Cây Me Nhà Ông Hàng Xóm

Tác giả:

Nhưng nó cũng rất âm thầm và kín đáo. Cái cảm giác mà nó cứ ầm ĩ trong tim, trong tâm trí tôi. Tôi cũng không rõ cây me đã có từ khi nào, nhưng khi tôi bắt đầu hiểu biết chuyện thì nó đã có đấy. Dường như sự hiện diện của cây me nhà ông hàng xóm như là một món quà chỉ dành riêng cho tôi mà thôi. Hầu hết, một thời niên thiếu của tôi đều nằm quanh gốc me này.

Năm tôi mười hai tuổi, cây me đã sừng sững vươn mình dưới vòm lá xanh um, lòa xòa, mát rượi, bên cạnh ngôi nhà cửa xanh rêu phủ và lúc nào cũng khóa kín. Trên cửa với hai hàng chữ và một hình vẽ. Hình vẽ là một bàn tay phải đang chỉ ngón trỏ vào phía trong nhà. Trong hai hàng chữ, tôi chỉ đọc được có một hàng, hàng trên, đó là: " Vô Phận Sự Cấm Vào" . Còn hàng kia là những chữ thật khó hiểu, tôi đọc chẳng được. Sau này, tôi nghe mẹ tôi nói đó là tiếng Tây.

Cây me mà tôi kể, nó có lớp vỏ mầu xám đen, nứt nẻ, có rất nhiều vết dao bầm chồng chéo lên nhau và nó có cả một gốc đinh bù-lon lớn mắc theo sợi giây phơi đồ. Căn cứ trên những vết dao, vết nứt, và cả vết cây đinh bù-lon đã bị cây me nuốt chửng gần hết chỉ còn lại cái chót cũng đủ cho tôi thấy cây me đã trải qua không biết bao nhiêu là trận mưa gió.

Hồi ấy, tôi là một đứa trẻ luyến nhất xóm. Phải nói tôi là một thằng quỹ nhỏ, một thằng ôn dịch, phá làng phá xóm nhất. Nhưng tôi vẫn không dám bén mảng lại gần gốc me này. Lý do đó là vì tôi sợ. Tôi sợ những lời đồn, lời dọa của mấy đứa bạn trong xóm đã làm tôi chùn chân trước sự hiện diện của khu vườn vắng người trông nôm. Tôi nghe người trong xóm kể, cứ mỗi đêm, trên gốc me, họ thấy bóng một cô thiếu nữ với mái tóc dài thả lơ lững và cái đầu thì gục xuống. Cô gái đang treo trên sợi giây thòng lọng, treo tòn ten trên một cành cây me. Họ nói rằng gia chủ là một người phù thủy chuyên đi tìm những người con gái còn trinh để về giao hợp xong rồi giết treo trên cây. Họ nói như thế là vì họ nhìn ông với dáng người nữa Tây nữa ta với đôi mắt sâu thăm thẳm như cố tình thu hút hết mọi ánh mắt soi mói của những người hàng xóm ngôi lê đôi mách. Họ còn thêu dệt thêm rằng trong nhà ông có rất nhiều thây ma và xác chết. Cũng có nhiều người kể ra về những chuyện huyền thoại về cây me, về ngôi nhà suốt ngày cứ đóng cửa im ỉm kia. Bởi vậy, không một ai dám bén mãng lại gần nhà ông ấy cả.

Chủ nhân của ngôi nhà có cây me huyền thoại kia là ông Tường, một người đàn ông độ khoảng ngoài năm mươi. Nghe nói ông Tường là người Tây lai. Ông có mái tóc bồng bềnh rất văn nghệ, mũi cao, càm rộng, mắt to và sâu, dáng người dềnh dàng nhưng gọn, người rất điển trai. Ông Tường không vợ, không con, ông chỉ sống một thân một mình bên căn nhà lớn và mảnh đất rộng với vườn trái cây. Ông Tường sống bằng nghề đào giếng và đúc bi giếng cho những người trong xóm, trong làng.


Nghe mẹ tôi kể, lúc ông Tường còn trai trẻ, ông rất đào hoa và có nhiều biệt tài. Ông học tiếng Tây rất giỏi và là một người có hoa tay về hội họa. Những giếng do ông đào, nước uống ngọt và không bao giờ thiếu nước trong mùa khô. Nhưng mấy năm gần đây do sự già yếu, những người thuê ông đào giếng thưa dần và thưa dần. Nên ông đâm ra chán nản và thường bỏ nhà đi rong, đi uống rượu. Ông vốn không bạn, nên ít người viếng thăm. Từ đó ngôi nhà và cây me kia mặc sức người trong xóm, trong làng thêu dệt thêm những huyền thoại.


Chắc có lẽ ông Tường có máu Tây, nên ông thích trẻ con? Có một lần, khi tôi đi học về, ngang qua khu vườn nhà ông. Ông kêu tôi vào và cho tôi một số trái cây ông hái được trong vườn. Lúc ông gọi, tôi cứ đứng chùn chân mãi chẳng muốn vào. Nhưng thấy nét mặt dễ mến và tươi cười của ông, tôi cũng bước chân theo ông. Đó là lần đầu tiên tôi đặt chân vào nhà ông.

Khi tôi bước chân vào nhà ông Tường, tôi thật sự ngạc nhiên và thích thú với cách trang trí gia thất của ông. Không như những lời mà mấy đứa bạn tôi nói, nhà ông có nhiều thây ma, mà ngược lại nó rất đẹp. Phòng khách có bộ trường kỹ được đóng bằng gỗ hương đang lên nước. Một cái bàn hình chữ nhật và bốn cái ghế cũng bằng gổ hương hay gụ gì đó cũng đang lên nước. Nhìn vào, tôi có thể thấy cái bóng của mình loáng thoáng trên mặt bàn, trên mặt trường kỹ. Trên bàn có một bình hoa huệ trắng và hai đóa hồng đỏ, và một đĩa trái cây tươi. Đưa mắt nhìn lên tường, tôi thấy có tất cả bốn bức tranh rất đẹp. Mỗi lần tôi nhìn vào trong bốn bức tranh, chúng cứ muốn thu hút lấy tâm hồn tôi. Tôi không còn nhớ là trong ba bức tranh kia vẽ những gì, chỉ có bức thứ tư đối diện với nơi tôi ngồi là tôi còn nhớ rõ. Nhớ rất rõ. Bức tranh ấy vẻ hình một bàn tay thô, khô cứng, nứt nẻ và chai đá đang cầm một nụ hồng vừa chớm nở. Nhìn bức tranh tôi cảm thấy nó có một cái gì đó tương phản với nhau, nhưng nó cũng rất dịu dàng sắc sảo. Cái bức tranh đó cứ ám ảnh tôi mãi cho tới ngày nay. Bên dưới bức tranh ấy có đề những hàng chữ Tây như những " rồng bay phượng múa" . Thấy tôi nhìn vào bức tranh, ông nói với tôi bằng một tràn tiếng Tây. Tôi chẳng hiểu gì cả và dường như ông cũng kịp nhận ra nên ông chợt ngưng ngang và dùng tiếng Việt để nói với tôi.

– " Tình yêu là thứ rượu ngon, là hoa hồng đẹp, nó đốt cháy tim tôi! Hình đó moa vẽ đó, có đẹp không ?" Ông hỏi.

– " Dạ đẹp, con thích lắm," Tôi trả lời.

Ông nhìn tôi cười và nói thêm một tràn tiếng Tây khác. Nói xong, ông lấy tất cả các thứ trái cây trong đĩa đưa cho tôi và tiễn tôi ra tận cửa.

Kể từ hôm ấy, tôi thường ghé lại nhà ông chơi mỗi lần có ông ở nhà và những lúc ấy ông không say xỉn. Cũng từ lúc ấy, tôi làm quen với khu vườn nhà ông, làm quen với cây me. Thấy tôi ghé lại nhà ông thường xuyên, đám bạn tôi, đứa nào đứa nấy cũng le lưỡi lắc đầu có vẻ thán phục tôi lắm.

Mỗi lần đi học về, bất kể dù có ông ở nhà hay không, tôi đều vào nhà ông hái cái cây để đem về nhà ăn. Nếu có ông, tôi xin phép ông được hái và ông đích thân đem ra một cái lồng hái dài, thật dài có cái móc ở đầu và hái những trái mà tôi thích do tôi chỉ ông. Rồi những lần không có ông, tôi trèo lên hái trộm thỏa thích. Có một lần đang lúc trèo lên cây me hái trái trong lúc ông vắng nhà, khi nghe tiếng động của ông về, tôi vội trèo xuống, chui rào lẹ, ba chân bốn cẳng chạy về nhà. Về đến nhà tôi vừa thở vừa lo ông Tường mách mẹ. Tôi đã chuẩn bị tinh thần cho một trận đòn chiều hôm ấy. Nhưng không, ngày hôm ấy không có chuyện gì sãy ra cả. Tôi vẫn bình yên!

Những trưa hôm, sau tôi đi học về, không như mọi bửa, tôi thường đi ngang qua nhà ông. Lần này, tôi lại bọc một ngã sau, xa hơn, đi về để tránh gặp mặt ông. Trong một tuần lễ liên tục, tôi cứ bọc đường sau mà về. Sau hơn một tuần sự việc ấy diễn ra, bà hàng xóm có đem biếu mẹ tôi một ít mắm ruốc. Có gói mắm ngon, anh tôi bảo:

– " Trời, mắm ruốc ngon và thơm thật. Mắm ruốc này mà ước gì có me ăn là hết xẩy.

Nói rồi anh chợt nhớ ra, anh hỏi tôi:

– Sao bửa giờ tao không thấy mày đi hái me bên nhà ông Tường nữa Thiện ? Bộ ăn me nhiều quá rồi bây giờ ê răng rồi hả? Hôm nay có mắm ruốc ngon, mày đi hái về cho tao một ít, tao cho mày hai trăm sáng mai mua ổ bánh mì ăn đi học.

Nghe anh cho tiền mua ổ bánh mì, tôi lưỡng lự. Nhưng rồi tôi cũng, " chứng nào, tật nấy" . Tôi bèn bò qua nhà ông Tường tính vạch rào hái me trộm. Khi tôi đến nhà ông Tường để hái me, từ đằng xa, tôi thấy cánh cửa xanh vẫn đóng kín. Tôi mừng lắm. Mừng vì ông không có ở nhà. Đến khi tới gần, tôi mới nhận ra là cánh cửa ở lối vào vườn nhà ông không khóa như mọi khi mà ông chỉ khép hờ. Tôi nhẹ đẩy cánh cửa qua một bên rồi vào trong vườn hái me giống như mình là chủ vườn vậy. Chắc có lẽ hôm trước thấy tôi vạch rào tìm chổ để chui, nên ông để cửa chờ đón tôi trở lại chăng? Tôi nào biết. Nhưng tôi cũng có một cảm giác súc động và vui vui trước sự thương mến của ông dành cho tôi.


Hè năm tôi mười ba tuổi, cây me vẫn vẫy tay reo gọi tôi về với những chùm trái dài ngoằn, dèm dẹp, trong thật đẹp mắt. Tôi hỏi mẹ tôi có còn mắm ruốc do bà hàng xóm năm ngoái cho không? Thì ra ngoài anh và tôi, nhà tôi không ai ăn ruốc cả bởi vậy ruốc còn cũng bộn. Tôi vội lấy cái chén nhỏ, múc một ít mắm ruốc rồi dầm hai trái ớt hiểm, nặng thêm tí chanh, bỏ tí đường vào, hòa đều. Tôi dùng tay quệt thử một miếng ruốc lên miệng nêm.

Ý trời, ngon tuyệt! Tôi gật đầu rồi bỏ chén mắm ruốc vào một cái túi nhựa và đem đến nhà ông Tường, nơi có cây me đang mời gọi. Miệng ngậm cái quai sách của cái túi, tôi trèo lên cây me và hái trái. Những trái mè dài thòng, dẹp dẹp, mới vừa tượng hột được tôi hái và vệt mắm ăn ngon ăn lành. Cái mùi vị mằn mặn, cay cay, thơm thơm của mắm hòa lẫn với cái chất giòn giòn, chua chua từ những trái me vừa tượng hột là lưỡi tôi ríu lại. Tôi vừa ăn, vừa hít hà, vừa gãi cái đầu ướt đẫm mồ hôi thật là khoái. Tôi ăn cho đến gần hết chén mắm rồi mới chịu trèo xuống đất và vứt cái chén vào một bụi lá gai gần đấy rồi phủi tay đi về.

Về đến nhà, tôi nốc cạn cả một gáo nước lã ở cái lu dưới gốc dừa. Nước mát rượi làm lưỡi tôi tê tê. Cảm giác thật thích, tôi làm thêm gáo nữa, rồi gáo nữa… Tôi hít hà một cách khoái trá. Cái cảm giác thật khoái mà tôi chưa từng có được từ trước đến giờ. Hôm đó, chắc có lẽ ăn quá nhiều me, rồi uống nước lã, nên tôi bị ông Tào Tháo hỏi thăm không biết mấy lần.

Cứ thế, hè này đến hè khác, cây me sau vườn nhà ông Tường cứ thu hút tôi như một thỏi nam châm hút đi những mảnh sắt vụn. Cây me nhà ông Tường cũng đôi lần giúp tôi một số tiền khá lớn vào dịp gần tết. Ba tháng trước khi tết, mợ tôi thường làm mức me để đãi bạn vào dịp tết. Mợ nhờ tôi kiếm mua dùm mợ một ít me già, nhưng chưa dốt. Tôi chợt nghĩ đến cây me nhà ông Tường. Tôi liền hái về cho mợ. Mợ cho tôi tiền để dành sắm đồ tết. Thế là tôi có những bộ đồ tết thật đẹp cho mỗi năm nhờ vào cây me.

Hết ăn me non, tôi lại ăn me dốt. Những trái me già vỏ vàng là những trái me ngon. Hái riết rồi tôi biết phân biệt được làm cách nào để biết được me dốt hay chưa. Dễ lắm, tôi chỉ đưa tay cào nhẹ vào vỏ me là có thể biết được liền. Nếu dấu trày do móng tay mình cào lên hiện một màu xanh thì me còn non, chưa dốt. Ngược lại, nếu mà màu đen hoặc đà, thì me đã dốt, hoặc đã chín. Những trái me dốt vừa chua, vừa ngọt, vừa bùi thật là tuyệt. Còn me chín thì khỏi phải nói, cơm mầu vàng đỏ nâu, bỏ vào miệng ăn thì khỏi chê vào đâu được. Nó chua chua ngọt ngọt thật là đã.

Ngoài chuyện cây me giúp tôi giải trí, giúp tôi khỏi buồn, giúp tôi kiếm tiền cho tôi may áo tết, mà cây me còn giúp tôi với nhỏ Thúy, con nhỏ bạn thân ở cùng xóm, gần nhau hơn. Tôi nhớ, mỗi lần hái me chín là tôi để dành cho Thúy một chùm có nhiều quả và có luôn cả lá. Và mỗi lần ăn me chín là tôi để dành hột me lại cho con nhỏ chơi bán hàng. Cây me cứ như vậy gắng bó theo tôi như hình với bóng trong suốt bao năm trời.


Cho đến một ngày kia, khi tôi rời khỏi Việt Nam, hình như cây me cũng buồn cho sự rời xa quê hương của tôi. Lá me úa vàng và rơi lã chã trông giống như những giọt nước mắt tiển đưa một người bạn thân rời xa xứ.

Qua bao năm xa quê, bây giờ, tôi không biết cây me kia có còn nằm im lìm bên cạnh ngôi nhà có cánh cửa mầu xanh hay không? Hay ai đã vô tình chặt bỏ bao kỹ niệm êm đềm của một thời thơ ấu của tôi để cất lên bao tần nhà chọc trời. Tôi không biết ông Tường, người hàng xóm tốt bụng, có còn sống hay không? Còn có cả cô bạn hàng xóm cùng thời con nít ấy nữa, giờ đã ra sao? Thôi, tất cả chỉ là quá khứ, một quá khứ đẹp. Tuyệt đẹp, không bao giờ quên.

Y-Thy
02/17/01

Thảo luận cho bài: "Cây Me Nhà Ông Hàng Xóm"