Chén rượu hồng đào

Tác giả:

Thầy đồ Từ Tiên và họa sĩ dân gian Thuận Thành là hai người ở cùng phố. Cái phố phủ Từ ngắn ngủn, đi bộ từ đầu đến cuối phố chỉ mất mươi phút, vài chục nóc nhà tranh xen lẫn ngói. Các cửa hiệu đều treo biển đơn sơ. Mấy chữ đại tự “Từ tiên thư quán” có chua thêm chữ quốc ngữ ở bên cạnh. Cửa hàng tranh của ông thợ vẽ không đề chữ nào mà chỉ dán hai bức tranh gà lợn ngoài cánh gỗ. Ông đồ dáng vẻ nho nhã ngồi giữa sập bên cạnh là một cái án thư có nhiều tập sách chữ nho và nghiên mực. Ông vừa dạy học vừa viết câu đối bán vào những dịp Tết. Ông thợ vẽ quê đâu cũng chẳng ai biết, ông không vợ không con, sống một mình với đứa con nuôi. Khoảng đầu tháng chạp, trong gian hàng của ông giấy dó, mầu điệp than xoan chất đầy. Những bức tranh chưa ráo mực, treo la liệt trên tường. Ngoài tranh dân gian truyền thống còn có những bức tranh hoa rất đẹp. Những bông cúc, bông hồng rung rinh sống động như hoa thật. Ngày thường người ta mua hoa về chúc thọ, mừng đám cưới. Ngày Tết ông vẽ hoa đào, hoa mai. Những cánh bích đào mầu hồng sẫm, cánh mai trắng như tuyết hiện ra mơn mởn non tơ. Bên cạnh bức tranh, ghi những chữ Hán rất đẹp nhưng không bao giờ ông viết chữ đại tự. Hai người bạn thường qua lại đọc cho nhau nghe một bài thơ, một đôi câu đối và nhấp chén trà sen.

Năm nào cũng vậy cứ sáng mùng hai tết thầy đồ Từ Tiên lại sang chúc Tết thợ vẽ Thuận Thành, cả buổi sáng hôm ấy họ dành cho nhau. Hai người nhắm rượu thưởng xuân trò chuyện với nhau rất tâm đắc. Ông đồ đông con nên gia cảnh khó khăn hơn. Tết nào ông thợ vẽ cũng dành một khoản tiền kha khá gọi là mừng tuổi bạn vào sáng mồng hai, mong giúp ông đồ trang trải một phần cái Tết. Những năm trước, câu đối bán được nhiều. Tết đến ông đồ cũng đỡ gieo neo, nhưng càng về sau chữ nho thầy đồ càng ế ẩm. Học trò trước còn vài chục đứa dần dần thưa thớt còn dăm bảy đứa. Lộc thầy không còn được bao nhiêu. Trong khi đó tranh của ông thợ vẽ vẫn bán được. Tết đến nhà nào mà chả cần tranh cần pháo. Người ta cưới hỏi chúc thọ quanh năm nên vẫn cần đến tranh hoa. Sáng mồng hai Tết, vẫn như thường năm, ông thợ vẽ lại chuẩn bị tiệc rượu đón bạn. Vẫn bánh chưng xanh thịt mỡ, dưa hành thêm khẩu giò, nem quả buộc lạt cánh sen và rượu hồng đào. Những chuyện cổ kim đông tây ông đồ đọc từ ngày xửa ngày xưa hoặc trong năm được đem ra ngâm ngợi. Ông đồ là người uyên thâm chăm đọc sách giỏi chữ nghĩa. Khách vừa bước vào chủ đã nhận ra vẻ mặt không vui của bạn. Từ tốn ông thợ vẽ hỏi:

– Anh có chuyện gì buồn phải không? Nói tôi nghe đi.

Cạn chén trà, ông đồ mới kể.

– Tay đồ tể ở cuối phố đặt tôi nghĩ cho câu đối treo Tết, nó yêu cầu phải có chữ thịt, gan, xương, ruột. Tôi đã dùng chữ cốt nhục, can tràng nhưng nó không nghe lại còn chê chữ mình xấu như hoa phù. Nó muốn nói toạc cái nghề của nó ra kia. Nhưng mình nghĩ câu đối chứ đâu có phải viết quảng cáo thuê cho nó. Bọn ngu đua nhau học làm sang. Định trả lại tiền cho nó, nhưng nhà tôi đã trót sắm Tết hết rồi. Biết thế nào cũng được anh mừng tuổi, nên tôi hẹn nó chiều nay. Nghe xong câu chuyện của bạn, ông thợ vẽ bực mình bảo:

– Chiều nay nó tới anh cho gọi tôi nhé.

Đúng hẹn gã đồ tể mò đến với bộ mặt đỏ gay, hắn nói như quát:

– Ông đồ gàn, ông đã đủ tiền trả tôi chưa?

Ông thợ vẽ đứng phắt dậy và ra hiệu cho anh con nuôi.

– Thưa ông hàng thịt chúng tôi đang đợi ông đây.

Nói rồi ông giơ hai câu đối lên, một viết bằng chữ quốc ngữ, một viết bằng chữ Hán rất đẹp, khiến ông đồ cũng phải ngạc nhiên. Ông chỉ vào chữ thịt xương gan ruột trong câu đối viết bằng chữ quốc ngữ, hỏi:

– Trông đây có thịt, xương, gan, ruột chưa?

Gã hàng thịt trông nét mặt giận giữ của ông và anh con trai lực lưỡng đang đứng bên cạnh, đã thấy chột dạ. Gã chưa kịp mở miệng thì ông thợ vẽ lại chỉ vào đôi câu đối chữ hán viết bằng mực nho trên giấy hồng điều, đẹp như bức tranh nhị bình, hỏi:

– Anh bảo chữ này xấu hay đẹp?

– Dạ, đẹp lắm ạ.

– Thế đôi câu đối kia đâu? Mang đây tôi đổi cho.

Ông thợ vẽ dằn từng tiếng:

– Nói đi, anh để đôi câu đối của bạn ta đâu?

Gã hàng thịt run như cầy sấy.

– Dạ, cháu treo ở nhà.

– Sao còn đòi tiền người ta. Nhất tự nhất lệ đấy, anh tưởng… đồng bạc của anh to lắm à. Hãy xéo đi cho khuất mắt, không thằng con trai tôi nó mở hàng cho anh một chiêu bây giờ.

Gã hàng thịt lủi thủi biến mất.

Hàng chục cái tết qua đi nhuộm trắng đầu đôi bạn. Ông thợ vẽ sống cô đơn không gia đình nên gầy yếu lại mắc bệnh lao phổi, một trong tứ chứng nan y. Mải mê với những bức vẽ đến quá sức bệnh tình ông ngày một nặng. Dường như ông muốn để lại một cái gì nên cố vắt hết tàn lực ra để vẽ để viết, ông sợ mình sẽ mang đi những cái quý báu còn ẩn chứa trong đầu. Ông đồ qua lại chăm sóc thuốc ********* bạn thường xuyên. Dần dần bệnh tình có thuyên giảm chút ít. Hăm ba tháng chạp năm đó, ông thợ vẽ cho mời bạn đến uống chén rượu mừng. Ông đồ nắm lấy bàn tay của bạn lắng nghe những lời tâm sự.

– Ông bạn già của tôi đã đến đây rồi, mừng quá.

Hai tay run run ông thợ vẽ nâng chén rượu.

– Anh Từ Tiên ơi! Năm nay Tết đến sớm, đã qua ngày lập xuân rồi. Tôi mừng tuổi anh trước nhưng không phải bằng tiền đâu. Anh thử đoán xem tôi định mở hàng cho anh thứ gì nào.

– Tôi chịu.

Ông Từ Tiên lắc đầu.

– Tôi có cái này mở hàng cho anh đây. Anh hãy nhận lấy bản khắc in tranh và cả những bức đại tự tôi viết. Ông nói và chỉ vào đống đồ nghề, giấy tờ ngổn ngang trên bàn. Ông đồ ứa nước mắt nhìn bạn rồi lại nhìn những chữ đại tự như rồng bay phượng múa. Bấy giờ ông mới nhận ra rằng chữ của bạn ông còn đẹp hơn chữ của ông nhiều. Lâu nay sao anh ấy lại không viết câu đối bán tết. Vì mình chăng? Ông đồ băn khoăn.

– Thuận Thành, anh nói thật đi, anh là ai vậy?

– Tôi ư? Chả giấu anh làm gì nữa, tôi là con cụ Nghè Bắc, thầy học của anh ngày xưa. Tôi đã đỗ đầu xứ nhưng đi lang bạt làm nghề dạy trẻ và viết thuê kiếm sống. Khi đến phố này biết anh cũng làm cái nghề ấy mà lại đông các cháu nên tôi chuyển sang nghề khác.

Ông đồ Từ Tiên lặng đi hồi lâu, hai tay ôm lấy thân thể gày còm của bạn, nước mắt chảy ròng ròng. Họa sĩ Thuận Thành dùng hết nhãn lực nhìn bạn cái nhìn kỳ lạ. Từ đôi mắt hai giọt nước long lanh lăn xuống gò má hốc hác.

Mới sáng mồng một Tết, không hiểu vì sao ông Từ Tiên cứ nóng ruột không yên. Ông lo sợ có điều gì đang đến. Linh tính mách bảo. Đúng rồi, cái nhìn nói lời vĩnh biệt, không đợi đến sáng mồng hai, ông lật đật chuẩn bị khăn áo và nói với vợ:

– Mình ơi, tôi sang chúc Tết bác Thuận Thành, trưa mới về.

Vợ ông ngạc nhiên nhìn chồng không biết nói sao. Ông đến nhà bạn thì đã cửa đóng then cài. Đôi mắt lặng im nhìn những cánh mai gày yếu rơi lả tả trước thềm. Tết những năm sau đó ông đồ không được mở hàng mừng tuổi, nhưng ông có còn khó khăn như trước nữa đâu. Những chữ của bạn để lại đã giúp ông viết đẹp hơn hay hơn, nên câu đối Tết của ông viết ra bán rất chạy. Ngoài ra ông còn có nghề vẽ tranh in tranh nên cũng sống được. Sáng mồng hai tết hằng năm ông vẫn ra khỏi nhà cho đến đúng ngọ mới về.

Thảo luận cho bài: "Chén rượu hồng đào"