Chân Dung Thiếu Nữ, Thủy Tinh – Portrait of a Girl in Glass

Tác giả:

Portrait of a Girl in Glass  by Tennessee Williams 
                              Lan Huệ chuyển ngữ 
  
          Chúng tôi sống trong một căn hộ ở lầu ba một chung cư trên đường Mapple Street, San Louis, cùng một vuông phố với ga-ra xe hơi Ever-Ready, một tiệm giặt ủi Trung Hoa và một trung tâm cá độ nấp dưới chiêu bài mua bán xì gà. 
  
          Tôi là một nhân vật bất thường, thứ nhân vật mà sự xáo trộn đảo điên hay tai họa dường như chực chờ sẳn, bởi lẽ tôi là nhà thơ làm việc ở kho hàng. Laura chị tôi, có thể xếp vào loại còn kém sẳn sàng hơn nữa. Chị ấy không có một hành động tích cực nào trong thế giới này; chị đứng ở bờ nước, có thể nói như thế, cho rằng nước quá lạnh để nhúng chân vào. Chị đã không nhúc nhích bước nào, chắc thế, nếu mẹ của tôi, một người đàn bà khá xông xáo, đã không thúc đẩy chị — khi ấy hai mươi tuổi, bằng cách ghi danh cho chị ở một trường dạy nghề gần nhà. Dùng tiền trong "quỹ tạp chí" (mẹ tôi mời khách mua dài hạn tạp chí phụ nữ), Mẹ đóng trước sáu tháng học phí cho chị. Chuyện này không có kết quả gì cả. Laura cố học thuộc vị trí bàn phím; ở nhà chị có một biểu đồ và thường ngồi lặng thinh hàng giờ trước nó trong khi lau chùi, đánh bóng những vật trang trí thủy tinh của chị. Chị làm như thế mỗi đêm. Mẹ lưu ý tôi phải giữ im lặng: "Chị đang học biểu đồ!" Tôi cảm thấy chuyện đó vô vọng thế nào ấy, và tôi đã nghĩ đúng. Mỗi tuần khi có kỳ luyện thi tốc độ, dường như chị nhớ vị trí của các phím chữ, nhưng ngay sau đó chúng xao xác bay vút khỏi tâm trí của chị như một đàn chim vỡ tổ. 
  
          Rồi đến lúc chị không thể đến trường nữa. Trong một thời gian ngắn, chị giữ kín được chuyện này. Mỗi sáng chị ra khỏi nhà như thường lệ, và trong suốt sáu tiếng đồng hồ, đi loanh quanh trong công viên. Lúc ấy vào khoảng tháng Hai, tất cả các cuộc dạo mát, dù thời tiết ra sao chăng nữa, đều làm ta cảm cúm. Chị nằm liệt giường ho hen mấy tuần, một nụ cười hạnh phúc là lạ trên mặt. Dĩ nhiên Mẹ gọi điện thoại đến trường  báo cho họ biết chị bệnh. Ở đầu dây bên kia, một người nào đó, không thể, có vẻ như thế, nhớ được Laura là ai; điều này làm mẹ bực bội và mẹ mỉa mai, "Laura đã đi học ở trường của bà hai tháng nay, lẽ ra bà phải nhớ tên của cháu mới phải!" Rồi sự thật tàn nhẫn được tiết lộ. Sau vài giây im lặng, bà ấy trả đủa rằng bà ấy quả thực có nhớ đến cô Wingfield, và từ một tháng nay cô ấy không đến trường lần nào. Giọng Mẹ trở thành the thé. Một người khác được mời đến điện thoại để xác nhận phát biểu của người thứ nhất. Mẹ gác máy, vào phòng riêng của Laura, nơi chị đang nằm với vẻ mặt căng thẳng và sợ sệt thay vì mỉm cười kín đáo. Vâng, chị tôi thú nhận, họ nói đúng đấy mẹ ạ. "Con không thể đi học được nữa, con sợ lắm,  chuyện đi học làm con quặn thắt ruột gan!" 
  
          Sau thất bại này, chị tôi ở lỳ trong phòng riêng hầu như suốt ngày. Đây là một căn phòng hẹp có hai cửa sổ nhìn ra một khoảng trống tối ám giữa hai nhánh của ngôi nhà cao tầng. Chúng tôi đặt tên nơi này là Thung Lũng Tử Thần, vì một lý do đáng kể.  Có rất nhiều mèo hoang sống trong các ngõ hẻm gần đây và một con Chow lông trắng bẩn thỉu, đặc biệt hung tợn, thường rình bắt chúng. Ở những chỗ thoáng hay có cầu thang cứu hỏa, lũ mèo có thể chạy thoát, nhưng thỉnh thoảng con chó lại khôn khéo đánh lừa vài chú mèo non chạy vào ngõ cụt này, nơi đoạn cuối nằm dưới cửa sổ phòng chị; các chú mèo xấu số khi đó mới hiểu rằng, chỗ mà chúng tưởng là đường thoát hiểm hóa ra lại là một đấu trường khép kín, một hầm mộ ảm đạm bằng gạch và xi măng với những bức vách quá cao không một con mèo nào có thể nhảy qua, nơi đó chúng phải quay lại phun phì phì, đối diện với nỗi chết cho đến khi nỗi chết đổ chụp vào. Hầu như cứ chưa đầy một tuần vở bi kịch bạo liệt ấy lại tái diễn. Khoảng trống này trở thành ghê tởm với Laura, bởi chị không thể nào nhìn ra cửa sổ mà không nhớ những tiếng kêu gào và gầm rú chết chóc. Chị luôn kéo kín màn cửa, và vì Mẹ không cho phép xử dụng điện, trừ những khi cần thiết, ngày của chị hầu như trôi qua trong hoàng hôn vĩnh cửu. Trong phòng có ba thứ vật dụng màu ngà cáu bẩn, một cái giường, một bàn viết và một ghế ngồi. Treo ở đầu giường là một bức tranh tôn giáo vô cùng xấu xí, hình bán thân chúa Jesus rất nữ tính với những ngấn lệ còn đọng dưới mắt. Vẻ đẹp của căn phòng có được nhờ vào bộ sưu tập thủy tinh của chị. Chị rất thích thủy tinh màu, vách tường trong phòng đóng nhiều kệ trưng bày những vật thủy tinh nhỏ bé ấy, tất cả đều mong manh, sắc màu trang nhã. Chị không ngừng lau chùi, đánh bóng chúng. Khi ta bước vào phòng chị, lúc nào cũng có một thứ ánh sáng huyền ảo trong suốt, tỏa ra từ chất liệu thủy tinh hấp thụ các tia sáng yếu ớt xuyên lọc qua màn cửa từ Thung Lũng Tử Thần. Tôi không biết có cả thẩy bao nhiêu món thủy tinh tao nhã. Chắn hẳn phải hàng trăm món là ít. Nhưng Laura có thể cho ta biết chính xác. Chị ấy yêu từng món một. 
  
          Chị sống trong một thế giới thủy tinh, cũng như một thế giới âm nhạc. Âm nhạc đến từ chiếc máy hát đời 1920 và các đĩa hát sản xuất cùng thời, những bài như "Thầm Thì" hay "Tổ ấm“ hay "Dardanella." Các dĩa hát là kỷ vật của cha chúng tôi, người mà chúng tôi chỉ nhớ lờ mờ, người mà tên hiếm khi được nhắc tới. Trước khi đột ngột và bất ngờ biến mất khỏi đời chúng tôi, ông đã tặng cho gia đình, máy hát này và những đĩa hát này, âm nhạc của chúng lưu lại như một lời xin lỗi. Thỉnh thoảng đến ngày phát lương, tôi lại mua về một đĩa hát mới. Nhưng Laura không mấy khi thích những đĩa hát mới, có lẽ chúng gợi cho chị những thảm kịch ồn ào ở Thung Lũng Tử Thần, hoặc các buổi thi đánh máy tốc độ ở trường dạy nghề. Những bài chị yêu thích là những bài chị vẫn nghe đi nghe lại. Thường thường vào buổi tối chị hay hát một mình trong phòng riêng. Giọng của chị mỏng, và thường sai nốt. Thế mà nó lại có nét ngọt ngào ngây thơ đặc biệt. Tám giờ tối, tôi thường ngồi trong căn phòng như cái bẫy chuột của mình. Qua những lớp cửa đóng, qua những bức vách, tôi có thể nghe chị tôi hát một mình, một bài chẳng hạn như "Thầm Thì" hay "Em Yêu Anh" hay " Ngủ Ngoan Nhé Em," thỉnh thoảng lạc giọng ở chỗ này chỗ kia, nhưng luôn luôn chuyên chở được điệu buồn cung thứ của bài hát. Tôi nghĩ có lẽ đó là lý do khiến tôi hay viết những bài thơ đau thương kỳ lạ trong thời kỳ ấy. Bên tai tôi luôn văng vẳng giọng hát ẻo lã của chị, ru khúc nhạc chiều cho những món thủy tinh trong khi chùi bóng chúng hay có khi chỉ ngắm nhìn chúng bằng đôi mắt mơ hồ xanh biếc cho đến khi mủi nhọn của những tia sáng lấp lánh như ngọc của chúng nhẹ nhàng kéo hút những phần tử vòng cung của thực tại trong tâm trí chị, và rồi cuối cùng tạo nên một trạng thái an bình mê mị trong đó chị sẽ ngừng không ca hát hay lau chùi chúng nữa mà chỉ ngồi bất động cho đến khi mẹ tôi gỏ cửa, nhắc chừng chị đừng lãng phí điện. 
  
Tôi không tin là chị tôi thực sự ngu muội. Tôi nghĩ những cánh hoa trí tuệ của chị chỉ đơn giản khép lại trong sợ hải, và ta không thể nói chúng đã khép kín đến mức nào dựa trên vào sự khôn ngoan bí ẩn. Chị không bao giờ nhiều lời, ngay cả với tôi, nhưng thỉnh thoảng chị lại bật ra một câu gì đó làm ta kinh ngạc. 
  
Sau khi tan việc ở nhà kho hay vào buổi tối lúc viết lách đã xong xuôi, tôi thường ghé qua phòng chị trong chốc lát, vì chị có một ảnh hưởng êm ái làm xoa dịu hệ thần kinh căng thẳng đã rã rời vì phải làm hai công việc hoàn toàn trái ngược lẫn nhau. 

          Tôi thường thấy chị ngồi trên chiếc ghế ngà, bàn tay cúp lại, nâng niu một món thủy tinh. 
  
          “Chị làm gì thế? Chuyện trò với nó à?" tôi hỏi. 
  
          "Không," chị nghiêm nghị trả lời, "Chị chỉ ngắm nó mà thôi." 
  
          Trên bàn viết có hai quyển tiểu thuyết, quà tặng nhân dịp Giáng Sinh hay sinh nhật của chị trước đây. Một quyển có tựa đề là Rose-Garden Husband mà tôi không tài nào nhớ tên tác giả. Quyển thứ nhì, Freckles, viết bởi Gene Stratton Porter. Tôi không bao giờ thấy chị đọc Rose-Garden Husband, nhưng quyển sách kia là vật mà chị thực sự đưa vào cuộc sống của chị. Có lẽ Laura chưa bao giờ nghĩ rằng tiểu thuyết là thứ mà khi đọc xong ta sẽ vứt đi. Freckles, nhân vật trẻ tuổi mồ côi, cụt một tay, làm việc ở xưởng cưa, là người mà đôi khi chị thân ái mời vào phòng, cũng như mời tôi. Khi bước vào, nếu tôi thấy quyển tiểu thuyết ấy đang mở ra trên lòng chị, chị sẽ trịnh trọng giải thích rằng Freckles đang gặp rắc rối với người quản đốc ở xưởng cưa, hay Freckles mới bị thương ở cột sống vì cây ngã trúng. Chị chau mày với một nỗi buồn chân thật khi nói đến những tai họa ấy, có lẽ chị không nhớ rằng anh đã vượt qua tất cả khó khăn, rằng thương tích lại đưa đến kết quả tốt đẹp là tìm gặp được cha mẹ giàu, và người quản đốc xấu tính, ở đoạn kết của truyện, rốt cuộc lại có trái tim nhân hậu. Rồi Freckles bắt đầu gắn bó với một thiếu nữ mà chàng đặt tên là Thiên Thần, nhưng khi vai trò của cô gái trở nên nổi bật, chị tôi thường ngừng không đọc nữa. Chị sẽ gấp sách lại, hoặc lật trở về những trang mô tả thời gian côi cút trước đây của anh ta. Tôi nhớ chỉ một lần duy nhất chị tôi có nhắc đến nữ nhân vật chính. “Thiên Thần cũng dễ thương," chị  nói, "nhưng dường như cô ta có nét mặt kiêu kỳ” 
  
  
          Rồi một lần vào dịp lễ Giáng sinh, khi tỉa những cành của cây thông trang trí, chị cầm ngôi sao Bethlehem – sẽ được đặt ở đỉnh cây, trịnh trọng soi nó trước ngọn đèn chùm. 

          "Có thật là những ngôi sao có năm cánh không ?" chị thắc mắc.   
  
          Đây là chuyện ta không thể tin được, làm ta trân trối nhìn Laura và thấy lòng đau đớn, hoang mang. 
  
          "Không đâu," tôi trả lời, sau khi nhận thấy chị thực lòng nghĩ vậy, "những ngôi sao tròn như trái đất và phần lớn còn to hơn." 
  
          Chị tôi có chút ngỡ ngàng vì những thông tin mới này. Chị lại gần cửa sổ, nhìn lên bầu trời, như thường lệ vào mùa đông Saint Louis, hoàn toàn bị khói mù giăng khuất. 
  
          “Cũng khó mà nhận ra nhỉ.” chị nói và quay trở lại cây thông giáng sinh. 
  
  
  
          Và như thế thời gian trôi qua cho đến khi chị được hai mươi ba tuổi. Đã dư tuổi lấy chồng, nhưng vấn đề là chị chưa bao giờ có một lần hò hẹn với ai. Tôi không nghĩ chị thấy chuyện này ghê gớm như là Mẹ cảm thấy. 
  
          Một buổi sáng trong khi ăn điểm tâm, Mẹ nói với tôi, "Sao con không kiếm cách làm thân với vài người bạn? Ở nhà kho đàng ấy thế nào ? Chẳng lẽ ở đó không có ai để con có thể mời về nhà ăn tối hay sao?" 
  
          Lời đề nghị của mẹ làm tôi kinh ngạc, bởi chẳng mấy khi trên bàn có đầy đủ thức ăn cho ba người chúng tôi. Mẹ là một bà nội trợ tần tiện hết sức nói. Chúa dư biết chúng tôi nghèo rớt mồng tơi, thế nhưng mẹ vẫn bị ám ảnh, sợ sẽ rơi vào cảnh túng quẩn tồi tệ hơn. Đó không phải là một nỗi lo sợ vu vơ, vì người đàn ông trong nhà là một thi sĩ làm việc ở kho hàng, tuy thế đó cũng là người, tôi nghĩ rằng, đóng một vai trò hết sức quan trọng trong những toan tính của bà. 
  
          Gần như tức thì, Mẹ giải thích. 

          “Mẹ nghĩ như thế sẽ tốt,” mẹ nói, “cho chị con.” 
  
  
  
  
          Mấy đêm sau, tôi đem Jim về nhà. Jim là một chàng trai Ái Nhỉ Lan tóc đỏ có nét bảnh bao tươm tất của chén đĩa sứ được gìn giữ sạch sẻ. Bàn tay vuông to chằn chặn của Jim dường như có một nỗi thèm khát trong trắng và thẳng thắn là được đụng chạm vào bạn bè. Anh luôn luôn vỗ lên cánh tay hay vai của ta và xuyên qua lớp vải, chúng nóng rực như khay thức ăn vừa mới lấy khỏi lò. Ở nhà kho, anh là người được ưa thích nhất, và kỳ lạ thay, cũng là người duy nhất mà tôi hòa hợp. Anh cho rằng tôi kỳ cục lắm, tôi tin thế. Anh ấy biết thói quen bí mật của tôi, mỗi khi nhà kho rỗi việc, tôi thường trốn trong một cái tủ ở phòng tắm và chật vật gieo vần, hay đôi khi len lén trèo lên nóc nhà rít vài hơi thuốc trước phong cảnh đồng quê Illinois bát ngát nhấp nhô như sóng bên kia sông. Không còn ngờ chi nữa, dưới mắt Jim cũng như những người khác, tôi được xếp vào loại người dở hơi, nhưng trong khi họ có thái độ nghi ngờ và thù nghịch khi mới gặp tôi, Jim đã bày tỏ một tấm lòng bao dung rộng rải từ lúc đầu. Anh đặt cho tôi cái tên lóng là Slim, và dần dà sự chấp nhận nhiệt thành của anh đã lôi kéo những người chung quanh, và trong khi anh vẫn là người duy nhất thù tạc với tôi, những người khác nay bắt đầu mỉm cười khi  thấy tôi, theo kiểu người ta mỉm cười với một con chó ăn bận kỳ cục băng qua đường đàng xa kia. 
  
          Dù sao chăng nữa tôi cũng phải vận dụng một ít can đảm để mời Jim ăn tối. Tôi suy tính suốt tuần và trì hoãn mãi cho đến trưa thứ Sáu, giờ phút cuối cùng, vì chiều hôm đó là ngày dự định đãi khách. 
  
          “Tối nay anh có bận gì không?” cuối cùng rồi tôi cũng hỏi. 
  
          “Chẳng bận gì cả,” Jim nói. “Tôi có hẹn với một người bạn nhưng Cô của cô ấy lâm bệnh, cô ấy phải chở dùm hành lý đến Centralia!” 
  
          “Thế à,” tôi nói, “vậy anh đến nhà tôi dùng bửa tối nhé?” 
  
          “Hẳn vậy rồi!” Jim nói. Anh nở một nụ cười tươi tắn không ngờ. 
  
          Tôi bước ra ngoài, gọi điện thoại báo tin cho Mẹ. 
  
          Giọng của mẹ, không bao giờ mệt mỏi, đáp ứng một cách nồng nhiệt làm đường dây kêu răng rắc. 
  
          “Mẹ tin là cậu ấy có đạo Thiên Chúa, phải thế không?” mẹ tôi nói. 
  
          “Vâng ạ,” tôi đáp, nhớ lại mặt thánh giá bằng bạc nhỏ xíu trên bộ ngực lấm tấm tàn nhang của anh. 
  
          “Tốt lắm!” mẹ tôi nói. “Để mẹ nướng một ổ bánh mì cá hồi!” 
  
          Và như thế , chúng tôi cùng đi trên chiếc xe hơi cọc cạch của anh về nhà tôi. 
  
          Tôi có một cảm giác tội lỗi và sợ hãi khi dẫn anh chàng Ái Nhĩ Lan ngoan ngoãn như cừu non, trèo ba tầng cầu thang đá cẩm thạch nứt rạn đến trước cửa của căn hộ F, cánh cửa không đủ dầy để giữ mùi cá hồi nướng ở bên trong. 
  
          Không bao giờ mang theo chìa khóa, tôi bấm chuông. 
  
          “Laura!” giọng của Mẹ vang lên. “Tom và cậu Delaney đấy! Mở cửa cho họ vào đi con!” 
  
          Một khoảng khắc im lặng kéo dài, thật dài. 
  
          “Laura?” bà gọi một lần nữa. “Mẹ đang bận tay trong bếp, con ra mở cửa đi!” 
  
          Rồi cuối cùng tôi nghe tiếng chân của chị tôi. Bước chân đi ngang qua cửa, nơi chúng tôi đứng, rồi hướng về phòng khách. Tôi nghe tiếng cần máy hát quay rè rè. Nhạc trỗi lên. Một trong những đĩa nhạc cũ nhất, một bản quân hành của Sousa, được đặt vào máy cho chị ấy có can đảm mời một người lạ vào nhà. 
  
          Cánh cửa hé ra rụt rè và chị đứng đó, trong chiếc áo đầm the đen của Mẹ dài chấm cổ chân, lênh khênh trên đôi giày cao gót như một con hạc với bộ lông vũ buồn. Chị nhìn chúng tôi bằng cặp mắt thủy tinh và bờ vai thanh mảnh của chị giống đôi cánh chim rúm lại vì lo lắng bồn chồn. 
  
          “Chào cô!” Jim nói, trước khi tôi kịp giới thiệu. 
  
          Anh chìa tay ra. Chị tôi chỉ chạm vào bàn tay ấy trong vài giây. 
  
          “Xin lỗi !” chị nói rất khẻ, và quay lưng lại, nín thở sột soạt váy áo đi về cửa phòng riêng của mình, ở đó trong một khoảng khắc, nơi trú ẩn riêng tư với âm thanh leng keng và ánh sáng mờ nhạt của thủy tinh  hé lộ ra để rồi mất đi, khi cánh cửa nhẹ nhàng khép lại đàng sau vóc dáng liêu trai. 

          Jim dường như không biết ngạc nhiên. 

          "Chị của cậu?" anh hỏi. 

          "Vâng, chị của tôi," tôi thú nhận. "Chị ấy rất e lệ trước người lạ." 

          "Cô ấy giống cậu," Jim nói, "chỉ khác ở chỗ là xinh xắn." 

          Laura không thò mặt khỏi phòng cho đến khi được gọi ra ăn. Chị được xếp ngồi cạnh Jim và trong suốt bửa ăn, luôn nghiêng người sang một bên tránh né anh. Mặt chị đỏ bừng như lên cơn sốt và mi mắt, bên phía Jim, chớp giật lo âu. Có đến ba lần chị làm rơi nĩa xuống dĩa gây tiếng lẻng kẻng ồn ào và chị thường xuyên đưa cốc nước lên môi hớp vội từng ngụm. Chị trở nên vụng về bộp chộp trong cách xử dụng muỗng nĩa. 

          Tôi chẳng nghĩ ra được điều gì để nói. 

          Thù tiếp xã giao là vinh dự của mẹ, như từ lâu. Mẹ hỏi về nhà cửa, về gia đình của anh. Mẹ hớn hở khi biết cha anh có cơ sở làm ăn, một tiệm giày đâu đó ở Wyoming. Chuyện anh đang học lớp kế toán ban đêm càng làm cho mẹ thêm rạng rỡ. Ngoài nhà kho ra, anh còn ưa thích gì nữa chăng? Ngành vô tuyến điện? trời ơi trời! Có thể dễ dàng thấy đây là một thanh niên đầy triển vọng, chắc chắn sẽ có chỗ đứng xứng đáng trong đời! 

          Rồi bà bắt qua chuyện con cái của mình. Laura, bà nói, không phù hợp với ngành thương mại. Tuy thế, cô ấy là người ưa cuộc sống gia đình, và tề gia nội trợ hẳn phải là công việc thích hợp nhất cho một thiếu nữ. 

          Jim đồng ý với tất cả những điều ấy và có vẻ như không nhận ra chút thâm ý gì của mẹ. Tôi ngồi ỳ tại đó chịu đựng, cố không nhìn tới Laura –  càng lúc càng run rẩy dưới sự vô tình không tả của Mẹ. 

          Và tôi e ngại tình thế sẽ tồi tệ, nói đúng ra là khủng khiếp, khi bửa ăn chấm dứt và thực phẩm không còn chia trí nữa, khi chúng tôi sẽ phải dời ra căn phòng khách nhỏ, sưởi bằng hơi nước. Tôi tưởng tượng bốn người chúng tôi không còn chuyện để nói, ngay cả nguồn câu hỏi như vô tận của Mẹ về nhà cửa công việc của Jim cuối cùng rồi cũng cạn – bốn người chúng tôi, khi đó chắc chỉ còn biết ngồi bất động lắng nghe tiếng rít xì xèo của máy sưởi và bồn chồn hắng giọng trong nỗi tự ý thức, tự ngại ngùng đến nghẹt thở. 

          Nhưng khi dùng xong món blancmange, một phép mầu xảy ra. 

          Mẹ đứng dậy dọn dẹp chén dĩa trên bàn. Jim vỗ vai tôi và nói, "Ê, Slim, tuị mình ra đó xem mấy cái đĩa hát nhé." 

          Anh ung dung đi ra phòng đàng trước, gieo mình xuống sàn, bên cạnh máy hát. Anh bắt đầu lục lạo bộ sưu tập cũ mèm và dõng dạc đọc các tựa đề, nhiệt thành đến nỗi giọng của anh như những chùm nắng chiếu xuyên qua lớp hơi mù ngượng nghịu bao trùm quanh chị tôi và tôi. 

          Anh ngồi ngay dưới chụp đèn và lập tức chị tôi đứng phắt dậy nói với anh, "ô, –anh có tàn nhang!" 

          Jim nhoẽn cười. "Hẳn thế, ở nhà gọi tôi là Freckles cơ mà!" 

          "Freckles?" Laura lập lại. Chị nhìn tôi như cần xác nhận chút hy vọng tuyệt vời. Tôi vội quay mặt đi, không biết nên thấy nhẹ nhõm hay nên cảnh giác trước bước ngoặc đang xảy ra.  

          Jim quay cần máy hát và đặt đĩa "Dardanella" vào. 

          Anh cười toe toét với Laura. 

          "Chúng ta khiêu vũ một chút nhé?" 

          "Cái gì ?" Laura nín thở hỏi. Chị mỉm cười, rồi lại mỉm cười. 

          "Khiêu vũ!" anh đáp, kéo chị vào vòng tay mình. 

          Theo tôi biết, chị chưa bao giờ khiêu vũ trong đời. Nhưng trước nỗi ngạc nhiên không ngừng của tôi, chị nhẹ nhàng rơi trong đôi tay vạm vỡ của Jim và họ quay tròn và quay tròn giữa căn phòng chật hẹp sưởi bằng hơi nước, thỉnh thoảng va đụng vào sô- pha và ghế và cười vang và hạnh phúc cùng nhau. Có một điều gì đó bừng nở trên gương mặt chị. Nếu cho rằng đó là tình yêu thì cũng không phải là một nhận xét quá vội vàng, bởi nói cho cùng, anh ấy có những đốm tàn nhang và gia đình anh ấy đã gọi tên theo đó. Vâng, không còn ngờ nữa — vì những mục tiêu thực tế – anh ấy đã được đồng hóa với căn cước của chàng thiếu niên mồ côi cụt một tay sống ở Limberlost, vùng đất mù sương cao vợi mà chị tôi vẫn trú ẩn trong ấy, mỗi khi các bức vách của chung cư Hộ F quá chật chội không chịu đựng nỗi.   

          Mẹ trở lại với nước chanh. Mẹ ngừng ngay ở màn cửa. 

          "Trời thần ơi! Laura? khiêu vũ đấy à ?" 

          Vẻ mặt của mẹ vừa hài lòng vô lý vừa thảng thốt.   

          "Thế nhưng, cô ấy dẫm lên chân cậu nhiều lắm phải không, cậu Delaney?" 

          "Nếu có thì đã sao?" Jim đáp, hết sức nịnh đầm. "Cháu chẳng phải là trứng mỏng đâu!"   

          "Được lắm, được lắm!" Mẹ nói, vẻ mặt rạng ngời ngớ ngẩn. 

          "Cô ấy nhẹ như một chiếc lông hồng!" Jim nói. "Chỉ thực tập thêm chút nữa, cô ấy sẽ khiêu vũ đẹp như Betty!" 

          Có một thoáng im lặng. 

           "Betty?" mẹ hỏi. 

          "Bạn gái của cháu!" Jim nói. 

          "Ô!" Mẹ nói. 

          Bà cẩn thận đặt bình nước chanh xuống bàn và quay lưng lại khách, mắt nhìn tôi, bà hỏi anh, vậy anh và cô gái may mắn ấy đi chơi với nhau có thường lắm không. 

          "Thường xuyên!" Jim nói. 

          Cái nhìn của Mẹ, vẫn gắn trên mặt tôi, lóe lên ánh tức giận. 

          "Tom không nhắc tới chuyện cháu đã có bạn gái!" 

          "Không," Jim nói. "Cháu không định tiết lộ bí mật. Mấy đứa bạn ở nhà kho sẽ ghẹo cháu cho tới chết nếu mà Slim tiết lộ." 

          Anh cười hăng hắc nhưng giọng cười đó nhạt dần và vụng về khi mà, ngay cả cái đầu óc khù khờ của anh cũng bắt đầu thấm đượm cảm giác bất an xuất phát từ thông tin về Betty. 

          "Cháu có nghĩ tới chuyện cưới xin chưa?" Mẹ hỏi. 

          "Mùng một tháng tới!" anh ấy nói với bà. 

          Mãi một lúc lâu mẹ mới định thần lại. Rồi mẹ nói, giọng u sầu, "Tốt quá nhỉ! Nếu Tom cho biết, chúng tôi đã mời cả hai người rồi." 

          Jim đã cầm áo khoác lên. 

          "Cậu phài đi ngay bây giờ à?" Mẹ hỏi. 

          "Cháu không muốn tỏ ra vội vã," Jim nói, "nhưng Betty sẽ trở lại trên chuyến tàu tàm giờ tối và khi cái xe cà tàng của cháu chạy đến ga Wabash thì –" 

          "Ô, nếu thế thì chúng tôi không nên giữ cháu lại." 

          Sau khi anh đi khỏi, chúng tôi ngồi cả xuống, ngẩn ngơ. 

          Laura là người đầu tiên nói.' 

          "Anh ấy dễ mến quá nhỉ?" chị nói. "và những nốt tàn nhang nữa!" 

          "Vâng," Mẹ nói. Rồi bà quay sang tôi. 

          "Con không nói cho biết là cậu ấy đã hứa hôn!" 

          "Ơ, làm sao con biết được là anh ấy đã hứa hôn?" 

          "Mẹ tưởng con nói anh ấy là bạn thân nhất của con ở nhà kho?" 

          "Đúng thế, nhưng con không biết anh ấy đã hứa hôn." 

          "Kỳ cục quá!"  mẹ nói. "Sao mà kỳ cục thế!" 

          "Không," Laura nhẹ nhàng nói, đứng dậy từ ghế sô-pha. "Không có gì kỳ lạ về chuyện ấy cả." 

          Chị cầm một chiếc đĩa hát lên, thổi trên mặt đĩa như thể có bụi bám ở đó rồi dịu dàng đặt lại chỗ cũ. 

          "Những người đang yêu," chị nói, "coi mọi thứ là chuyện đương nhiên." 

          Chị có ngụ ý gì qua câu nói ấy? Tôi không bao giờ hiểu. 

          Chị lặng lẽ đi về phòng riêng và khép cửa lại. 





          Không lâu sau đó, tôi mất việc làm ở nhà kho. Tôi bị đuổi vì đã viết thơ trên nắp một hộp giày. Tôi rời Saint Louis và di chuyển khắp nơi. Những thành phố cuốn lốc quanh tôi như lá chết, những phiến lá màu sắc thắm tươi nhưng bị tuốt lìa cành. Tính tình của tôi biến đổi. Tôi trở nên cứng rắn và tự chủ. 

          Trong năm năm gần như tôi đã quên hẳn gia đình của mình. Tôi phải quên. Tôi không thể đem nó theo. Nhưng thỉnh thoảng có lúc, thường là ở một thành phố lạ trước khi tìm được bạn đồng hành, cái vỏ cứng mà tôi đã cố tình tạo ra lại vỡ vụn. Một cánh cửa êm đềm hiện lên, chào gọi quyến rũ. Tôi nghe thứ âm nhạc cũ mòn cha tôi để lại ở nơi chốn ông đã bỏ đi, một cách bất nghĩa vô nghì, cũng như tôi đã. Tôi thấy thứ ánh sáng êm dịu buồn bã của thủy tinh, hàng trăm món thủy tinh nho nhỏ trong veo đủ sắc màu. Tôi cố nín thở, bởi nếu gương mặt chị hiện ra giữa chúng – đêm sẽ thuộc về chị! 



                    Hết 
                    Tháng Sáu 1943 ( Xuất bản 1948) 


LH: 
Đây là truyện ngắn mang nặng tính tự thuật của văn sĩ Tennessee Williams (1911-1983). Cha bỏ đi từ khi ông còn rất trẻ. Chị mắc bịnh thần kinh được chữa trị bằng cách giải phẩu lấy đi một phần của nảo bộ (và do đó lại càng tật nguyền hơn nữa). Cũng như cha, không chịu nổi sự túng quẩn, gò bó và gánh nặng của gia đình, ông cũng đã bỏ mẹ và chị, đi giang hồ sống cho bản thân mình. Một trong những kịch bản nổi tiếng của ông, The Glass Menagerie (Bầy Thú Thủy Tinh) đã được triển khai từ truyện ngắn này, mô tả nỗi cô đơn, sự bất lực không phân biệt được ảo vọng và thực tế . 

Thảo luận cho bài: "Chân Dung Thiếu Nữ, Thủy Tinh – Portrait of a Girl in Glass"