CAO NIÊN XỨ NGƯỜI

Tác giả:

ÔNG CẢ HEO
“Thưa quý vị;


Trong bữa ăn thanh đạm để chúng ta cùng chia tay nhau hôm nay, tôi xin hoan hỉ nói ngắn gọn vài lời cùng quý vị là… ngày mai, khi bước chân lên máy bay qua Mỹ, tôi không có ý định đi tìm một chút bơ sữa Mỹ, ở đây tôi thiếu gì mấy thứ đó (mặt ông hơi vênh lên… rồi cười nhẹ nói tiếp), mà thú thật cùng quý vị rằng, tôi muốn đi tìm một cái gì… thanh cao hơn, phong phú hơn, phồn thịnh hơn… để đem về đây, không phải để làm giàu một mình, vì thật ra tôi ở đây… tuy không giàu có lắm, nhưng cũng dư ăn dư để như quý vị đã biết (mặt ông lại vênh lên cao hơn lần trước một chút rồi mềm xuống với giọng nói thiết tha), mà là lòng tôi chỉ muốn tìm cách cải thiện lại đời sống của toàn thể quý vị, những người mà tôi coi là thân thiết nhất từ hồi chúng ta mới di cư từ Bắc vô Nam cho mãi tới tận bây giờ…”

uý độc giả thân mến;
Đoạn văn trên không phải là của tác giả bài “Phóng Sự Xã Hội” này, mà chỉ là một đoạn lê thê trong bài diễn văn tràng giang đại hải của… “ông Cả Heo”, nói với hơn 20 người bà con láng giềng của ông ta trong một bữa tiệc ê hề hơn 10 món, trước ngày ông cùng với “bà cả Heo 2” lên máy bay qua Mỹ.

Dân trong xóm gọi ông là "ông Cả Heo" vì ông là anh cả trong một gia đình và là chủ nhân một “lò heo lậu” đã hoạt động liên tục từ gần 40 năm qua, chứ tên thật của ông thì khác, thanh tao và có ý nghĩa hơn nhiều. Ban đầu, khi nghe thiên hạ gọi lén mình bằng cái nghề cộng với cái địa vị của mình trong nhà mình như thế, ông cũng lấy làm bất bình lắm! Tuy nhiên, nghe riết rồi cũng quen, vả lại ông cũng chả làm sao bịt được "miệng thế gian"! Nên dần dần, ông lại cảm thấy hay hay pha lẫn chút hãnh diện với cái biệt danh đó, vì ít nhất, nó cũng đã gián tiếp nói lên được cái vị trí "chủ nhân ông" của ông trong một cái xóm bình dân mà đa số đều là dân lao động hoặc buôn thúng bán bưng.

Sau khi nhất định chối bỏ không ở lại chơi với ông bác cà chớn súng cà nông bắn không tới có cái tên làm rởn gáy người dân Việt Nam – Hồ Chí Minh – và lên "tàu há mồm" di cư vào Nam, ông chỉ mới được người đời và người trong nhà gọi ông là "ông Cả" chứ chưa có cái chữ "Heo" hôi hám nhưng hốt bạc đó đi kèm.
Thuở đó, ông cũng như đa số mọi người di cư khác, nghĩa là bỏ cả mồ mả ông bà tổ tiên và ruộng vườn tài sản để vô Nam với hai bàn tay trắng!

Là một thanh niên độc thân 30 tuổi, sau khi theo họ hàng và "người làng" về cất "chòi" trên một vùng đất sình lầy nguyên là bãi rác đô thành thuộc một vùng ven đô của thành phố Sài Gòn, ông được lò heo Chánh Hưng nhận vô làm việc với "địa vị" và bậc lương thấp nhất là "lau quét lò heo", rồi từng bước, với sự siêng năng và khéo tay chặt đâu trúng đó, chỉ trong vòng 6 năm, ông leo dần lên các "chức vị" cao hơn như: "cạo lông heo", "đâm heo", "xả thịt heo", và cuối cùng là "cai heo" có nghĩa là làm xếp chỉ huy cả một toán thợ làm heo từ khi con heo còn sống cho đến khi thành thịt sẵn sàng để phân phối cho bạn hàng. Hai năm sau thì ông tự động xin nghỉ việc để về nhà làm "xeo âm bờ loi" tức là làm chủ lò heo mình ên.


Từ là một vùng đất sình lầy đầy rác rến, đoàn người lưu vong từ Bắc vô Nam đã biến cả một khu vực cuối đường Lê Văn Duyệt, bắt đầu từ khu Hòa Hưng – Chí Hòa cho chí đến khu Lăng Cha Cả, thành một khu vực trù phú phát đạt – gồm mấy "khu phố" nếu là mặt tiền đường, hay "khu xóm" nếu trong các hẽm sâu ngoằn ngoèo – nối liền nhau. Nổi danh nhất là khu chợ treo đầy các đùi chó thui lủng lẳng, mang tên một ông thầy thuốc Nam mà người dân cả miền Nam Việt Nam trước năm 1975 đều biết tiếng: Khu Ông Tạ! Căn chòi của "Ông Cả" tọa lạc trong khu vực nổi tiếng đó, và ông bỏ "giốp" cũng là vì sự phát đạt đó.

Thật ra, ban đầu ông chỉ định "làm chơi" nhưng không ngờ "ăn thiệt"! Với 6 năm tuổi nghề thành thạo "tốt nghiệp" từ lò heo Chánh Hưng, và nhất là vì mới cưới vợ cần tiền chi dùng và tu bổ nhà cửa, ông chỉ có ý định kiếm thêm “chút cháo” ngoài cái "giốp" chính thức bên Chánh Hưng, bằng cách mỗi tháng đôi kỳ, ông chọn mua lại một con heo của các đồng hương nuôi ở xóm trong, rồi ban đêm, lén lút cùng với "bà Cả" tức vợ mới cưới, làm thịt con heo để bán lại cho các bạn hàng thịt ở chợ Ông Tạ, dĩ nhiên với giá rẻ hơn thịt mua từ lò heo Chánh Hưng vì không phải đóng thuế và lấy công làm lời!

Không ngờ các bạn hàng thịt cứ thúc hối và khuyến khích ông làm thêm vì có lợi – được mua giá rẻ lại được thịt tươi ngay trong xóm không phải tốn công và tốn tiền lộ phí đi xa – nên ông đồng ý “đáp lại tấm thịnh tình” đó với một điều kiện: Ông sẽ cố gắng tăng “năng xuất” lên từ từ, và chỉ bán thịt cho những bạn hàng nào đêm đêm bỏ công ra giúp ông làm heo… lậu cho được bảo mật và an toàn!
Dĩ nhiên là các bà bạn hàng thịt “ô kê sa lem” ngay lập tức. Còn chuyện lậu hay không lậu thì chẳng ăn nhậu gì đối với họ, miễn rẻ, tươi và tiện là được! Đêm đêm họ hợp tác với "lò heo lậu" của "ông Cả" bằng cách làm việc không công để đổi lại việc được mua thịt "đít cao". Bà bán cháo lòng thì được mua cả sô tiết cùng bộ đồ lòng "còn trinh", bà bán bún bò huế cùng với bà bán bún mộc thì chia nhau chân giò, đuôi, với hàng đống xương, ông quay heo thì thầu các bộ sườn với đầu, thịt nạc lưng thì thuộc phần bà hàng giò chả, còn lại bao nhiêu thì 1 ông 2 bà chủ sạp hàng thịt heo mua tất!

Thế là từ một tháng 2 con, ông tăng năng xuất dần lên 4 con tức mỗi tuần một lần, rồi mỗi tuần 2 lần, cuối cùng là mỗi đêm vài con, và thế là ông chia tay lò thịt Chánh Hưng vì “phi thương bất phú” và nhất là làm chủ sướng hơn làm công!

Hai chữ “ông Cả” được trẻ con xóm trong lẫn xóm ngoài bổ túc thêm chữ “Heo” để phân biệt với hai "ông Cả" khác là – "ông Cả Bói" làm nghề thầy bói dạo, và "ông Cả Húi" làm nghề… hớt tóc dưới gốc cây đa – tạo thành cái biệt danh “ông Cả Heo” gắn liền với đời ông gần 40 năm, mãi cho đến sau khi qua tới Mỹ gần nửa năm mới đổi sang biệt danh khác!

Mỗi đêm sau giờ giới nghiêm – khi cả khu phố đã im lìm đắm chìm trong giấc ngủ – là giờ "lò heo lậu di động" của ông hoạt động ráo riết nhất. Gọi là "lò" cho dễ hiểu nhưng thực ra chỉ là trong bếp sau của "vài" căn nhà tôn nhỏ hẹp – và – "…di động" vì công việc làm thịt con heo được phân ra thành nhiều công tác nhỏ theo công thức "dây chuyền", rồi mỗi động tác sẽ được chuyển từ nhà này sang nhà khác để phòng ngừa các cuộc bố ráp bắt " heo lậu" có thể xảy ra bất ngờ, dù đã được đút lót từ trước!

Nếu là một khách bộ hành xa lạ lần đầu tiên có việc cần phải đi vào xóm trong của giang sơn “ông Cả Heo" vào lúc "lò heo" của ông đang hoạt động, có thể bất ngờ họ sẽ chứng kiến một vài hình ảnh ma quái và sẽ ngã lăn đùng ra bất tỉnh vì sợ hãi, hay nếu là người yếu bóng vía, có khi đến đứt gân máu mà theo ông bà ông vải luôn cũng không chừng!

Thí dụ như trong một con hẽm sâu hun hút vàng vọt ánh điện câu gần kề bên những mồ mả ngổn ngang của một nghĩa địa không tên, từ bóng tối bên hông một căn nhà đóng cửa im ỉm, một con heo trắng hếu cao lớn hơn một người to con, như hình ảnh một Trư Bát Giới trong phim Tề Thiên Đại Thánh nhưng không có "cào cỏ", vụt hiện ra trong bóng đêm mờ ảo… đứng cao lêu nghêu bằng 2 chân sau, và chạy vun vút rồi khuất mình vào bóng tối của một khúc quanh!

Thưa quý vị, đó là một con heo thật chứ không phải chỉ là ảo ảnh hay hồn ma bóng quế hiện hình nhát người, mà cũng không phải là Trư Bát Giới xổng chuồng xuống thế ghẹo nguyệt trêu hoa! Con heo thật nói trên là con heo đã bị mần thịt qua các giai đoạn… giết chết bằng 2 cọc điện cắm vào 2 vành tai, cắt cổ đạp bụng để lấy huyết, mổ bụng lấy lòng, và cạo lông… nên trắng hếu! Bấy giờ là giai đoạn kế tiếp – “phân thịt” – cần được di chuyển sang một căn nhà khác, do một người khỏe mạnh ở trần, banh bụng con heo ra rồi trùm theo thế đứng lên đầu mình cho thăng bằng trong khi chạy. Do đó, trong bóng đêm tranh tối tranh sáng, hình dáng người và heo nhập làm một và trở nên cao lêu khêu trông như một loài quái vật "mình người đầu lợn" trắng hếu dưới trăng!


Trở lại câu chuyện về đời “ông Cả Heo”! Sau ngày đổi tiền lần thứ nhất do bạo quyền cộng sản thực hiện sau khi cưỡng chiếm được toàn miền Nam, tất cả số tiền mặt chôn cất giấu dưới gặm giường của ông bà “Cả Heo” trở thành không cánh mà… cuốn theo chiều gió! Liên tiếp vài tháng sau, bà “Cả Heo” mỗi chiều bắt ghế ngồi trước cửa “chửi đổng” cái quân… “cướp đêm là giặc cướp ngày là quan”, và qua đời sau một cơn đau tim bạo phát vì tiếc tiền và phẩn uất!
Sau vài năm chống cộng bằng mồm vì mất tiền mất vợ, “ông Cả Heo” lại bắt giò bắt cẳng được với tên công an khu vực ranh con mặt búng ra sữa để tái phục hoạt lại “lò heo lậu” với một vài thành phần nhân sự mới, điền khuyết vào các chỗ trống do một vài cộng tác viên cũ – trong đó có thằng con trai của ông – đã vượt biên sau ngày 30 tháng 4, 1975. Nỗi buồn mất tiền mất vợ mất con dần dần phôi phai tỷ lệ nghịch với cái túi tiền mỗi ngày mỗi đầy thêm do lợi nhuận đến từ “lò heo lậu” tái phục hoạt.

Đời “ông Cả Heo” không biết sẽ ra sao, hạnh phúc hay khổ đau – NẾU – …nếu không có một người đàn bà trẻ hơn ông khoảng 20 tuổi chen vào?

Cuối thập niên 80’, thế giới mỏi mệt với chuyện cưu mang dòng thác người tỵ nạn Việt Nam liên miên bất tận! Các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á cương quyết… ồn ào dẹp tiệm, bất chấp tự tử và nổi loạn. Phủ Đặc ủy Tỵ Nạn thuộc cơ quan Liên Hiệp Quốc tíu tít thu xếp cho những người còn kẹt lại tại các trại tỵ nạn hồi hương, trong số đó có một người phụ nữ độc thân. Khi “ông Cả Heo” mới bắt đầu lập “lò heo tại gia” thì… "ngày này năm xưa em còn bé tí teo – ngày này năm xưa em bé như con mèo", bây giờ hồi hương khi “lò heo tại gia” của “ông Cả Heo” đang tái phát thì bà chừng 4 bó!

Áo rách về làng, người đàn bà đi tìm tự do hụt đó xông ngay vào “lò heo tại gia” của “ông Cả Heo” để trước kiếm cơm, sau… điền vào chỗ trống cho lọn nghĩa! Chỗ trống trải nhất trong “lò heo” và trong lòng “ông Cả Heo” là hình bóng của “bà Cả Heo”. Người đàn bà đi tìm tự do hụt trở thành con chim “tự” nhốt trong lồng. “Lồng chim” là “lò heo” và cuộc đời còn lại của “ông Cả Heo”.
Một năm sau khi hồi hương, người trong xóm gọi người đàn bà đó là “bà Cả Heo 2”!
Ngoài người đàn bà trẻ hơn mình khoảng 20 tuổi, tấm lòng rộng rãi của “ông Cả Heo” được trời ban thưởng bội hậu! Chiếc “mề đay” hai mặt được trao tận tay “ông Cả Heo” vào gần giữa thập niên 90’. Chương trình cứu xét cho những người hồi hương được ra đi, chẳng những làm bừng lại nỗi khát khao tự do trong lòng “bà Cả Heo 2”, mà lại còn cộng với nỗi nhớ mong gặp lại đứa con trai độc nhất cùng một số bà con đang luân lạc bên kia bờ Thái Bình Dương xa thẵm của “ông Cả Heo”! Một buổi sáng chan hòa nắng ầm, hai ông bà ra “văn phòng dịch vụ xuất cảnh” để nộp tiền “trọn gói” nhờ giúp tiến hành thủ tục ra đi cho người hồi hương!


Bữa tiệc chia tay với hàng xóm và các cộng sự viên trong “lò heo tại gia”, cùng với bài diễn văn hùng hồn dài lê thê trên đầu bài viết này, đánh dấu cho một khúc quanh khá gắt khi đời “ông Cả Heo” đang đi vào đoạn cuối!
Ngày mai ông lên đường!

BỪNG CON MẮT DẬY THẤY MÌNH… LƯỢM LON!
“Mít Tơ” Coca Laden


Từ 5, 6 năm nay, mỗi buổi sáng khi mặt trời chưa kịp mọc, người dân cư ngụ chung quanh một khu chung cư giành cho người cao niên có lợi tức thấp trong thành phố San Jose đều thấy một ông già khoảng trên 70 tuổi, cùng với một người đàn bà – không biết là con hay vợ vì dáng người tuy khắc khổ nhưng chắc chắn chưa già – họ ra đi “khi trời chưa kịp sáng” với 2 bao đựng rác trống màu dưa cải khổ lớn, rồi trở về với 2 bao to tướng đựng đầy lon nhôm căng phồng. Người trong khu chung cư gọi họ là “Ông Bà Già Lượm Lon”!

Gương mặt “Ông Già Lượm Lon” u uất, lầm lì, chịu đựng, và ít nói. Trên trán ông, một vết sẹo chạy dài xuống gần tới mí mắt càng khiến nét mặt ông thêm “ngầu”, tuy chưa bao giờ ông có thái độ hung dữ với ai! Những lúc bóp hay đạp dẹp lon để cho vô bao, nhìn dáng ông thì già nhưng tay chân ông vẫn còn nhanh gọn và khỏe mạnh. Ông có thể lặng lẽ làm việc với hàng mấy trăm cái lon trong nhiều giờ đồng hồ, mà không cần ngẩn lên để nhìn người qua lại ngay bên cạnh đang tò mò ngó mình!

Còn “Bà Già Lượm Lon” thì hoạt bát và tương đối cởi mở hơn ông. Bà tỏ ra có nhiều kinh nghiệm về các món ăn nấu nướng chiên xào bằng thịt heo, và hay chỉ dẫn người ta cách chọn thịt heo để mua sao cho đúng món định nấu. Nhiều lúc ngứa mắt trước cử chỉ lúng túng của mấy bà nội trợ trong chung cư mới đi làm móng tay về, bà giằng lấy con dao và thái thịt heo thoăn thoắt như một ông nhà báo rành nghề đang di động “con chuột” để lay-out bài vở.

Buổi sáng vào khoảng 4 giờ – họ đi “hành nghề” có đôi có cặp, vì qua một đêm tích tụ, các thùng rác lớn của các khu thương mại chung quanh đều đầy ấp lon nhôm, cần phải có 2 người mới “sản xuất” (theo ngôn từ thường dùng của bà Cả 2) tới nơi tới chốn, và nhất là tranh thủ được thời gian cấp tốc trước khi “bọn xâm lăng” (ngôn từ của giới lượm lon) tới giành giật!

Khi đi, họ “choàng khăn bịt mặt” để che sương và tránh mùi hôi thối trong các thùng rác. Bọn trẻ con trong xóm chung quanh trước kia gọi họ là “Coca Ninja”, nhưng từ một năm trở lại đây, sau cái vụ 9/11 ở thành phố NewYork, chúng nó gọi hai ông bà là… “Coca Laden”!

Buổi chiều cũng khoảng 4 giờ – ông đi "làm" một mình vì lon không nhiều và "Coca Laden… phu nhân" còn phải ở nhà lo tề gia nội trợ. Những lúc rỗi rãi, bà lấy búa ra đập lon cho thật dẹp để dễ nhồi nhét và khỏi choán tốn bao. Dư thì giờ nữa thì bà qua nhà hàng xóm thuyết giảng "bất vụ lợi" về các món ăn nấu bằng thịt heo.

Nghề lượm lon tuy vậy mà cũng có một số quy luật bất thành văn. Quy luật rõ ràng nhất là… vùng nào cọp ấy, và các thùng rác đã có người “hành nghề” từ lâu thì coi như… hoa đã có chủ! Những kẻ không tôn trọng quy luật nói trên – vượt cấm địa “hành nghề” – thì bị "đồng nghiệp" gọi bằng danh từ… “bọn xâm lăng”!

Khi tới địa điểm “hành nghề”, bà đỡ đít giúp ông leo lên chui tọt vào thùng rác, rồi hai tay ông lia lịa vừa bới vừa nhặt vừa tung ra bên ngoài, nhanh gọn không thua gì động tác chặt thịt heo trong những ngày ông còn trên quê hương. Còn bà thì vừa nhặt vừa đạp vừa nhét vô bao cũng chính xác và xuất sắc không kém gì khi đếm tiền bán thịt heo lậu trong những vùng bóng tối lờ mờ. Thỉnh thoảng bà lại lầu bầu như "đĩ khấn tiên sư" vì bị… lon ông ném trúng đầu bà!
Một buổi sáng cách đây chừng 3 năm, “Bà Già Lượm Lon” bị cảm cúm nên “Ông Già Lượm Lon” đi “hành nghề” một mình! Chưa đầy 15 phút sau, ông chạy trở về nhà một cách thảm não, đầu và mặt ông đầy máu! Ông vừa chạy vừa kêu ầm ỉ: “Bà ơi cứu tôi với… cứu tôi với… nó đánh chết tôi rồi!”. Tiếng ông kêu đứt quảng từ xa vọng về vang vang trên hè phố vắng âm u khi mặt trời chưa kịp mọc đánh thức những người hàng xóm chung quanh. Họ chạy ùa ra đỡ dìu ông ngồi lên bãi cỏ và kêu xe cứu thương. Vài người chạy vào đánh thức báo tin cho “Bà Già Coca Laden” biết ông bị nạn khi bà vẫn còn đang thiêm thiếp trong cơn mộng mị thấy lủng lẳng toàn đầu với chân heo (theo lời bà kể lại sau đó)!


Ông chỉ bị thương ngoài da nhưng cũng đủ lưu lại một vết tích cuối đời trên trán bằng một vết sẹo dài tới mí mắt, sau đó nổi gồ lên vì ăn rau muống quá nhiều khi vết thương chưa lành hẳn!

Theo lời ông kể lại, sáng đó khi ra tới địa điểm hành nghề là một thùng rác lớn trong một khu thương mại gần nhà mà ông bà đã coi như “hàng nhà” từ những ngày đầu mới qua Mỹ, ông nghe có tiếng người đang “sản xuất” lộm cộp lạc cạc bên trong. Ức lòng vì bị phá nồi cơm, ông thò đầu vào hỏi đương sự tại sao dám đến “xâm lăng” vào “bi di nét” của ông? Bất thình lình… tai ông nghe một tiếng “cốp” trước khi mắt ông thấy cả ngàn con đom đóm xẹt túa ra. Người ông bật ngửa, mắt ông hoa lên rồi nhòe đi vì máu từ trán chảy xuống! Ông hoảng hốt giơ tay vuốt máu trên mắt, tay kia bịt đầu cắm cổ vừa chạy vừa kêu cứu dù sau lưng chẳng có bóng dáng nào rượt theo!

Thủ phạm biến mất một cách tài tình và nhanh chóng như những con quái vật "mình người đầu lợn" trắng hếu dưới trăng ngày xưa trong khu xóm ở quê nhà!

Cho đến khi ngồi kể lại trong một bữa nhậu với hàng xóm, ông cũng không biết được người đập đầu ông là đàn ông hay đàn bà? Việt Nam hay Mỹ – Mễ? Da trắng, da đen hay da vàng? Già trẻ hay nhớn bé? Nói tóm lại… ông không nhận ra một chi tiết gì về nó cả. Lý do dễ hiểu, "nó" cũng "choàng khăn bịt mặt" như ông. Kể cả vũ khí “nó” dùng để đập đầu ông là chai hay lọ? Búa hay kềm?… ông cũng mù tịt vì phần thì trời còn tối quá, phần khác vì “nó” ngồi thụp trong thùng rác chỉ đưa lưng ra, mới nói chưa hết câu và chưa kịp thò hết đầu vào là bị “nó” đập đầu như các bà bán cá ở Việt Nam đập đầu cá lóc! Ông kết luận một hơi dài đầy tinh thần thượng võ:
– Thằng đó nhỏ con nhưng chắc có nghề vì tay chân nó nhanh quá, ngồi xoay lưng mà đánh ngược theo kiểu “Đà Đao” của Quan Vân Trường hết sức chính xác. Mình bị “nó” đánh mà còn phải phục “nó”! Mẹ kiếp… nếu ở Việt Nam cách nay chừng 40 năm thì “nó” chết chắc vào tay tôi. Bò ở lò heo Chánh Hưng mà tôi chỉ phạng có một búa là quay cu lơ cán cuốc. Ngày hôm nay thì… cọp xuống đồng bằng chó cũng khinh. Ai bảo mình già rồi mà còn ham đi Mỹ! Ở Việt Nam ai thiếu thịt chứ tôi thì thừa mứa ăn không hết. Thằng nào đụng đến tôi là có chán vạn thằng đàn em ra mổ nó như mổ lợn ngay không kịp ngáp. Không cần phải đến phiên tôi tự ra tay! Bây giờ… ông chặc lưỡi: "đi cách sông – về cách núi!".


Quý độc giả thân mến;
Đọc đến đây, chắc quý vị cũng đã đoán ra được là “Ông Bà Già Lượm Lon” có bí danh "Coca Laden" ở San Jose ngày hôm nay là ai rồi. Tác giả bài viết này khỏi cần phải nói rõ. Câu chuyện vừa kể bên trên chỉ là một mảnh đời của một cặp vợ chồng cao niên Việt Nam, trong hàng mấy trăm ngàn mảnh đời “cao niên” khác, đang luân lạc trên xứ người.

Nguyên Thanh

Nguồn: Calitoday.Com

Thảo luận cho bài: "CAO NIÊN XỨ NGƯỜI"