Chuyện Dông Dài Của Một Người Cha Hay Lo

Tác giả:

Nước Mỹ là một xứ kỳ cục, chuyên làm những chuyện tửng tửng, không giống ai. Ngày tôi mới đến đất này, chưa kịp nghỉ ngơi cho lại sức sau nhiều năm bầm dập ở trại tỵ nạn; chưa quen với giấc ngủ theo giờ giấc mới đã vội hăm hở xách đầu thằng con trai 10 tuổi đến trường xin nhập học. Bà thư ký người Mễ to như bao gạo biết tôi là người tỵ nạn chính trị bèn cười rất tươi, nói: Chào mừng ông đến nước Mỹ và đưa cho tôi tờ đơn ghi danh. Tôi cầm tờ đơn, nhìn thoáng qua cái tên trường mà vã mồ hôi, muốn đứng dậy dẫn thằng nhỏ đi về. Đúng là xứ hợp chủng non trẻ mới lập quốc được có mấy trăm năm có khác, nhờ “thiên nhiên ưu đãi” và nhờ “may mắn” mà giàu chứ văn chương, từ ngữ thì tệ quá; ai đời chữ nghĩa văn hoa bóng bẩy không chọn; hình tượng lạc quan phấn khởi không chọn lại nhè Sunset mà đặt tên trường. Phải chi ở xứ bốn ngàn năm văn hiến của mình, muốn động viên thúc đẩy, muốn gởi gắm kỳ vọng vào đám trẻ mới chập chững bước chân vào trường tiểu học, ít ra cũng chọn Bình Minh, Rạng Đông hay tệ nhất cũng Hừng Đông, ngời ngời ánh sáng và sức sống cho con nít nó vui, hà cớ gì lại đẻ ra cái trường tiểu học Hoàng Hôn buồn thiu như vậy, đúng là đồ điên mà!

Tôi ngồi suy nghĩ mà rầu thúi ruột, đã đành khi liều mạng xuống chiếc ghe mục, với cái máy Yamaha mười mã lực cũ rích, dỡn mặt với thần chết biển Đông và hải tặc Thái là cốt kiếm chỗ tạm dung, tìm chút tự do để thở, để nói, để sống tạm và chờ ngày về, nhưng ai cấm mình lợi dụng khoảng thời gian này cho thằng con học hành đàng hoàng một chút; ra được ngoài này mà không nên cơm cháo gì thì hy vọng gì mai này giúp nước. Cũng gần rồi, cùng lắm chỉ đếm hết mười đầu ngón tay nữa là vẩy tay từ giả Nữ Thần Tự Do để hồi cố quốc chứ lâu la gì nữa mà rề rà. Hơn nữa, thằng con đối với tôi đâu phải “người phàm”, từ ngày “Tháng Tư Gãy Súng”, vào tù làm bò kéo cày ở Hóc Bà Thức, thằng cha kể như dẹp tiệm rồi, “ngậm một khối căm hờn trong cũi sắt” rồi, vì vậy, khi có được chút con trai; mặc dầu cháu thiếu dinh dưỡng từ trong bụng mẹ, sinh ra được hai ký mốt kể cả cái khăn lông quấn mình, cháu đã được giao phó nhiệm vụ tiếp bước cha anh, làm những điều cha nó chưa làm được. “Chiếc kiếm thiêng ly khách” đã trao cho thằng con, nó mà không xong thì thằng cha có về vùng năm chiến thuật cũng không nhắm mắt được. Chuyện quan trọng như vậy mà bây giờ thằng Sunset làm mất hứng biểu không rầu sao được.

Nói thì nói vậy thôi chứ cuối cùng tôi cũng phải nhắm mắt, miễn cững điền đơn giao thằng con cho trường Sunset. Nghe nói trong học khu nơi tôi cư ngụ còn hai trường tiểu học nữa nhưng tất cả đều ở xa mà mình thì mới qua, bằng lái xe mới lấy được có mấy ngày, lại thuộc loại lái xe dễ tính, tay lái muốn quẹo phía nào thì quẹo, trước lái xe Jeep trong đồng trong ruộng, có lỡ tông gốc cây, lọt xuống mương hư hao méo mó gì thì nhờ Quân cụ sửa lại, đãi nhau một chầu la ve là huề cả làng, còn bây giờ ở xứ này, không biết người ta chạy đi đâu mà lúc nào xe cộ cũng rần rật đầy đường, xa lộ lại chín mười lane, chạy lộn một cái là đi tuốt luốt cả ngày chưa chắc đã kiếm được đường về. Thôi thì gần gũi dù sao cũng tốt hơn, muốn Sunset thì Sunset, dễ mà, chỉ cần dặn thằng con: Mỹ nó điên khùng gì kệ nó, muốn hoàng hôn, muốn bi quan yếm thế gì kệ nó, mình Việt Nam con Hồng cháu Lạc, cứ lạc quan ngẩn cao đầu mà tiến bước, ráng kiếm một bụng chữ để có lúc dùng.

Tôi nói để tự an ủi nhưng trong thâm tâm vẫn cứ bị thằng Sunset ám ảnh, sợ nó cứ thả nổi kiểu “chiều đi lặng lẽ màn đêm dần trôi” làm hư thằng con mình nên đợi cháu đi học được vài tuần, quen quen với mọi sinh hoạt ở trường mới kêu cháu ra kiểm tra cho biết sự tình. Dù biết thằng con mình “khá lắm”, đã học Anh văn hình vẽ từ năm ba tuổi; đã được bà giáo người Úc làm việc thiện nguyện trong trại, xếp loại Top five trong lớp Streamline gồm toàn người lớn, nhưng tiếng Anh của mình đâu giống của Mỹ, chắc gì cháu đã hiểu được bài vở, vì vậy tôi hỏi cháu con có trở ngại gì về ngôn ngữ không? Thằng bé biết tôi lo nên cười cười trả lời: Con đọc hiểu nhưng nghe và nói kém lắm; tuy nhiên ba đừng lo, con có thầy riêng đến cách ngày để giúp con giải quyết những troubles; thầy con trước dạy trường Anh văn Khôi Nguyên ở Sài Gòn, nói tiếng Anh như Mỹ. Tôi ngạc nhiên hỏi lại: Bộ trường con đông Việt Nam lắm sao phải có thầy người Việt? Thằng con tôi trả lời: Dạ, đâu có ba, toàn trường chỉ có con và chị em con Cyndy, nhưng con này qua lâu rồi còn em nó đẻ bên này nên bọn nó nói “uy đông nít him” thành ra thầy tới chỉ để giúp một mình con. Tôi thấy vững bụng một chút bèn hỏi tiếp: Vậy sách vở, bút mực thì sao? Cần gì nói ba mua. Thằng con tôi trả lời không cần suy nghĩ: Dạ, thôi khỏi ba, trường phát đủ thứ hết, lại cấp cho con một cái hộc tủ để chứa đồ, lúc nào tiện ba mua cho con cái khóa cho chắc ăn, con để bớt đồ không cần thiết lại đó, mang về hết không nổi. Tôi hỏi đến điều lo lắng cuối cùng: Còn chuyện ăn uống con thấy ra sao? ráng ăn nhiều cho có sức mà học. Thằng con tôi co tay lại, gồng người như biểu diễn cho tôi coi bắp thịt nhỏ xíu của nó và nói, giọng bắt chước kiểu phim Tàu: Ba yên chí đi, con biết tự lo liệu mà, mấy ngày đầu con chỉ ăn Hot dog và Hambuger, nó giông giống như lạp xưởng và bánh mì thịt của mình vậy mà, không no thì uống sữa và ăn dặm thêm trái cây, bây giờ con tiến thêm tới gà chiên, cá chiên, cũng na ná như đồ của mình chỉ thiếu chút nước mắm, mai mốt thì chắc thứ gì cũng OK.

Tôi nghe thằng con nói mà lòng thấy như nở hoa nhưng đồng thời cũng thấy thẹn thùng, hối tiếc vô cùng. Té ra mình đã trách oan cho thằng Sunset, nó lo cho thằng con mình đủ thứ mà mình chẳng những đã không có được một lời cảm ơn lại còn suy nghĩ viễn vông và trách oan cho nó, bậy bạ thực. Té ra ông bà mình nói cái gì cũng đúng, tốt gỗ hơn tốt nước sơn mà, để ý làm gì mấy cái tên lẻ tẻ cho mệt, miễn sao nó ngon lành là được rồi. Stop N Go, quán bên đường, mà cái gì cũng có còn hơn Cữa Hàng Bách Hoá Tổng Hợp Trung Tâm, chữ nghĩa thì rổn ra rổn rảng mà một cây kem đánh răng cũng phải sắp hàng chờ mua theo phiếu phân phối: Nguyễn Thị Đen mà trắng trẻo đẹp đẽ nhất định bảnh hơn Bạch Tuyết mà có họ hàng với Chà Và Hynos; Kiên Trinh mà tử vi lỡ có hồng đào, tham lang ngộ triệt thì cũng dám lạng quạng lắm chứ không kiên thủ gì được. Thôi, đừng trách thằng Sunset nữa, suy cho cùng thì nó cũng đâu có tệ; hoàng hôn là giờ bắt bắt đầu cho một đêm nghỉ ngơi thoải mái để chuẩn bị cho một ngày mới tốt đẹp mà; đúng là có ý nghĩa sâu xa!

Thằng con tôi liên tục mang về những tin vui, lúc thì nói được chọn vào đội basket ball của trường; lúc thì khệ nệ tha về cái kèn đồng có cái loa to bằng cái nia nhỏ, thổi tòe tòe nói là tập để vào music band; tuần này mang về tờ giấy xin phép đi du ngoạn sở thú, tuần khác đi viện bảo tàng; cứ như thế thời gian qua dần và thằng con tôi vui vẻ nói cười như sáo.

Tôi cũng vui với cháu được một thời gian rồi lại bắt đầu có những lo âu mới. Thôi, kiểu này không được rồi, xưa Câu Tiễn phải nằm gai nếm mật, áo rách chân trần cùng vợ ra đồng cày ruộng với bình dân bá tánh, chịu khó chịu khổ, nhẫn nhục phấn đấu bao nhiêu năm mới phục quốc được; Phạm Ngũ Lão trước khi trở thành danh tướng đã phải ngồi chẻ tre đang sọt bên vệ đường, trầm tư suy nghĩ chuyện nước chuyện non muốn bể cái đầu ra chứ đâu phải đơn giản, vậy mà bây giờ thằng con đầy đủ quá, muốn gì được nấy, cần gì có đó, đời sống dễ dàng thoải mái quá, làm sao nó hiểu được giá trị của sự phấn đấu, sức cần lao, chí tiến thủ và vân vân…

Đã đành, có ai điên gì lại không muốn con mình được đầy đủ, sung túc. Tuy nhiên vật chất khác nào một cạm bẩy nhiều thử thách, vừa như một người bạn đầy sức nâng đỡ, vừa như một kẻ thù luôn rình rập. Biết dùng nó để bước tới hoặc khất phục nó để bị vùi dập, lụn tàn. Không khéo thì sẽ hư thằng nhỏ chứ không chơi đâu, lạng quạng có ngày nó cứ cắm đầu cắm cổ chạy theo cái Lexus, cái Accura, cái BMW, cái Mercedes và đủ thứ các cái tiện ích tiêu dùng, hiệu nào hiệu đó nức tiếng thế giới mà quên đường về chứ không chơi đâu. Không được.

Tôi suy nghĩ muốn bể cái đầu và cuối cùng quyết định kể cho thằng con nghe về những ngôi trường ngày cũ của mình; chuyện có vẻ lạc đề, kỳ cục nhưng tôi có lý do, làm ơn chịu khó đọc giùm và bạn sẽ hiểu tôi muốn điều gì.

Tôi học vỡ lòng từ trường Bình Dân Học Vụ, những năm trước ngày đình chiến năm 1954, tình hình vô cùng khó khăn, máy bay Pháp thường xuyên bắn phá chỗ này chỗ khác và lính Lê Dương liên tục càn quét vùng nọ vùng kia, không khí chiến tranh bao trùm khắp tỉnh Bình Định. Người Qui Nhơn kéo nhau đi tản cư đầy đặc các xã huyện miền núi. Trường học lớp đóng cữa, lớp sơ tán đi xa. Thanh niên nam nữ, muốn đi học phải cơm ăn cơm dỡ, trèo đèo lội suối, thức đêm thức hôm gian nan cực khổ lắm. Phần đám con nít bọn tôi thì chịu chết, trường học là cái gì chưa nhìn thấy qua, thậm chí chưa nghe nói tới nói gì tới chuyện đi học.

Tôi bẩm sinh ốm yếu, nay bệnh mai đau nên mặc dù “chàng tuổi trẻ” cũng “vốn dòng hào kiệt” nhưng đạn bom như vậy, trường trại xa lắc tít mù như vậy cho nên dù cha mẹ tôi có mong như thế nào; dù tôi có muốn như thế nào cũng đành “lực bất tòng tâm”, chỉ biết nằm nhà và hy vọng nhờ trời cho chút “thông minh”, chăn bò riết rồi sẽ giỏi. Cũng may là có cái trường bình dân cứu tôi.

Không biết là thời đó nhân cái chiến dịch gì? Nhờ cái chính sách nào mà phong trào xóa nạn mù chữ được phát động rầm rộ và triệt để lắm; mỗi phiên chợ, dân quân, du kích chận xét đầy đường, giây thừng gậy gộc hùng hổ lắm, ai không đọc được 24 chữ cái thì trói gô lại dẫn đến chợ, bắt đeo tấm bản đề chữ “ma dốt”, đi qua đi lại cho người ta nhìn. Nhiều người hết gạo, hết mắm nhưng sợ bị làm ma dốt nên đành trốn ở nhà gặm khoai mì cho thanh thản tấm thân. Hồi đó, ở thôn quê người đọc được 24 chữ cái đâu có nhiều, bắt riết nhiều quá không biết dẫn đi đâu nên chính quyền rút ưu khuyết điểm và quyết định mở thêm trường; nhờ vậy mà xóm nghèo của tôi được vinh hạnh tưng bừng khai giảng một “trường 24 chữ cái” và tôi trở thành môn sinh của cái “cữa Khổng” lạ đời nàỵ

Trường được dạy ở cái chòi mòng, chỗ dành cho dân quân, du kích ngủ đêm để tuần tra, canh gác gì đó. Đây là một cái chòi nhỏ, lợp bằng lá dừa, vách được trét bằng đất trộn rơm, cao quá đầu con nít một chút để có thể nhìn rõ bốn phía; bên trong có một cái sạp tre đủ chỗ cho bốn năm người nằm, mặt sạp đầy những lỗ mọt và ngồi lâu, có hơi người, rệp bò ra lúc nhúc.

Giờ học được ấn định từ chạn vạn tối đến cuối canh một, nhưng đây chỉ là nguyên tắc, nó du di tùy vào nhiều phương pháp phỏng đoán giờ giấc khác nhau, có người căn cứ vào giờ gà vào chuồn, có người nhìn mức trăng non hay đầy, có người coi sao, có người chờ nghe tiếng còi tàu từ bên kia sông để đoán giờ đi học.

Lệnh đố chữ chỉ áp dụng cho các công dân trên 18 tuổi, dưới tuổi đó, việc không đọc được 24 chữ cái coi như hợp lệ; vì vậy, lớp học của tôi chỉ gồm toàn những ông chú, bà thiếm, bác trai, bác gái người nào người đó con cháu đùm đề, có bà đến trường mà con đứa ngủ trong lòng, đứa bồng trên tay, vừa học vừa cho con bú. Đàn ông phần lớn ở trần, miệng bập phà những điếu thuốc to bằng ngón tay cái, nhả khói mù mịt và nói cười ồn ào, học cả tuần chưa nhớ được một chữ. Tôi là đứa con nít độc nhất muốn biết chữ cái sớm hơn qui định 12 năm và có mặt bên cạnh các bạn đồng môn vào hàng trưởng thượng nàỵ

Buổi trưa ngày tôi chuẩn bị đi học, mẹ tôi lấy cái thúng kê nghiên làm bẩy, thảy nắm thóc để dụ đàn gà bu lại tranh ăn và úp thúng bắt một con làm thịt. Hồi đó mỗi năm gia đình tôi phải đóng thuế nông nghiệp ba lần gọi là tiên thu, trung thu và thanh thu, tổng cọng trên một trăm tấn lúa hay bất cứ thứ gì có thể qui được ra lúa. Người ta không căn cứ vào diện tích canh tác hay sản lượng thu hoạch để tính thuế mà họp nhân dân bình nghị để quyết định mức độ đóng góp với lý luận là ngoài của nổi (số nông sản thu hoạch được) địa chủ còn của chìm (tài sản tích lũy được từ nhiều đời) và chính quyền phải tận thu triệt để cả hai thứ tài sản nàỵ Vì lẽ đó, việc mua một miếng thịt, ăn một con gà hay bất cứ một miếng ngon vật lạ nào cũng có thể bị coi là phung phí, còn khả năng và mức thuế có thể được biểu quyết cao hơn. Gia đình tôi sợ lắm, tuy nhiên đây là một trường hợp đặc biệt: lần đầu tiên tôi tới trường và mẹ tôi bất kể hậu quả, phá lệ làm con gà để cúng “khai tâm” cho thằng con.

Cả buổi chiều hôm đó tôi cứ nôn nao đi ra đi vào, không phải mong đến giờ đi học mà chỉ chăm bẳm nhìn vào nồi cháo gà; dẫu vậy, tôi cũng cẩn thận xúc một vá than bếp đang cháy mang ra giếng tưới nước cho tắt, lựa lấy những cục than xốp, mềm, kẽ được những vết đen, đậm, và lấy một miếng ván nhỏ để chuẩn bị viết bàị

Đến giờ học, người ta đốt một ngọn đèn chai, một loại phế phẩm lấy từ cây dầu trên rừng, lớp nhựa tốt gọi là dầu rái, dùng trét ghe, trét bồ, phần cặn còn lại dùng lá ké bó lại như đòn bánh tét để làm đèn. Khi đốt chất dầu cháy kêu xèo xèo, tỏa mùi khét và bốc khói nghi ngút.

Ông thầy dùng than viết những chữ mờ mờ lên một vách phên đan bằng tre cho mọi người đọc và chép laị. Thầy đúng là một lương sư đức trọng tài cao, nghe nói là một giáo học người thành phố tản cư, có rất nhiều kinh nghiệm giáo dục nên ông đã áp dụng những phương pháp sư phạm tốt nhất để cố mở mắt mở lòng cho những học trò đặc biệt, cả đời chưa biết cầm qua cây viết. Tuy nhiên, nhiều ngày trôi qua mà học trò vẫn cứ ù ù cạc cạc, trơ như đá vững như đồng, cứ mở mắt nhìn ông thầy, nhìn đám chữ mà không phân biệt được chữ A chữ B gì cả. Ông thầy bối rối, lo âu, hết biết đường mò và cuối cùng ông đành “đánh võ rừng”, dẹp hết kinh nghiệm giáo dục, khả năng sư phạm qua một bên, nhập gia tùy tục, uyển chuyển để thích nghi với trình độ dưới số âm của học trò mình và lớp học của tôi vang lên những tiếng ê a:

“O tròn như quả quả trứng gà, Ô thì đội mũ, Ơ thì mang râu”
“A-B-C ngồi xề xuống chấm; A- Ă- Â phải nhớ trả tiền”

Người mình vốn có khiếu thơ phú từ trong máu, cái gì có vần có điệu là dễ nhập tâm, nhờ vậy mà lớp học tôi tiến bộ rất nhanh, ít nhất mọi người cũng hình dung và vẽ ra được chữ O- Ô- Ơ và cũng biết trong đời có những chữ gọi là A – B – C; A – Ă- Â dù có thể không biết nó viết như thế nào.

Lớp học kéo dài được một thời gian, rồi phong trào bình dân giáo dục xẹp xuống, ông thầy mệt mỏi không muốn dạy nữa, học trò mệt mỏi nghỉ lần nghỉ hồi và trường đóng cữa. Tôi sung sướng thở phào tưởng đã thoát được nợ, không dè mấy ông anh bà chị bắt đầu luân phiên quần thằng nhỏ thở chẳng ra hơi. Thầy ngoài nhiều lúc còn có chút nể nang “chú Tám” và tôi còn có thể tà tà, nhưng trong nhà chú Tám hạng bét, lạng quạng là sáng quì, tối qùi nhưng cũng nhờ vậy mà chẳng bao lâu tôi xóa được “nạn mù chữ”, có thể xách thùng vôi theo ông anh đi viết khẩu hiệu vòng vòng trong xóm; đợi anh viết xong câu nào là tôi nắn nót “vẽ” ngay xuống dưới mấy chữ BTT-XTP, Ban Thông Tin, Xóm Tăng Phúc, và sung sướng nhìn “tác phẩm” của mình.

Cái số tôi vốn lận đận, đã lỡ dính vào chút chữ nghĩa rồi thì không thoát ra được, nên vừa rời trường Bình Dân, chưa kịp nghỉ ngơi gì đã bị tẩu hỏa nhập ma với đủ thứ chiêu thức của mấy ông anh bà chị và không lâu sau đó, cha mẹ tôi lại quyết định cho tôi đi “du học” ở một làng khác.

Lần này gia đình chuẩn bị cho tôi chu đáo lắm, trước hết, mẹ tôi lục trong rương đựng đồ thờ (đồ thờ cất dấu trong rương vì chính quyền Việt Minh không cho treo hoành phi, trướng liễn, thờ cúng rườm rà) lấy ra một bức trướng bằng vải sa tanh màu vàng, có thêu hình con công xoè cánh đủ màu, xoay tới xoay lui để tránh những chữ Hán to tướng và cắt may cho tôi một cái áo mới với nguyên con công sau lưng và mấy hàng chữ cụt đầu cụt đuôi trước ngực, trông như đồ của kép hát bội; sau đó, mẹ tôi lục trong tủ đựng sách tập cũ lựa ra mấy quyển vở đã sử dụng của các anh chị tôi ngày trước để tái tạo thành vở mới cho tôi. Hồi đó, người ta sử dụng một loại giấy gọi là giấy rơm, có lẽ được chế ra từ rơm rạ bằng một kỷ thuật thủ công thô sơ. Bột giấy không mịn khiến mặt giấy lợn cợn, thô nhám, thân giấy chỗ dày chỗ mỏng như bánh tráng thợ vụng và màu giấy vàng sậm như màu rơm khô. Mẹ tôi thương con không muốn tôi sử dụng loại giấy thảm hại này nên đã nhẫn nại tháo từng tờ giấy từ các quyển vở cũ, ngâm vào một chậu nước sạch. Những hàng chữ mực tím thấm nước nhoè ra, loãng dần, tan đi. Mẹ tôi cẩn thận lấy tay xoa nhẹ nhẹ lên mặt giấy, cọ rửa những chỗ còn sót mực và đem những tờ giấy đã sạch dán sát vào thân cây chuối, chờ cho giấy khô gỡ ra, xếp lại. Những tờ giấy đã bị thấm nước nhăn nhúm, chất mực hòa trong nước loãng nhuộm màu giấy thành xám tro, giống như thứ giấy quí mấy ông thi sĩ in thơ bây giờ trông rất đẹp mắt. Mẹ tôi đóng giấy thành tập và đem ép dưới bộ phản gõ một đêm là có thể “xuất xưởng” một quyển vở “xịn”. Mẹ tôi cấp cho tôi một đồng xu chì để gạch hàng và sai chị tôi lên gò hái một túi trái chùm mua – một loại trái rừng có nhiều hột nhỏ như trái sung, màu tím – đem về giã nhừ, bỏ xác vào một mảnh vải cũ vắt kỹ, chất nước cốt màu tím đặc quánh chảy ra, bỏ vào một chút muối cho nước trái cây khỏi bị thiu và đem nấu cô lại thành mực. Toàn bộ học cụ của tôi chỉ có cây thước gạch, được cha tôi nhờ thợ mộc cưa cây ba ton bằng gỗ mun, bào láng thành loại thước một phân vuông là bóng lưỡng, ngon lành.

Đến ngày đi học, chị tôi lấy mo cau gói hai phần cơm với cá khô muối nướng vàng, một cho tôi và một như quà mướn một người bạn cùng xóm để đi học với tôi cho có bạn đường. Tôi bận áo con công, thủ mo cau cơm và cùng người bạn lội qua sông, theo tỉnh lộ sáu đi ngược về phía Vân Canh độ hai cây số, rẽ vào đường làng thêm một cây số nữa là đến trường thầy giáo Cảnh.

Trường là một nhà nhỏ bằng tranh, nằm khuất dưới tàn một cây sộp lớn, chung quanh có vườn mù u um tùm. Lớp học có mấy dãy bàn và băng ngồi được làm bằng các cây gỗ rừng, to bằng cườm tay, cong queo, u nần được ghép lại với nhau bằng giây lạc, giống như những băng ghế dã chiến ở các lều trại hướng đạo sau này, băng ngồi ê đít và bàn lồi lỗm, đong đưa như răng rụng. Hai bên vách đất người ta khoét những lỗ tròn vừa thân người chun, thông với một giao thông hào chạy ngoằn nghèo dưới hàng mù u bên ngoài, phòng khi có báo động máy bay thì tất cả thầy trò trườn ra ẩn nấp.

Những ngày đầu tôi sợ thầy giáo lắm, thầy có họ hàng với tôi và từ nhỏ tôi đã được dạy gọi ông bằng chú. Thấy ông chú đã ớn, bây giờ lại thêm chức thầy biểu không sợ sao được! Tôi vốn nhỏ con ốm yếu, từ nhỏ lại chưa từng bị đòn nên mỗi lần thấy ông thầy cầm cái thước gạch vuông cạnh quất chóc chóc vào năm ngón tay chụm lại, dù là tay của người khác, bộ phận bài tiết chất lỏng của tôi như hết còn điều khiển được. Tôi bị cây thước gạch này ám ảnh ngày đêm và chắc sẽ có ngày phát bệnh nếu cơ hội may mắn không đến với tôi. Hôm đó thầy về nhà tôi ăn giỗ ông bà và trong lúc ăn uống tôi tình cờ nghe thầy báo cáo với cha mẹ tôi: “Thưa hai bác, anh Tám học khá lắm”. Tôi đủ nhận xét để hiểu anh Tám chính là tôi và tiếng chú tôi vẫn gọi từ trước đến giờ chỉ là cách gọi lịch sự dành cho vai em lớn tuổi hơn theo thói quen ở quê tôi.

Tôi khám phá ra điều bí mật bằng vàng này và những ngày sau đó hùng dũng đến trường, coi như dưới trời không có ai và cái thước gạch kể như đồ bỏ. Sự thật thì tôi không bao giờ có ý “hối mại quyền thế”, ỷ lớn mà coi thường thầỵ Mặc dù thực tế tôi vẫn hầu như còn mù chữ ngay cả khi đã qua trường Bình Dân, nhưng từ nhỏ tôi đã biết “tiên học lễ hậu học văn”, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” và tôi đã tự hứa sẽ giữ trọn đạo sư đồ nếu như không lâm vào thế chẳng đặng đừng.

Mọi việc suông sẻ, tốt đẹp được một thời gian, tôi vốn “thông minh thánh trí” lắm mà, ba cái vần ngược cỡ oát, oắt, oan, oăn làm khó ai chứ dễ gì hại tôi được, uống miệng trẹo lưỡi cỡ nào tôi cũng đâu có ớn, cái thước gạch dễ gì mà đụng được tới tay tôi. Tuy nhiên trời cao hình như “đố kỵ người tài”, người ta sáng dạ như vậy mà nỡ lòng nào bắt phải chịu tật nói đớt. Tôi không đọc được chữ Đ, vì vậy sáng nào cũng bị bắt đứng lên khoanh tay rống lớn: ình ất á ỏ en, i âu ó ụng ầu au iếng (đình đất đá đỏ đen, đi đâu đó đụng đầu đau điếng). Bình thường thầy rất mềm mỏng và nhẫn nại giúp tôi sửa tới sửa lui giọng đọc nhưng không biết trời xui đất khiến gì mà một bữa kia, tôi mới mở miệng được mấy chữ ình ất á… thì ông thầy nổi trận lôi đình, đập cây thước cốp cốp trên bàn. Tôi hồn bất phụ thể, bủn rủn tay chân và trong phút “thập tử nhất sinh” đó, tôi chợt nhớ tới lá bùa ” anh thầy” và tự nghĩ: “ta dẫu hèn nhưng cũng là nam nhi đội trời đạp đất” đâu thể thấy cảnh “đạo lý suy vi, gia phong đảo lộn” mà không ra tay can thiệp, vì vậy tôi liều mạng đúng dậy la lớn: ” Một cái giá bằng ba cái đánh, chú là em tôi không được đập thước hù anh” . Ông thầy nghe nói ngừng đập thước. Tôi được trớn xổ tiếp một câu chữ nho học lóm, mà tôi nghĩ là hay ho, hợp tình hợp cảnh lắm dù chỉ hiểu đại khái ý nghĩa: đồ “mục vô tôn trưởng”.

Cuộc “cách mạng” của tôi chỉ thành công giai đoạn, ông thầy tạm đầu hàng, cười cười xoa tóc thằng anh, nhưng tới ngày giỗ vẫn ngồi mâm trên, rung đùi uống trà, riêng tôn trưởng dõm là tôi bị tôn trưởng thứ thiệt là ông anh cả tôi bắt quì một buổi chiều vì tội “mục vô tôn trưởng”. Anh tôi giải thích, mặc dù vai vế nhỏ nhưng phần vì lớn tuổi, phần là thầy, nên chú em tôi đã từ “kẻ hạ” biến thành tôn trưởng. Cũng may anh tôi chỉ bắt gọi chú em là thầy, nếu anh ấy bắt gọi là ông trời chắc lúc đó tôi cũng sẵn sàng: Dạ, ông trời, ngay. Quyền huynh thế phụ mà, tôi đã làm cách mạng để bảo vệ gia phong đâu thể tự mình không tôn trọng được.

Duyên nợ giữa tôi và trường thầy giáo Cảnh không bền, những năm 1953-1954 tình hình có nhiều diễn biến phức tạp: Tin hiệp định Geneve được ký kết, người Cọng sản chuẩn bị tập kết ra Bắc. Chính quyền Quốc Gia rục rịch tiếp thu tỉnh Bình Định. Mọi thứ rối tung rối mù như vậy ai tâm trí đâu mà dạy, mà học.

Tôi hăm hở thảy quyển vở “giấy Tây” vào hộc bàn, cởi chiếc áo con công ra và sung sướng chạy rông theo đám bạn cùng xóm. Lúc rời trường, bầu chữ của tôi chỉ mới được một chút xíu ở sát đáy nhưng đâu có sao, đồng quê có biết bao thú vui mộc mạc nhưng hấp dẫn, thú vị hơn ba mớ vần ngược, vần xuôi nhiều.

Tôi lên đường xe lửa lựa lấy những cục đá xanh bằng nắm tay về đẽo gọt, mài nhẵn làm thành những hòn bi xinh xắn; ra bụi trúc lựa cây vừa cỡ chặt về làm ống thụt, lấy trái cò ke, bời lời làm đạn chia phe bắn nhau; ra bờ sông lấy mủ cây sung bỏ vào ống tre, thọt mớ que tre vào kéo tới kéo lui cho mủ dẻo lại, đem que tre ra cắm theo hình tam giác đầu chụm lại với nhau, bắt con dế cột chính giữa làm mồi, chú chèo bẻo, chính choè nào tham ăn, sà xuống đứng trên que tre chuẩn bị bắt dế là mủ sung sẽ níu chân ngay, càng dãy dụa, đập cánh càng dính nhiều, phe ta chỉ việc chạy ra chụp cổ. Buổi chiều tôi thường lăng xăng chạy ôm bã mía cho mấy ông anh bó đuốc, cố gắng đóng góp công sức và chứng tỏ sự có mặt để ông anh nhớ tới và hạ lệnh cho theo cầm đụt đi soi cá. Nước sông trong vắt và mát lạnh, những chú cá ngựa có cái chấm đen giữa bụng, cá lúi với cái miệng chúm chúm có duyên như con gái răng khểnh, thấy ánh đuốc là loè mắt lờ đờ. Tội nghiệp mấy em cá ngây thơ vô tội đâu biết cường địch đang cận kề, chỉ cần ụp cái nôm xuống nhốt mấy em lại, thò tay vào nắm cổ như lấy đồ trong túi.

Tôi chơi đùa vui vẻ như vậy đâu cần biết là đã có nhiều thay đổi; chính quyền Quốc Gia đã được thiết lập, vận hội mới đã được mở ra, khí thế mới đã bừng lên và tôi lại “bị bắt” đi học. Lần này trường tôi có tên là Tiểu Học Phước Thành đàng hoàng và học trình coi bộ giai dẳng, gian lao lắm chứ không đại khái chơi chơi như mấy lần trước đâu. Tôi được sắm áo sơ mi vải Popline, quần sọt Dagron, bút máy hiệu Caolo và nhiều tập vở bìa con gà có gáy viền đen, giấy trắng, đường lề đỏ và hàng kẽ ngang, kẽ dọc thẳng tắp. Trước bìa có cái nhãn ghi tên trường, tên thầy, tên trò, môn học, niên khóa với một bông hồng nằm ngang phía dưới rất đẹp. Tôi cầm mấy quyển vở vừa mừng vừa thấy nhói nhói trong lòng, giấy nhiều như vậy học đến bao giờ mới hết.

Mẹ tôi nói con ráng học giỏi muốn gì mẹ cũng cho. Tôi nghe mẹ nói buồn đứt ruột nhưng cũng gượng cười như hưởng ứng để mẹ vui mà trong bụng thì nghĩ: đã đi học còn vui thú gì nữa mà muốn và tôi nghĩ cách “tìm tự do”. Đêm trước ngày đến trường, tôi nằm nghe cái đồng hồ quả lắc kêu cóc cách, cóc cách và cảm thấy thời gian đang qua dần, lạnh lùng, khủng khiếp vô cùng. Túng quá hóa liều, tôi bắt đầu rên rỉ và thỉnh thoảng ú ớ mấy chữ không đầu không đuôi như người bệnh nặng mê sảng, nói mớ. Thông thường, mỗi khi trái gió trở trời tôi có bị ấm đầu sổ mũi gì thì suốt đêm mẹ ngồi cạnh giường, lúc nào thức giấc tôi cũng thấy mẹ nghiên người như muốn ôm lấy tôi, sưởi cho ấm nếu tôi bị lạnh và sớt độ nóng nếu tôi có nhiệt độ cao. Lần này tôi quyết “bệnh nặng” để hy vọng mẹ tôi sẽ can thiệp cho tôi được ở nhà nhưng đợi mãi mà không thấy mẹ tôi nói gì, tôi buồn rầu, tủi thân, ráng “mê sảng” thêm mấy lần nữa vẫn không kết quả gì và mệt quá đành chịu ngủ tạm, nhưng sáng dậy ý chí “tranh đấu” lại bùng lên mãnh liệt.

Tôi ngoan ngoãn thay quần áo, ôm sách tập theo chú người làm đi học nhưng đợi lúc ông ta sơ ý, tôi nhảy tòm xuống ruộng lăn qua lăn lại cho lấm bộ đồ, hy vọng câu giờ, trễ học để nghỉ. Sự thật tôi cũng khổ tâm lắm, từ hồi cha sinh mẹ đẻ, mang thân con địa chủ, kẹt trong vùng cọng sản, bị đấu lên tố xuống, ăn thiếu mặc rách, lần đầu tiên trong đời tôi có được bộ đồ mới đẹp như vậy, nhưng thú vui với bạn bè trên đồng hấp dẫn hơn lớp học nên tôi đành cắn răng hy sinh bộ đồ.

Tuy nhiên, mọi nổ lực của tôi đều vô ích, chú người làm dẫn tôi về nhà báo cáo tình hình, cha tôi trợn hai con mắt tròn vo như ông Trương Phi, mẹ tôi nói: Học bằng cái đầu chứ đâu phải bằng quần áo, thay đồ cũ đi tiếp. Tôi hoàn toàn hết hy vọng, bà tiên hiền diụ là mẹ tôi thường ngày vẫn bảo vệ tôi, có việc gì khó khăn kêu mẹ là được cứu còn mau hơn kêu trời, thậm chí có lúc đi đường bị máy bay thả bom, mẹ tôi còn dám nằm đè lên trên để đỡ mảnh bom đạn cho tôi mà lần này bà cương quyết không động lòng, lạnh lùng nạp tôi cho mấy ông thầy thì nhất định không còn phép lạ nào cứu tôi được nữạ Thôi, mẹ tôi đã muốn thì nhất định không phải việc xấu cho tôi, đi học thì đi.

Đó là lần cuối cùng tôi sợ trường học, sau này đi lính đánh giặc, nhiều lúc tôi nhớ không khí giảng đường vô cùng, thèm được đi học đến độ nghĩ bụng nếu mai kia mốt nọ hết chiến tranh mà may còn sống, dù ở tuổi nào tôi cũng đi học trở lại. Dẫu sao, tôi cũng không thấy hổ thẹn hay hối tiếc gì về chuyện ngày cụ Ôi! những lêu lổng đáng yêu; những biếng nhác hồn nhiên của thời niên thiếu.

Tôi có nhiều sách vở và quần áo mới, nhờ thoát ách thuế nông nghiệp gia đình tôi đã tương đối hồi sinh nhưng quê hương tôi thì chưa. Chính quyền Quốc Gia đã đem hơi thở, sinh khí nhưng nhất thời chưa thể đem được phồn vinh đến cho một vùng đất chết mới vừa hồi sinh. Trường tôi có ba lớp mà phải học tạm bợ ở ba nơi khác nhau với đủ thứ khó khăn, thiếu thốn. Học sinh đủ trình độ, đủ tuổi tác; có anh chị đã mười sáu, mười bảy; có người đã lập gia đình cùng ngồi chung với đám nhóc miệng còn hôi sữa như bọn tôi và cùng cố gắng vươn lên.

Lớp tôi có ba đội: Đội Voi, tiếng reo là mạnh cho các anh chị lớn tuổi; đội Hổ – hùng cho lớp trung trung; phần tôi, trước sau mấy năm ở trường chỉ được ở đội Sóc – nhanh nhưng đúng là “tài không đợi tuổi”, tôi thuộc loại ngon lành nhất lớp. Trường có hai “chức vụ” quan trọng đều trông cậy cả vào tôi: Ôm sổ điểm danh, sổ điểm cho thầy và đánh trống báo giờ ra chơi và giờ vào lớp. Nói thật, ở đời chắc không có chức nào oai hơn hai chức vụ này nên tôi khoái lắm và hết mình chu toàn nhiệm vụ, đau ốm bệnh họan gì cũng nhất định đến trường để ôm sổ và đánh trống.

Cuộc đời của tôi ở trường Tiểu học Phước Thành sẽ hoàn toàn vui vẻ, thoải mái nếu như không có hai môn Pháp văn và thủ công hại tôi. Hồi đó không biết do lệnh ai mà bắt đám con nít chưa thông tiếng Việt học thêm tiếng Pháp. Ông thầy tôi kiếm đâu được một quyển sách Pháp có vần có điệu giống như Tam tự kinh và bắt chúng tôi học thuộc mỗi ngày mười tiếng ngữ vựng, nếu không thuộc sẽ bị phạt mỗi chữ sai một roi mây hay một quẹt lọ trã rang lên mặt. Đại khái bài học như thế này: Lơ siêng- con chó, lơ sa- con mèo, la pót- con heo, ca na là vịt, vi ăn đờ là thịt, lê gium là rau vân vân. Chữ gì đâu mà lúc lơ lúc la, lại không có huyền sắc nặng hỏi ngã gì cả làm sao viết. Tôi ớn môn học này lắm và lúc nào cũng lấm la lấm lét thủ cái dùi trống, gặp khi căn quá mà thầy bận dò bài không để ý là tôi liều mạng nhảy ra ngoài, xổ trống cho ra chơi sớm để cứu mình và cứu anh em.

Dù sao, chữ nghĩa có khó đến đâu học riết rồi cũng biết, chỉ có những kỷ năng cần đến sự khéo léo của đôi tay là vượt quá sức tôi. Tôi vốn trời sinh đã lọng cọng, vụng về; lại được mẹ cưng từ nhỏ, cầm cái dao gọt xoài còn bị rầy vì sợ làm đứt tay nói gì đến chuyện chẻ tre, vót nan, vót lạt. Những năm đầu môn thủ công chỉ chú trọng đến phần nặn tượng nên vui lắm, đến giờ cứ mượn cớ lấy đất sét chạy tuốt ra sông, bơi lặn nghịch phá đã đời, gần hết giờ mới quơ đại một nắm đất sét, nặn tới nặn lui muốn ra con gì thì ra; về sau, bài học chuyển sang phần làm đồ gia dụng, vót đũa bếp, đan rổ, đan trẹt. Tới lúc này thì tôi chịu chết và từ đó bao nhiêu cà rem, bao nhiêu chai nước cam chai dùi đục ngon lành nhất thời đó lẽ ra tôi được hưởng, đã phải đổ hết vào bụng các bạn lớn tuổi cùng lớp để chuyển hóa thành đũa bếp, rổ rá cho tôi. Tôi cũng đau lòng lắm nhưng không sao, miễn tránh được cái roi mây là vui rồi.

Thời gian không chậm, không nhanh, cứ tà tà như vậy mà cũng đến ngày tôi sắp rời trường Tiểu học Phước Thành, cũng có nghĩa là tôi sắp phải xa nơi chôn nhau cắt rún nghèo khó nhưng thiêng liêng, đìu hiu nhưng đầm ấm để lên tỉnh, để bắt đầu một giai đoạn mới của cuộc đời.

Tôi không có khiếu đóng kịch, muốn làm người bệnh mê sảng thì mẹ tôi biết ngay là bệnh làm nũng, biếng học; muốn làm kẻ bị tai nạn ngã té thì bị chú người làm phát giác là tự nhảy xuống ruộng, té giả đò vậy mà đã có lần tôi bị bắt đóng kịch.

Hồi cuối năm lớp nhất tôi được chọn trong số 50 học sinh đại diện cho trường Phước Thành tham gia một cuộc cắm trại của học sinh toàn tỉnh tại bãi biển Qui Nhơn. Đêm văn nghệ lửa trại có chấm điểm thi đua trường tôi tham gia bằng một vở kịch vui có tên là “Sình Lên Sộp Xuống”. Đây là một vở kịch cố chọc lét người ta bằng những động tác chọc cười của một người bệnh cũng như bằng phương pháp chữa bệnh của một ông thầy thuốc với các y cụ lạ đời như cái ống chích làm bằng cây chuối hay cái ống nghe bệnh làm bằng hai mảnh gáo dừa và giây thừng.

Sự thật thì tôi không được chọn để đóng vở kịch này, tuy nhiên vào phút chót, “nghệ sĩ” đóng vai người bệnh, không biết do lạ khí hậu hay do sợ quá mà thành bệnh thật không lên sân khấu được và tôi bị chỉ định thay thế. Tôi tự nhiên cũng đắng miệng, phát sốt khi thầy gọi đến tên và nhất định không chịu làm kịch sĩ. Tuy nhiên, biết trò không ai bằng thầy, thầy tôi đem uy tín và danh dự nhà trường ra thuyết phục và tôi chịu thua. Cái gì chứ nói đến ba cái thứ uy tín danh dự này nọ thì tôi ưa lắm, biểu nhảy vào lửa không chừng tôi cũng nhảy nói gì chỉ sình lên sộp xuống.

Vai diễn của tôi rất thần bí, không ai được thấy mình và mình cũng không cần thấy ai, chỉ nằm dài ra đất, đắp mền phủ đầu phủ chân, trốn êm trong đó muốn làm gì thì làm, đợi khi nào nghe thầy thuốc bảo sình lên thì ưỡng người phình bụng lên thật cao; và khi nghe sộp xuống thì thót bụng, thu người lại càng nhỏ càng tốt. Vai diễn của tôi chỉ có vậy, sình lên sộp xuống năm bảy lần gì đó, đợi nghe có tiếng vỗ tay là xong nợ, có thể ôm nguyên cái mền lủi vào đám đông, trốn biệt.

Kỳ trại đó trường tôi thất bại nặng nề, vở kịch do tôi đóng vai chính (vai được chọn đặc tên cho vở kịch đương nhiên là chính rồi) không có tên trong danh sách được giải dù tôi đã ráng sình thật cao và sộp thật sát.

Môn bóng đá thì trường người ta ở tỉnh, có banh bơm hơi hay ít nhất cũng banh cao su để tập luyện, còn nhà quê bọn tôi chỉ đá banh bằng trái bưởi, bằng bẹ chuối khô quấn lại làm sao thắng cho được; cuối cùng chỉ còn hy vọng vào môn kéo giây vì ngoại trừ tôi vô dụng, các anh em khác đều ít nhiều có theo cha mẹ cầm qua cái cày, cái bừa nên nghĩ là mình mạnh lắm, không ngờ gặp cái trường Mai Xuân Thưởng hay Đào Duy Từ gì đó, có lẽ gồm các anh em dân biển chuyên kéo ghe, kéo lưới hay sao đó mà bắp thịt người nào người đó cuồn cuộn, trọng tài vừa thổi dứt tiếng còi, họ hê lên một tiếng là hơn một nửa đội chúng tôi đã té nhào qua phần đất địch. Đau đớn lắm nhưng không sao, niên học sắp chấm dứt và ngày thi vào đệ thất Cường Để đã gần kề, sẽ biết đá, biết vàng.

Hồi đó, đệ thất Cường Để là một giấc mơ tươi đẹp mà cũng là một ác mộng hãi hùng của tất cã học sinh tiểu học Bình Định. Làm sao để có tên trong số hai trăm người chiến thắng giữa sáu bảy ngàn quần hào từ hàng trăm trường Tiểu học khác nhau tụ lại tranh tài không phải là chuyện ai cũng làm được. Đã có rất nhiều trường, trong rất nhiều năm, phải ngậm ngùi nhìn toàn bộ học sinh của mình chạy đôn chạy đáo ghi tên vào các lớp tư thục “tiếp liên” để chuẩn bị cho khoa thi năm tới.

Thi cử khó khăn như vậy mà đám Phước Thành chúng tôi, những thằng nhóc chân đất, ăn củ mì nhiều hơn ăn cơm gạo, năm đó đã đẻ ra được năm nam sinh đệ thất Cường Để. Nhiều năm đã qua nhưng tôi vẫn còn nhớ như in tên tuổi, hình dáng và gia thế của từng anh em một:Trần Hữu C, con ông bà giáo Hai; Lê Văn S, con bà Xã Quyền; Trần Hữu H, con bác ba Cu, Diệp Tấn T, con ông thầy Tàu bán thuốc Bắc và bánh kẹo, bút mực gần trường. Phần tôi, nếu cung khoa quyền lộc sáng hơn một chút, hoặc nếu may mắn được trời thương một chút, chỉ cần cho sáu anh em ở đầu bản ấm đầu sổ mũi hay lỏng bụng chột dạ gì đó trong kỳ thi là đời tôi đã có một lần được làm thủ khoa với người ta rồi. Thực tế không được như vậy nhưng tôi đâu phải là người quá tham lam, không tự biết mình; dẫu sao, mặc dù đã cố giữ vẻ “nghiêm và buồn”, cố đóng vai khiêm tốn, nhiều lúc tôi cũng tự cảm thấy mũi mình hình như nở lớn ra một chút; con nít mà.

Tôi hăng hái và tự tin đi Qui Nhơn với cái túi lúc nào cũng nằng nặng, đủ để mỗi sáng có thể hùng dũng gọi người bán dạo “bánh mì nóng dòn đây” mua một cái và vài đêm có thể chờ nghe tiếng gõ cóc cóc của ông Tàu xe đẩy hoành thánh mì sợi làm một tô. Đời sống tương đối đầy đủ và thoải mái. Tôi học được nhiều điều hay lạ ở trường, tôi hưởng được chút tiện nghi thành phố; tuy nhiên, dường như trong tận cùng tâm khảm, nỗi quyến luyến và niềm tiếc nhớ về những kỷ niệm ở xóm nghèo, quê cũ vẫn luôn ám ảnh tâm trí tôi và nhiều lúc, xác thân tôi bận rộn quay cuồng với nhịp sống của thành phố nhưng hồn tôi lửng lơ bay lượn theo những cánh diều, những đêm trăng, những giòng sông, những sóng lúa nơi quê nghèo ngày cũ. Tuy nhiên, tuổi trẻ luôn nghe những tiếng gọi, luôn có những thôi thúc tiến về phía trước. Hồi đó ông Nguyễn Vỹ có viết một quyển sách có tên là “Tuấn, chàng trai nước Việt” nói về những ước mơ, những hoài vọng của một chàng thanh niên Anh Tuấn, mong được hữu dụng, giúp nước, giúp đời. Tôi mê đọc lắm và có lúc đã nghĩ mình cũng là một thứ Tuấn, chàng trai nước Việt.

Muốn hay không, thời gian cũng cứ qua, mỗi năm tôi được thêu thêm một đóa hoa năm cánh trên ngực áo để lên lớp cao hơn trong trường và tôi cũng cứng cáp hơn, trưởng thành hơn trong đời. Tôi lớn lên cùng thế hệ bằng hữu khốn khó của mình, tôi lớn lên cùng với quê hương đang vươn vai đứng dậy của mình. Những ngày đầu của chính thể Cọng Hòa miềm Nam tuyệt đẹp; một chút kỷ cương nề nếp của thời phong kiến cũ còn sót lại; một chút tự do dân chủ mới mẻ được nhen nhúm, cả dân tộc lạc quan nhìn về phía trước và quê nghèo, tỉnh nhỏ của tôi cũng lạc quan nhìn về phía trước. Bóng tối của quá khứ đã lùi xa và bước đường đi tới, dù có xa xôi, đã thấy hé nở những nụ hồng.

Tuy nhiên thanh bình và ổn cố không kéo dài, nhiều biến cố chính trị dồn dập xảy ra, tiếng súng nội thù ngày càng ác liệt; tổ quốc chênh vênh giữa cơn sóng dữ và con người trở thành nhỏ nhoi trước vận nước, bị cuốn hút, xô đẩy giữa những thảm kịch.

Tuổi trẻ chúng tôi trưởng thành trong những năm tháng đầy vinh hạnh và cũng đầy bất hạnh này. Cả một thế hệ quay cuồng với những hoan hô, đả đảo trên đường phố; vật lộn với sự sống và phút chết trên chiến trường; chia với tổ quốc những vinh quang đáng tự hào, chịu với dân tộc những tệ hại đáng xấu hổ và cứ như thế, rất nhiều người đã nằm xuống, và nhiều người còn lại để chứng kiến một kết thúc buồn, rất buồn. Người chết không nhắm mắt được, người sống không ngẩn cao đầu được Chúng tôi là những nụ hoa trái mùa, tàn héo ngay trước khi sung mãn nở.

Tôi đã kể cho thằng con nghe về quảng đời niên thiếu tôi đã trải qua, những ngôi trường tội nghiệp tôi đã học, những cảnh sống, những không khí muộn phiền của cả một giai đoạn, gần gũi và ảnh hưởng đến cả một thế hệ. Tôi đã cố gắng khôi hài hóa mọi chuyện cho bớt vẻ thảm thương, nhưng quả tình câu chuyện tự nó đã không mấy gì là phấn khởi. Dẫu sao, tôi đã kết luận với cháu, hết sức thật lòng từ trong tận cùng tâm khảm rằng: Con biết không? Đất nước mình đã có những lúc như vậy, thế hệ ba đã trưởng thành trong một điều kiện như vậy, tuy nhiên, ba sở dĩ làng nhàng, không giống ai tại vì ba dở, hay mơ mộng thơ thẩn với thi phú lại mê đấu tranh biểu tình, thức đêm thức hôm viết biểu ngữ, quay truyền đơn, vừa học vừa chạy rông ngoài đường, chưa kịp làm gì đã phải cầm súng ra mặt trận – hoàn cảnh đất nước có lúc đòi hỏi phải như thế, ba không ân hận gì về những điều đã làm – nhưng con phải nhớ, có biết bao các bác, các chú đã thành tài, đã hữu dụng từ những khởi đầu gian truân như vậy. Khó khăn không phải là trở lực nếu có ý chí và sống có mục đích, có lý tưởng. Bây giờ điều kiện khách quan con đã có, cái còn lại là tự chính con. Thằng bé ngồi nghe, rất nghiêm chỉnh và trân trọng.

Học khóa 1996-1997 bắt đầu với một không khí mới; không biết ở vùng khác ra sao, riêng tại trường Sharptown, học khu Haris County, lần đầu tiên kể từ ngày thành lập, học sinh được lệnh mặc đồng phục. Hôm khai giảng, thằng con tôi mặc cái áo pull trắng có cổ, cái quần màu vàng đất và xỏ đôi giày vía hiệu Nike, mang ba lô hăm hở đến trường với dáng vẻ lạc quan và phong thái tự tin của một người quen biết và rành rẽ với học đường và xã hội Mỹ. Tôi cũng lạc quan và tự tin nhìn chú nhóc con “du học sinh Việt Nam” hớn hở nói cười nhập vào đám bạn đủ màu da, quốc tịch ở trạm xe bus và nghĩ rằng hạt giống lép của một đất nước nghèo ở tít mù bên kia trái đất đang nẩy chồi, đâm lộc ở đây và sẽ có ngày cắm rễ, nở hoa, kết trái trên quê hương mình. Tôi tin chắc như vậy.

Bảy năm đã qua kể từ đêm từ giã bầy muỗi đông nghẹt ở rừng đước, ém người để bước lên con cá lớn gần cữa Cần Giờ, thằng con tôi đã cao thêm được hai tất và đã lớn lên rất nhiều về nhiều phương diện, có điều là khi được hỏi: Mai này lớn lên con sẽ làm gì? Bao giờ thằng bé cũng mau mắn và dứt khoát trả lời, giọng có chút đùa cợt nhưng tâm rất thật: Trở về mái nhà xưa. Cháu đã được chuẩn bị để trở về từ rất lâu trước lúc ra đi.

Thật tình, tôi đã có thể rời đất nước nhiều năm trước thực tế. Ngày tôi mới rời trại giam, nghe người ta rủ, tôi đã nhiều lần xuống Bà Rịa cho người ta lừa, bò lê bò càn ngoài sông Lam Sơn, Hải Sơn, Chu Hải, Láng Cát, chạy bán sống bán chết để tránh Công an; lãnh hàng trăm mũi gai chà là trong chân máu me lênh láng. Khổ lắm nhưng những dịp này đã giúp tôi học được một kinh nghiệm là nếu nổ lực và thực tâm, tổ chức vượt biên dễ ợt và tôi tổ chức. Cái đầu sĩ quan tác chiến của tôi ngó vậy mà còn xài được, tôi thắng một chuyến rồi nhiều chuyến vượt biên, đưa được nhiều người đi tìm đất sống. Lần nào tiễn một chuyến đi tôi cũng dùng một cái ghe mũi Thái Lan, loại ghe cao đầu, thon bụng và dài đòn, rẽ sóng rất tốt, gắng máy Kubota 13/16 chạy như gió, đưa anh em ra khỏi đèn trắng, vòng tới vòng lui chờ cho bạn bè khuất bóng mới lặng lẽ trở về.

Tôi đã sẵn sàng và có thừa điều kiện để ra đi, kẹt một cái là thằng con chưa biết nói tiếng mẹ đẻ, chưa nghe được tiếng hò ca dao, chưa thấy được cảnh “múc ánh trăng vàng đổ đi” những đêm trăng ra đồng tác nước, chưa hình dung được hình ảnh “ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao”, chưa biết được cái tự hào của một dân tộc nhỏ bé nhưng đã nhiều lần vùng lên đánh đuổi và chiến thắng ngoại xâm phương Bắc lớn mạnh hơn mình nhiều lần; chưa thấm được cái nghèo nhưng kiêu hãnh, cái khổ nhưng hào hùng, cái khó khăn nhưng tình nghĩa. Ngắn gọn là chưa cảm được trong hồn, chưa thấm được trong máu cái mùi quê hương, cái vị dân tộc. Nỡ lòng nào bứt thằng con ra khỏi cái nơi nó đã may mắn được sinh ra và là cái chốn nó phải mãi mãi thuộc về. Phải để cho thằng con đủ lớn để biết thế nào là đất tổ, là quê cha và tôi nấn ná chờ. Mẹ cháu cũng đồng lòng ủng hộ lựa chọn này và chúng tôi bắt đầu dạy thằng nhỏ.

Bạn bè quen thân, nhiều người, trách tôi đã bắt thằng con vát cây thánh giá quá nặng. Tôi biết nhưng không còn cách nào khác, lòng yêu mến quê hương, đã đành, là một tình cảm tự nhiên bàng bạc trong mỗi chúng ta nhưng nếu thiếu sự gợi nhắc, bồi đắp, tình cảm ấy sẽ không đủ nồng, đủ đậm. Chúng tôi không có nhiều thì giờ, cháu bé có thể chưa cần học chữ nghĩa nhưng nhất định nó phải học cái đạo nghĩa Á đông, tình nghĩa Việt Nam trước khi tạm biệt quê hương. Cháu cần sự quyến luyến đủ, để luôn nhớ tới và sự ràng buộc chặt, để có thể trở về. Công dân tí hon Việt Nam, tổ quốc bảo con phải cố gắng và ba mẹ sẽ giúp con.

Thằng bé chưa nói được đủ tiếng, đã bập bẹ hát “ Đây Bạch Đằng Giang sông hùng dũng của nòi giống, Tiên Rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng Nam Bắc Trung” rồi “Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người, làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam, làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian, hỡi những ai gục xuống ngoi dậy hùng cường đi lên”.

Cháu bưng chén bột gạo lức, để các trưởng hướng đạo nói chuyện với cháu: “Đứng trông cơm canh giờ này, cùng nhau nắm tay, bát cơm tuy vơi mà đầy, khổ cực đắng cay. Ăn trái xin nhớ người vun, uống nước nên vọng đến nguồn, bát cơm tuy vơi mà đầy, khổ cực đắng cay”. Cháu sợ những người hành khất dị tướng, không được, phải nói để cháu biết: “Thương người như thể thương thân” “Lá lành đùm lá rách”.Thấy một em bé dắt người cha mù qua đường, “Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa” sẽ đến với cháu ngay.

Cứ như thế, thằng con tôi học yêu thương, học làm người. Thằng bé cầm cây kiếm nhựa múa may, đừng phí phạm thì giờ, cứ để cháu chơi cho vui nhưng phải nói với cháu về ông Đặng Dung mài gươm dưới nguyệt, về ông Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm, ông Lê Lợi mười năm kháng chiến, đánh cho tướng giặc phải “quì mà xin lỗi…chạy về Tàu còn vã mồ hôi”. Thằng bé hiểu được chút đỉnh, cháu rạng rỡ, hãnh diện về những khúc vinh sử của dân tộc, phải tiếp tục. Cháu ngụp lặn vui đùa giữa giòng nước mát, chơi với cháu nhưng phải giới thiệu cho cháu biết ông Yết Kiêu, Dã Tượng, phải cùng cháu ôn lại chiến công của Ngô Quyền dìm thuyền giặc nghẹt cửa Bạch Đằng, về đạo thủy quân áo vải cờ đào vang danh ở Rạch Gầm, Soài Mút. Hãy để cháu cỡi ngựa tàu cau, chơi trò cút bắt nhưng phải nói với cháu về Đinh Bộ Lĩnh tập trận cờ lau, về Trần Quốc Toản “ Phá cường địch báo hoàng ân”, về Trần Bình Trọng “Ta thà làm quỉ nước Nam…”

Thằng con tôi ốm yếu lắm, từ hai ký mốt, nhờ bột gạo lức Bích Chi cháu nhích từng trăm gram một, rồi lớn lên một chút cháu sống bằng cơm hẩm gạo mục tiêu chuẩn phường khóm nhưng không sao đâu, mặt thịt thân mỡ làm gì, miễn sao có khối óc đủ cứng, trái tim đủ nồng và tấm lòng đủ rộng là được rồi. Ráng lên, thằng con, học sử mệt rồi thì hát lên đi, ngâm thơ đi, muốn ông Nguyễn Công Trứ “Kinh luân khởi tâm thượng” cũng được; muốn ông Yên Thao “ống quần nâu đã vá mụn giang hồ, chắp tay súng ta mơ về Nguyễn Huệ” cũng được; muốn ông Quang Dũng “Đôi mắt người Sơn Tây, u uẩn chiều lưu lạc” cũng được; thậm chí muốn cổ một chút, muốn chia xẻ thời vàng son của cái nôi văn hóa Đông phương “Chúng điểu cao phi tận, cô vân độc khứ nhàn…” “Thương nữ bất tri vong quốc hận, quá giang do xướng hậu đình hoa” cũng không sao; có điều là muốn gì thì muốn, nhưng đừng bao giờ quên hai bản tuyên ngôn độc lập ngời ngời khí thế và chất ngất tự hào của dân tôc: Nam quốc sơn hà Nam đế cư của Lý thường Kiệt và Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, nhớ nhé, thằng con.

Lịch sử chúng ta đâu chỉ có những anh hùng, ba me sẽ thiếu sót và đắc tội lắm nếu như không kể cho con nghe về các anh thư, liệt nữ: Hãy nghe me nói về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Bùi thị Xuân và gần đây thôi, Cô Giang, Cô Bắc. Học đi rồi theo ba về nội chơi. Trong sáu năm, tôi đã đưa cháu từ Nam ra Trung nhiều lần, cái tuyến đường có bảy trăm cây số ấy nhiều khi phải đi trong hai ba ngày, ngủ đường ngủ sá, chịu nóng chịu lạnh gian nan cực khổ lắm; còn cái đoạn đường từ Qui Nhơn về xóm nghèo Tăng Vinh của tôi nữa, mười chín cây số chứ có xa xôi gì, vậy mà phải chuyển từ xe hàng chật cứng, qua xe Lam cá kèo và lội sông, đi bộ nữa, khổ lắm nhưng thằng con tôi rất vui, chưa bao giờ cháu có ý than van hay giễu cợt về sự nghèo nàn, lạc hậu của quê hương mình mà luôn nhắc đến với lòng ngậm ngùi, chia xẻ. Cháu hồn nhiên chạy chơi trên đồng, mình trần chân đất nhảy tõm xuống sông; lang thang đi hái chà là sim núi trên gò; ngồi chồm hổm trên phản gõ ăn cơm gạo giã bằng tay; húp canh lá giang, lá bác bờ rào; nghe bà nội kể chuyện con Tấm con Cám, Thạch Sanh Lý Thông, theo anh em bắn bi, chọi vụ. Tôi vui mừng và an tâm lắm.

Xong rồi, người bạn trẻ đã có tạm tạm một chút trang bị tinh thần đủ để có thể chu du thiên hạ một thời gian, tu luyện thêm “công lực” chờ ngày về “hiến thân dưới cờ”. Chúng tôi hăng hái dẫn cháu xuống tàu vượt biển dù có biết đảo đã đóng cửa và mọi người phải bị thanh lọc. Đâu có sao, thứ thiệt mà, bảy năm tù, không hộ khẩu, không chứng minh nhân dân, đủ chưa, làm ơn phân loại lẹ lẹ giùm cho tôi lên đường. Tôi đã nghĩ như vậy nhưng thực tế không phải như vậy, người anh em lạnh lùng ngoảnh mặt, bộ máy thư lại nhúc nhích từng bước một và cái mà tôi gọi đơn giản là phân loại phải bốn năm sau mới đụng đến hồ sơ của tôi. Đau thật nhưng cũng không sao, tôi đã nói là người bạn trẻ chỉ mới được trang bị tạm tạm thôi mà, hãy để cái xóm nghèo Việt Nam ở Bidong; cái cuốn rún nối dài cuối cùng của tổ quốc ở xứ người này dạy thêm cho cháu.

Thằng con đến trường học, thằng cha vuốt thẳng thớm bộ đồ quá khổ khối xã hội cấp phát, cạo râu, chải tóc, đóng vai “nhân sĩ cộng đồng” đến gặp cố vấn người Úc, trưởng phòng người Mã và hiệu trưởng người Việt để giải thích ý nghĩa, phân tích lợi ích và thuyết phục các giới chức có trách nhiệm ghi phần “Lời hay ý đẹp” vào chương trình giảng dạy ở tất cả các lớp bậc tiểu học và trong suốt nhiều năm ở Bidong, thằng con tôi cùng bạn bè của cháu đã được nuôi lớn bằng lời hay ý đẹp như cha mẹ nó và thế hệ chú bác của nó đã từng được nuôi lớn bằng nhật tụng nhiều năm trước.

Năm năm đã qua, thằng con tôi có được cái chứng chỉ tiểu học song ngữ, một chút thơ phú và tục ngữ ca dao, một ít nhạc khúc đấu tranh, một ít lịch sử, một ít gương sáng cổ kim, một ít kinh nghiệm khó khăn thiếu thốn cọng thêm hai bộ “kinh điển” Tâm Hồn Cao Thượng và Dưới Mái Học Đường nữa là ngon lành. Thằng nhỏ vững vàng như một “cao tăng đắc đạo” không sợ bị ngoại cảnh chi phối, tôi an lòng dẫn cháu tới Mỹ.

Tôi xin gởi lời thực tâm cảm ơn quí ông thi sĩ, nhạc sĩ, quí vị đã gúp tôi dạy thằng cháu, giữ cho cháu chút hình ảnh quê hương, nuôi cho cháu cái tình tự dân tộc. Một câu hát, một ý thơ, đôi khi, có giá trị bằng nhiều lời nói: “Dù nơi xứ người lụa là phủ thân, nào hơn quê ta muôn đời hoa gấm, nam nhi bảy thước tay súng với tay cờ, lời nguyền xưa vang trong tim ta rực lửa”. Thằng con tôi vẫn thường hát khúc ca này và những khi đó, mặt cháu rạng rỡ nhưng hai mắt mơ màng như đang “mơ làm người Quang Trung”. Có lần cháu dành nguyên một sáng Chúa nhật, nắng nót viết gởi cho bà cô bên nhà một bài thơ dài của Trần Trung Đạo, cháu thuộc hết nhưng tôi thì không được như vậy, chỉ nhớ đại khái là:

Tôi mơ ước mai này khi thức dậy,
Bỗng thấy mình đang đứng giữa quê hương,
Con chim nhỏ hót mừng tôi trở lại,
Quảng đường quen rực sáng nắng sân trường.
. . . . . . . . . . . . .
Cho tôi làm bụi cỏ mọc ven đê,
Để mỗi sáng thở mùi thơm lúa chín
Lỡ mai xa tôi nhớ lối quay về.

Thằng con tôi thích thơ và nhạc vô cùng, cháu được nuôi lớn bằng ca dao, câu hò, giọng hát mà; tuy vậy, cháu chưa biết coi Linda Trang Đài, Trizzi Phương Trinh hát nhạc kích động. Hồi mới qua đây, sợ thằng con quên hình ảnh quê hương và câu hát giọng hò dân tộc, tôi lục trong núi băng truyền hình ở nhà bà chị, lựa ra những Ngọn Cờ Quyết Tử, Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi, Mùa Xuân Nào Ta Về để cùng coi với cháu. Tôi thực sự vui mừng thấy cháu chăm chú theo dõi với ánh mắt rạng rỡ tươi vui hình ảnh duyệt binh 19 – 6; và chăm chú lắng nghe cô Ngọc Xuân nói chuyện nước non theo lời viết xuất thần của ông Duyên Anh. Những lúc sau này, thấy người ta nói là cách mạng y phục, bận áo dài hở tay, hở lưng, quái thú dị hình, dàn dựng những chương thình có thể tân kỳ, mới lạ theo một cách nhìn nào đó nhưng mất đi rất nhiều màu sắc dân tộc, tôi không còn mấy thích thú với loại băng này nữa và cháu cũng vậy.

Bây giờ suốt ngày thằng nhỏ chỉ nghêu ngao hát tới hát lui những bản nhạc đại khái như: “Từ ngàn trùng xa, ai vẫn hát vang lời Việt Nam. Nhìn về đại dương, ta thấy hướng quê nhà ở đó ” hoặc “Hỡi những bước chân Việt Nam lưu vong đang con phiêu du trên thế giới. Hãy cất tiếng ca cùng tôi câu ca mang tình thương gởi tới quê nhà”. Thằng con tôi thích nhạc Trầm Tử Thiêng lắm, dường như lời hát đã đi thẳng từ trái tim người viết đến tim người nghe, và phải có một tấm lòng rộng lắm và một trái tim nồng nàng lắm mới cỏ thể viết được những lời ca làm quặn thắt tim gan người ta đến như vậy.

Mới đây thằng con tôi bắt chước cô Ngọc Lan và ông Duy Khánh hát: “Hình bóng cố hương ngàn năm, gọi ta như sóng xô bờ, thành những bước chân mộng du, men theo lối về quê cũ. Để nghe con sông con suối, với mái tranh cây đa đầu làng, cùng trách những câu thật đau, người đi đi mãi mới về”; nó chạy lại ôm vai mẹ và nhìn tôi vừa cười vừa nói: “ Chỉ huy trưởng coi lại đi, không khéo có ngày “chúng mình ba đứa” sẽ bị cây đa đầu làng bảo là “người đi đi mãi không về” thì đau lắm.

Tôi vui mừng quá đỗi, ít nhất cho đến bây giờ, khi sắp thành công dân Hoa Kỳ theo thủ tục, thằng con tôi vẫn còn nguyên vẹn trái tim Việt Nam. Tuy nhiên, tôi không phải là người quá lạc quan, cũng không phải là người không nhận ra được những thực tế; có thể một lúc nào đó, mọi việc sẽ đổi khác. Tôi đã tiên liệu điều này và đã có sẵn một hạ sách: Nếu có ngày nào thằng con nói muốn ở lại xứ này, tôi sẽ không cấm cản nhưng sẽ nói với cháu: Con muốn ở đâu cũng được, nhưng mai kia mốt nọ khi ba me đến trăm tuổi già, con nhớ mang chút tro tàn của ba me về xó núi Tăng Vinh, ba sinh ra ở đó và muốn trở về nơi đó.

Tôi biết chắc, nếu tôi nói như trên, thằng con tôi sẽ trở về, nó không nỡ để “hai người bạn già” ở xa xôi cách biệt như vậy. Tuy nhiên, tôi thực tâm không bao giờ muốn nói điều này, tôi đã nói là hạ sách mà. Tôi không muốn tạo ra bất cứ áp lực nào cho cháu, dù chỉ là áp lực tâm lý hay tình cảm. Tôi muốn cháu có những lựa chọn và kết luận hoàn toàn tự do, từ một khối óc sáng suốt và một trái tim độc lập rằng: mãi mãi cháu thuộc về nơi ấy, quê hương !

Thảo luận cho bài: "Chuyện Dông Dài Của Một Người Cha Hay Lo"