng 8-1945 không có ai làm việc cần mẫn và vất vả hơn Việt Minh để soi sáng con đường đến thắng lợi. Khi Archimedes Patti đến Hà Nội, thái độ lạc quan dâng cao trong người Việt rằng cuối cùng họ có thể giành được tự do, cái mà họ đã phải đấu tranh quá lâu. Ba ngày trước khi Patti đến, Việt Minh đã tiếp quản thành phố. Nhiều năm sau, tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Hiểu rõ những chỉ thị của Đảng, và lợi dụng tình trạng mất tinh thần cao độ của Nhật, sự khiếp đảm của chính quyền bù nhìn và sự dao động của lực lượng bảo an, các tổ chức Đảng địa phương và Việt Minh ngay lập tức nắm lấy thế chủ động để lãnh đạo quần chúng giành chính quyền”.

Tin tức về những sự kiện tại Hà Nội nhanh chóng lan đến miền Nam, miền Trung Việt Nam. Ngày 23-8, một đoàn nông dân khoảng 100.000 người tuần hành vào Huế cổ vũ thành lập ủy ban giải phóng Việt Minh. Kinh ngạc trước “phép mầu” xuất hiện nhanh đến khó tin, vua Bảo Đại buộc phải xin thoái vị và trao ngọc ấn cho Việt Minh. Theo đề nghị trong bức điện từ “Ủy ban Ái quốc” tại Hà Nội, vua Bảo Đại quyết định từ bỏ ngai vàng và trở thành một “công dân bình thường” có tên Vĩnh Thụy. Ngày 25-8, vua Bảo Đại thông báo ý định thoái vị cho các thành viên hoàng tộc đang sững sờ và tuyên bố rằng ông ta “thà làm dân trong một quốc gia độc lập còn hơn làm vua của một đất nước bị nô lệ”.

Khi Bảo Đại đang chuẩn bị đọc bài phát biểu cuối cùng với tư cách là một hoàng đế, Patti đã hội kiến rất nhiều thành viên trong giới báo chí Việt Nam tại Hà Nội. Patti tuyên bố ngắn gọn, cố làm rõ lập trường của Mỹ: “Người Mỹ chúng tôi đánh giá cao sự đón tiếp nồng ấm của các bạn. Công việc của chúng tôi chỉ là thực thi quân lệnh và xin các bạn vui lòng hiểu rằng lập trường và thái độ của chúng tôi là trung lập. Chúng tôi đến đây với mục đích duy nhất là mở đường cho hội nghị hòa bình sắp diễn ra để chính thức chấm dứt xung đột. Chúng tôi vui mừng được gặp các bạn, cũng như bất cứ cá nhân thuộc bất kỳ đảng phái và quốc tịch nào và vào bất kỳ thời gian nào”.

Ngày 29-8, cụ Hồ Chí Minh đề nghị Patti tới gặp mình. Cụ Hồ Chí Minh có hai thông báo quan trọng: Thứ nhất, Bảo Đại sẽ chính thức thoái vị vào ngày hôm sau, chấp thuận trao quyền cho Việt Minh; thứ hai, ngày 2-9 sẽ trở thành ngày độc lập của Việt Nam. Khi chuẩn bị cho ngày quan trọng này, cụ Hồ Chí Minh muốn trao đổi với Patti về một tài liệu quan trọng: Bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam. Patti chúc mừng cụ Hồ Chí Minh và “mong ngài thành công” trong kế hoạch giành độc lập. Bản tuyên ngôn độc lập viết: “Tất cả mọi người được sinh ra đều có quyền bình đẳng; tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những lời mở đầu được mượn từ Bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ.

Vào chủ nhật 2-9, Patti và đội của ông hòa cùng hàng nghìn người Việt Nam đổ ra các đường phố Hà Nội chờ chứng kiến những sự kiện sẽ xảy ra vào ngày đầy hứa hẹn này. Patti rõ ràng bị ấn tượng với cảnh tượng cờ đỏ bay phấp phới trong làn gió nhẹ và làm nổi bật thành phố được kết đầy hoa. Những người lính Việt Minh được tập luyện tốt nhất, ăn mặc chỉnh tề nhất và trang bị tốt nhất tạo ra sự hiện diện đầy ấn tượng phía trước khán đài trang hoàng cờ hoa.

Là “người giải phóng và vị cứu tinh của đất nước”, cụ Hồ Chí Minh bắt đầu nói với nhân dân, dừng lại sau một câu để hỏi đồng bào có nghe rõ ông nói hay không. “Đó là một bậc thầy về hùng biện – Patti nhận xét – Từ khoảnh khắc đó, cả biển người nghe như nuốt lấy từng lời… Rõ ràng trong tâm trí chúng tôi ông đang ở sát bên họ”. Những ngày sau đó, thêm nhiều người Việt Nam đọc, hoặc nghe nguyên văn những bài phát biểu và cảm thấy dâng lên niềm tự hào dân tộc.

Thảo luận cho bài: "CÁCH MẠNG THÁNG TÁM-OSS (Mỹ) – Đồng minh trong cuộc kháng chiến chống Nhật"