Chiếc Yếm Cổ Truyền

Tác giả:

Người con gái được coi là đẹp phải có cái lưng ong và phải biết tôn vinh cái lưng ong ấy bằng trang phục yếm – váy cổ truyền.

Người Việt cổ sống gắn với nền văn minh lúa nước, luôn mong muốn con đàn cháu đống để tăng sức lao động, và điều đó đã chi phối quan niệm về vẻ đẹp của họ. Người con gái được coi là đẹp phải có cái lưng ong và phải biết tôn vinh cái lưng ong ấy bằng trang phục yếm – váy cổ truyền. Văn hóa mặc yếm cũng có từ đó. Yếm đã đi vào ca dao, dân ca và để lại bao nuối tiếc, ngợi ca trong lòng nhà thơ ở các thời. Ngày nay, văn hóa mặc yếm vẫn còn tồn tại qua sự biến tấu những mẫu mã áo của người Việt Nam hiện đại.

vtc_3101_hh3ao_yem

Quả là người phụ nữ Việt cổ, đặc biệt là các cô thôn nữ của làng quê cổ truyền vùng châu thổ Bắc Bộ, không những khéo léo tinh tế trong nết ăn, nết ở, mà còn rất khéo léo tinh tế trong cách phục sức cho phần thân thể phía trên của mình là lưng và ngực.Các nhà nghiên cứu văn hóa mặc của phụ nữ Việt cổ truyền cho biết: đồ mặc phía trên của người phụ nữ qua các thời kỳ lịch sử chính là cái yếm, chủ yếu dùng để che ngực.

Theo quan niệm cổ truyền, cái được coi là đẹp chứa đầy nữ tính nhất, thuộc về thân người phía trên của phụ nữ Việt cổ, không phải là khuôn mặt tròn trịa trăng rằm, hay trái xoan, đôi mắt lá răm hay mắt dao cau, cái miệng có đôi môi ăn trầu đỏ thắm, hay cái cổ ba ngấn kiêu sa, hoặc đôi vai xuôi tròn, mà cái đẹp nhất chính là cái lưng được thắt đáy nhỏ nhắn: kiểu lưng ong. Và một người phụ nữ phàm đã có một cái lưng ong đẹp, ắt hẳn cái dáng người sẽ phải đẹp một cách ăn ý. Cùng với cái đẹp của lưng ong, thường là vẻ đẹp trong cả toàn thể con người, lẫn dáng điệu và phẩm hạnh: Đàn bà thắt đáy lưng ong/ Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con, như ca dao dân gian từng khẳng định.

Việc coi cái đẹp nhất là lưng ong này cũng dựa trên một cơ sở văn hóa hẳn hoi của một dân tộc mà trong vài ngàn năm lịch sử đã chỉ sống, tồn tại và phát triển bằng nghề làm ruộng với văn hóa nông nghiệp và văn minh lúa nước cổ truyền.

Dân tộc Việt, do hành nghề làm ruộng, là dân ruộng thứ thiệt, nên chỉ quan tâm nhất đến sự sinh sản thịnh vượng của mùa màng, lúa gạo, hoa trái và nhân lực làm ruộng, nên đã tự nhiên mà theo tín ngưỡng phồn thực. Chẳng phải ngẫu nhiên, bản chất của tín ngưỡng này là sự trọng thị sinh nở và sinh sôi càng nhiều càng hay. Chẳng gì hơn đối với dân ruộng là thóc lúa đầy bồ, rau cỏ hoa trái trĩu trịt xanh tươi, “con đàn cháu đống”, bốn mùa “mưa thuận gió hòa”, cho trời yên biển lặng, “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Từ đó, lẽ dĩ nhiên, người Việt cổ trọng thị một thứ kiểu dáng của thân hình người phụ nữ với mâm cao cỗ đầy, lưng ong thắt đáy, với nghiệm sinh rằng: những người có kiểu dáng như thế, sẽ làm vợ đảm, mẹ hiền, chồng con được nhờ phúc ấm.

Cũng từ đó mà suy nghiệm, thì thấy dân gian Việt Nam nói “chắc như đinh đóng cột”, vừa tinh tế, sành sỏi lại vừa thâm thúy, thanh nhã trong cách đánh giá người đẹp. Thử ngược về nguồn, mới thấy rằng người Việt cổ truyền không hề bao giờ có tổ chức thi hoa hậu như hiện đại, trong đó những người đẹp Việt Nam cứ phải răm rắp trình diễn các màn trang phục áo tắm, áo đi hội, áo truyền thống và phần thi ứng xử văn hóa, vốn thường là phần thi đầy khó khăn, thách đố với những người đẹp vốn hay coi trọng cái đẹp của người hơn là cái đẹp của nết… Và người xem vẫn cứ cảm thấy Trong ký ức vẫn trống vắng một nhan sắc (thơ của Nguyễn Quốc Chánh trong tập “Thơ tự do – 10 tác giả” – Nhà xuất bản Trẻ TP Hồ Chí Minh 1999).

Thảo luận cho bài: "Chiếc Yếm Cổ Truyền"