Chuyện nhỏ trên thành cổ

Tác giả:

Kính viếng hương hồn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. 

Thành cổ. Nắng. Cái nắng quái cuối chiều tháng Tám không đủ sức làm người ta phát điên lên như lúc giữa trưa, nhưng vẫn khá gay gắt hành hạ những kẻ có lượng mỡ nhiều hơn mức cho phép. Toà thành sừng sững, uy nghi trong ráng chiều ngột ngạt sặc mùi mồ hôi, mùi cống rãnh, mùi nước hoa rẻ tiền các loại của khách thập phương. Thỉnh thoảng, một cơn gió thổi hắt lên từ sông Vixoa(*) mang theo mùi bùn tanh nồng. Gió chui qua vòm nhà, gió lùa theo các hành lang dài hun hút, âm u, tạo nên những tiếng ù ù, rờn rợn, ma quái. Người tứ xứ lũ lượt kéo đến đây chiêm ngưỡng một chút vết tích còn sót lại mang dáng dấp thời trung cổ.
Ngồi nhâm nhi vại bia thứ ba bên chiếc bàn gỗ sồi đã lên nước bóng nhoáng vì mồ hôi người, vì gió bụi thời gian, kê chỏng gọng ở góc sân, hắn thản nhiên nhìn đám người xa lạ đang khó nhọc đánh vật với cái nóng. Đã hơn một lần hắn tự hỏi, chả hiểu bọn người kia phải nhọc công để xem cái của giả này làm gì. Ai mà chẳng biết cái thành cổ này là đồ nhái lại, vì từ viên gạch lát đường cũng bị phá huỷ tan nát trong thời thế chiến II rồi còn gì? Cuộc đời thì ngắn ngủi, mà con người ta lại mất quá nhiều thời gian vào những trò vô bổ, nhiều khi chỉ để tự lừa dôí chính mình.
Hắn vẫn thường lang thang ở đây vào những lúc rảnh rỗi, khi những gã cùng nhà với hắn chúi mũi vào đám tá lả hay vui vầy bên những cô gái điếm rẻ tiền. Vốn là một giáo viên dạy văn, hắn vẫn giữ được nếp sống mô phạm, tâm hồn đa sầu đa cảm kiểu quân tử Tầu pha nét nghệ sĩ, lãng tử mà nhiều người cho là lập dị. Hắn tìm cảm hứng sáng tạo, nhiều tứ thơ, áng văn, nốt nhạc đã loé lên ở đây, giữa cái đám nhân gian hổ lốn, nhặng xị này. Hôm nay là ngày cuối tuần, lại đang mùa du lịch nên có vẻ đông đúc hơn thường lệ. Dãy bàn phía bên trái là đám du khách người Đức và Mĩ. Các bà , các cô chỉ mặc độc cái coọc xê, hút thuốc phả khói inh như cháy nhà. Lũ đàn ông trần trùng trục phơi tấm thân lông lá đỏ như tôm luộc, hăng hái nốc bia ừng ực, nhồm nhoàm nhai gà quay và chăm chỉ đánh mắt một cách thích thú sang dãy bàn sau lưng hắn. Ở đó tụ tập một tụi choai choai hippi, điềm nhiên gí bật lửa hơ vào tấm giấy bạc trên có thứ bột trăng trắng rồi chuyền nhau hít. Mấy đứa con gái ăn mặc theo lối con nhà nghèo, tiết kiệm vải đến mức tối đa nhưng lại khá thừa thãi vòng khuyên xâu nhằng nhịt hai bên vành tai, cánh mũi và xuống tận rốn. Chừng như đã phê, chúng nằm ườn trên bàn, mắt lim dim, thỉnh thoảng rên rỉ, người cong lên khi những ngón tay của lũ trai dạo chơi cật lực dọc theo đùi non, tiến vào khu cấm địa. Vài bà già cổ đeo thánh giá to tướng, lia lịa làm dấu thánh, lấy tay che mặt, quay vội đi nơi khác.
Chợt tiếng nhạc ồn ĩ nổi lên từ phía cổng thành. Một ban nhạc rong đang tiến vào sân, hai ghi ta gỗ khua rổn rảng, một xăc xô phôn tí te, hai cô vũ nữ ngực đùi ngồn ngộn mặc váy xoè. Phường bát âm nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí ngay sát hàng rào trước quán BAR. Nhạc nổi lên, vẫn lại giai điệu muôn thuở của dân Ba lan :” Sto lat, sto lat…”(**). Hai vũ nữ kiêm ca sĩ hát the thé, bù lại được khoản lắc mông, đánh ngực khá nhiệt tình, chân tay khua loạn xạ. Loáng thoáng đã có những đồng xu được ném ra từ đám thực khách, uể oải rơi vào chiếc hộp nằm tênh hênh trước mặt ban nhạc. Gã người Mĩ có cái bụng bự khiến người khác phải lập tức kính trọng hét lên một cách khó nhọc: ”Chơi bài gì tiếng Anh đi, chúng tao không hiểu tiếng Ba lan.” Nhận ra sự có mặt của mấy ông khách ngoại quốc, ban nhạc dừng lại hội ý. Sau giây lát, họ cử bài ”Chú Hà mã vui tính”. Lại hai cái giọng the thé cất lên, hai cái mông, cái ngực giật một cách hớn hở. Để tăng phần hấp dẫn, thỉnh thoảng hai đôi chân tròn quay tít vài vòng làm chiếc váy xoè tốc ngược lên cao. Bọn đàn ông phát cuồng, hò hét, huýt sáo ỏm tỏi. Bài hát vừa dứt, gã có cái bụng rất đáng kính trọng lặc lè tiến về phía ban nhạc, theo sau là một tay cũng có cái bụng không kém phần hùng dũng. Ôm nghiến lấy hai cô vũ nữ, loay hoay một lúc, chúng cũng nhét được vào ngực mỗi cô tờ 10 đô la trong tiếng hò hét , huýt sáo om xòm của đám đông.
Ngán ngẩm với tấn bi hài kịch đang diễn ra, hắn tính móc tiền thanh toán mấy cốc bia. Chợt tiếng trẻ con khóc ré lên. Hai người đàn bà, một già, một trẻ, quần áo xộc xệch, lem nhem, trên tay ẵm hai đứa trẻ tiến vào quán. Trước ngực họ đeo tấm biển:” Chúng tôi là nạn nhân chiến tranh từ Kosovo. Vì Chúa, xin hãy giúp đỡ, cứu vớt lũ trẻ, chúng đói!.” Đứa con gái chừng độ gần một tuổi, quờ quạng, nhay nhay bầu vú của người mẹ, rồi nhả ra, khóc ngằn ngặt, giọng khản đặc vì khát sữa. Thằng anh độ ba tuổi, ngồi trên tay bà, đôi mắt đờ đẫn mệt mỏi, chán chường, chắc nó không còn sức để khóc nữa.
Đôi mắt! Hắn đã gặp đôi mắt vô hồn này ở đâu rồi nhỉ? Ôi, chiến tranh! Chiến tranh! Hắn đờ người, bải hoải. Từ một miền sâu thẳm trong tâm thức, kí ức thấp thoáng hiện về. Hắn nhìn thấy những khu nhà đổ nát hoang tàn, những xóm làng, thành phố bị huỷ diệt. Những đống xác người, những đôi mắt trẻ thơ vuốt bao lần không chịu khép…
Rồi kí ức đưa hắn về một mùa hè đỏ lửa: Thành cổ Quảng Trị 1972

“Đại bác đêm đêm vọng về thành phố. Người phu quét đường dừng chổi lắng nghe. Đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy. Đại bác qua đây em thơ buồn tủi…” Có tiếng hát văng vẳng lúc xa, lúc gần, chập chờn bên tai, nghe hư ảo như từ cõi khác vọng về. Người lính bị thương mở mắt.. Đen ngòm. Đầu hắn đau buốt. Hắn cố nhúc nhắc hai tay. Hắn thử cử động hai chân.Chúng động đậy. Một chút thôi, nhưng động đậy. Ồ, thì ra hắn còn sống! Hắn nghe ngóng thấy một bên chân tê dại có cái gì chạy giần giật. Vẫn biết đau, nghĩa là hắn chưa chết. Hắn thấy ngạt thở như bị vật gì đè lên. Thu hết chút tàn lực, hắn cựa mình, đưa tay đẩy cái vật nặng trịch đè trên mặt, ngoi đầu lên.Một quầng sáng trắng gắt chói chang-mặt trời. Hắn nhắm nghiền mắt lại rồi hé ra từ từ. Bây giờ hắn có thể nhìn thấy những gì chung quanh. Hắn đang nằm giữa một đống xác người. Cái vật đè lên làm hắn nghẹt thở cũng là một cái xác. Cái xác không đầu, chỉ còn từ phần vai trở xuống.
Hắn đưa mắt nhìn quanh. Bầu trời trong vắt, những đám mây trắng bồng bềnh, mặt trời đỏ rực đang ngả về tây. Im ắng, tĩnh lặng. Nếu không có những đống xác người nằm ngổn ngang trên mặt đất bị cày xới nhằng nhịt, nát bét bởi những hố bom, hố pháo, tiếng ruôi nhặng vo ve và tiếng kêu “ quà quà” của bầy quạ đen đang tranh ăn thì hắn cứ ngỡ như đang nằm trên lưng trâu nghe tiếng sáo diều vi vút ở cánh đồng làng, chứ không phải ở tận đây- cái cối xay thịt khổng lồ, nơi mà hắn đã ngã xuống trong tiếng thét xung phong dậy đất, át cả tiếng gầm gào của đạn bom. 
“ Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng. Hàng vạn tấn bom trút xuống thị thành. Trẻ em quên sống, từng đêm nghe ngóng…” 
Tiếng hát lại cất lên đâu đây, tiếng hát thật, tiếng người, chứ không phải hắn nghe thấy trong mơ. Nhưng đó là tiếng hát đi cùng tiếng rên rỉ, phều phào, yếu ớt.
Hắn lết người về phía có tiếng hát. Đây rồi, bên cạnh hố bom sâu hoắm, một xác người- không, một người vẫn còn sống nằm trong vũng máu, phần bụng bị phá vỡ toang hoác bằng miệng bát, phòi ruột ra ngoài. Từ nơi đó những chiếc bong bóng máu đỏ ngầu cứ phập phồng rồi vỡ ra theo tiếng hát. Hắn khựng lại, một tên lính phía bên kia. Hắn nhận ra bởi bộ quân phục nhiều túi đã nát bươm mà kẻ kia đang khoác trên người.Hắn bất giác lần tay vào thắt lưng, rút con dao găm. Rồi cố bò lại gần hơn.
Tiếng hát ngừng bặt. Tên lính bị thương dường như đã nhận ra sự có mặt của hắn. Đôi mắt đờ đẫn hướng về cái hình hài bê bết máu dang tiến lại gần, tay lăm lăm con dao sáng quắc. Hắn cũng chăm chú nhìn tên lính. Một khuôn mặt trẻ măng- chỉ trạc đôi mươi, cỡ tuổi hắn- trắng xanh, nhợt nhạt vì mất nhiều máu, đôi môi khô khốc, nứt nẻ, xám ngoét. Bốn mắt chạm nhau.
Mắt tên lính bị thương bỗng sáng lên khi nhận ra hắn đang lại gần ,ngạc nhiên, mừng rỡ, tuyệt không có một ánh hận thù nào loé lên trong đôi mắt ấy. Và thật bất ngờ, không một chút nghi ngờ, không một chút sợ hãi, nó nhoẻn miệng cười. Nụ cười làm sáng lên khuôn mặt nhợt nhạt vì mất máu.
Hắn khựng lại. Hắn nhìn người lính nọ. Nhìn con dao trong tay. Và cũng thật bất ngờ, hắn cười như điên dại, mặc cho máu trào ra từ những vết thương đang quặn đau, nước mắt dàn dụa. Vứt con dao, hắn luýnh quýnh tìm gói bông băng cá nhân, loay hoay nhét đám ruột vào, băng bó cho người lính phía bên kia. Vẫn giữ nguyên nụ cười trẻ thơ, người lính khẽ lắc đầu:” Đừng, vô ích thôi, tôi biết tôi không sống được nữa đâu. Anh hãy tự băng cho mình, máu ra nhiều quá rồi đấy. Khát quá, anh cho tôi miếng nước.”
Hắn lại lục tìm trong đống xác chết hỗn độn, bầy nhầy, không còn phân biệt được bên nào với bên nào, tìm được một cái bi đông.Hắn lắc nhẹ, thấy có tiếng nước óc ách. Hài lòng, hắn nâng đầu người lính bị thương lên, bón cho anh ta từng ngụm nhỏ.. Chừng đỡ khát, người lính nhờ hắn đỡ cho ngồi, bàn tay run run lần tìm trong chiếc xà cột bên hông một quyển vở “Nếu anh còn sống, nhờ anh chuyển giùm cho má tôi cuốn vở- hắn thều thào- Trong đó tôi ghi nhật kí và những bài hát mà tôi sáng tác . May mà chúng ta còn gặp nhau. Nhìn kìa, đúng là một cuộc nồi da nấu thịt. Cho đến giờ, khi sắp về với đất, tôi vẫn không hiểu, chúng ta- NGƯỜI VIỆT NAM CẢ- chúng ta giết lẫn nhau, để làm gì?”
Một cơn ho rũ rượi cắt ngang , người lính phía bên kia thở dốc, những cái bong bóng máu đỏ ngầu lại phòi ra. Mặt anh dại đi giây lát vì đau đớn, chỉ có đôi mắt buồn mênh mang, ôm trọn nỗi đau trần thế là còn tỉnh táo. Cái tỉnh táo của một con chim hót những tiếng cuối cùng trước khi vĩnh biệt cuộc đời. Tay run run mở quyển vở, người lính chỉ vào một bài hát:” Đây là bài hát cuối cùng của tôi. Anh có muốn tôi hát cho anh nghe không?”. Hắn gật đầu. Người lính cất tiếng hát bằng một thứ giọng trầm buồn:
Anh nằm xuống, sau một lần đã đến đây. Đã vui chơi trong bầu trời này, đã bay cao trong vòm trời này, rồi nằm xuống, không bè bạn, không có ai…
Xin cho một người vừa nằm xuống, thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang…
 
Không rõ từ lúc nào, hắn cất giọng hát theo. Trời ngả về chiều, bóng nắng đã nhàn nhạt, mặt trời dần khuất sau rặng núi phía xa. Tĩnh lặng, yên ắng. Dường như chiến tranh chưa bao giờ đi qua đây. Đàn quạ đã no nê xác người không còn tranh ăn nữa, nặng nề bay về tổ. Tĩnh lặng, yên ắng đến ghê rợn. Sự yên ắng trước một cơn dông bão. Đây đó rải rác những đống xác người. Có hai thằng lính ở hai chiến tuyến ngồi hát say sưa. Chúng quên mất tử thần đã cầm lưỡi hái đứng ngấp nghé sau lưng. Tử thần chống lưỡi hái, say sưa nghe chúng hát, mắt lim dim, mơ màng trên những đống xác người. Rất nhiều đống xác người.
Đang mải hát người lính phía bên kia sực tỉnh, hốt hoảng giục hắn:” Anh đi khỏi nơi này đi. Trước khi bọn nhặt xác tới, thể nào pháo bầy cũng giội vào đây đấy. Mặc tôi, đi đi, nhanh lên!”
Hắn lắc đầu! Hắn không thể bỏ người lính nọ nằm lại một mình. Cũng không thể dìu anh đi được, vì bản thân hắn cũng thương tích đầy người, một bên chân dập nát. Hắn sẽ ngồi lại đây với anh ta, muốn ra sao thì ra. Nếu một trong hai người chêt trước thì vẫn còn người này vuốt mắt cho người kia, hắn buồn rầu nghĩ. “ Cạch… ầm, cạch… ầm”, tiếng đề pa và tiếng pháo nổ chát chúa vang lên. Mặt đất rung chuyển mạnh, chao đảo. Đất vụn lẫn với mảnh xác văng tung toé. Người lính nhoài lên nắm lấy bàn tay hắn, siết chặt rồi bất ngờ đạp mạnh vào hắn. Hắn vừa kịp ngã lộn xuống hố bom thì “ầm”, một trái đạn pháo rơi ngay vào chỗ hắn vừa ngồi. Khói, bụi mù mịt, hắn cố mở đôi mắt cay xè nhìn sang, nơi hắn và người lính vừa nằm đã biến thành một hố sâu hoắm. Người lính đã trở về với Cát bụi… 
Trong đoàn quân tiến vào Sài gòn không có hắn. Đồng đội đã tìm được hắn nằm thoi thóp dưới lòng hố bom, bàn tay nắm chặt quyển vở nhầy nhụa máu. 
Tháng 10-1975 hắn vào Sài gòn, tìm đến nhà Sơn( tên người lính). Má Sơn đã mất, chỉ còn hai người em gái. Thắp ba nén nhang khấn Sơn, trao lại quyển vở- kỉ vật của người đã khuất. Hắn khóc nức nở. Trước hôm hắn lên đường ra Bắc, em gái Sơn nắm tay hắn, run run:” Đêm qua anh Hai em về báo mộng, biểu tụi em trao lại cuốn tập này cho anh. Không ai xứng đáng hơn anh để giữ nó.”
Ra Hà nội, học nốt hai năm cuối Sư phạm văn. Hắn đi dạy học, tối tối học nhạc ở một lớp nghệ thuật quần chúng, bộ môn kèn săc sô phôn. Hắn lân la làm quen với giới văn nghệ sĩ, đưa họ hát những bài hát của Sơn. Người ta yêu tiếng kèn của hắn lắm, nhất là khi hắn chơi những bài do Sơn sáng tác. Khi thổi những bài đó, hắn để cả tâm hồn cho kỉ niệm.
Ở trường, hắn là giáo viên dạy giỏi, hắn từ chối không dạy mảng văn học chống Mĩ, mà xin dạy mảng văn học cổ làm mọi người đều khó hiểu, bởi lẽ ra một người đã từng lăn lộn, gửi một phần xương máu ở chiến trường thì phải tâm đắc với đề tài này lắm chứ. Mặc cho mọi người xì xào, hắn lẳng lặng làm phần việc của mình. Thế rồi một hôm, ông hiệu trưởng đích thân mời hắn vào phòng gặp riêng, giọng cầu khẩn:” Ngày mai có đoàn của sở về dự giờ, cậu Tâm giáo viên dạy giỏi thì lại ốm nặng. Lịch đã lên rồi, không thể hoãn lại được. Nhà trường chỉ còn trông chờ vào cậu nữa thôi. Cậu cố giúp bọn mình một tiết nhé!” “Gay đấy- hắn chần chừ- mảng của Tâm là văn học thời chống Mĩ, tôi không đảm đương được đâu.”. “Cậu chỉ khiêm tốn. Hịch tướng sĩ, Bình ngô đại cáo cậu giảng bốc lửa, có hồn như thế thì mấy bài thơ vặt kia có gì mà khó khăn. Thôi, cố lên, coi như là cậu giúp mình đi!”. “ Được, nếu anh đã ép thì tôi đành chịu. Song tôi sợ sẽ làm anh thất vọng.”. Đêm đó hắn không ngủ, lôi kèn ra, hắn lại thổi những bài của Sơn và ngồi chờ trời sáng.
Chưa bao giờ hắn giảng say sưa, có hồn như hôm đó. Những đoạn nói về sự hi sinh xương máu của các chiến sĩ, của nhân dân, thực sự hắn xuất thần, mắt hắn ngấn lệ. Tụi học sinh và các vị ở Sở về vỗ tay đến mấy lần, nhiều người rút khăn mùi soa chấm nước mắt . Cả lớp học lặng đi. Bình xong câu thơ cuối cùng, khi những bàn tay đã giơ lên định đập vào nhau bôm bốp, hắn ra hiệu xin một phút im lặng, rồi nghẹn ngào:” Các con!Những điều ta vừa nói , đó là theo sách vở. Rồi thế hệ các con sẽ quyết định vận mệnh của đất nước, dân tộc. Rất có thể, trong số các con sẽ có đứa làm tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng…Ta muốn các con nhớ một điều, điều này, đáng tiếc, không có trong giáo án, nhưng mãi mãi là chân lí: Trong mọi cuộc chiến tranh, chiến tranh nào cũng vậy, không có kẻ thắng. Nhưng bao giờ cũng có một kẻ bại, một kẻ bại duy nhất- là nhân dân. Nếu có một ngày, các con trở thành ông nọ, bà kia, các con phải biết yêu đất nước, thương nhân dân bằng cả trái tim mình. Đừng lừa dối nhân dân bằng những lời nói suông. Nhân dân rất sáng suốt. Người ta biết ai là người trung thực và kẻ nào là tên bịp bợm. Hãy nhớ lời Nguyễn Trãi” Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. 
Lớp học lặng đi, các vị ở Sở há mồm nhìn nhau, tụi học sinh ngập ngừng giây lát rồi đồng loạt vỗ tay như vỡ trời. Chúng vỗ tay để vĩnh biệt người thầy thân yêu. Quả thật, sau tiết học đó, hắn bay rất nhanh từ giảng đường ra… vỉa hè chợ Giời phụ thằng bạn buôn bán lặt vặt. Thế rồi hắn lưu lạc sang đất này…
…Tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt vì đói lôi hắn ra khỏi dòng hồi tưởng. Hai người đàn bà bế tụi trẻ đến từng bàn, họ lắp bắp khẩn cầu đám đông rủ lòng thương. Đám du khách tảng lờ quay mặt đi.. Nhiều kẻ còn chau mày, chun mũi ghê tởm cái mùi hôi hám bốc ra từ những con người khốn khổ.
Hắn đứng dậy, rẽ đám đông, tiến đến đỡ tụi trẻ và hai người đàn bà về bàn mình, đoạn vẫy tay gọi cô hầu bàn phốp pháp có bộ ngực bốc lửa lại nói nhỏ. Cô nhoẻn cười. Hắn là khách quen của cô, và là khách hào phóng. Cô mỉm cười đi nhanh vào phía trong quán. Ngay lập tức, những đĩa thức ăn nóng hổi được bầy lên bàn, trước mặt những người hành khất khốn khổ. Mắt hai đứa trẻ sáng lên, chúng ăn ngấu nghiến, không kịp đợi bón. Hắn thò tay vào túi. Thôi chết, ít quá, nếu trả tiền bữa ăn thì còn lại chẳng là bao. Hắn không có thói quen mang nhiều tiền theo người. Sau giây lát suy tính, hắn đứng bật dậy, tiến về phía ban nhạc. Mọi con mắt đổ dồn theo từng bước đi của hắn. Từ khi đón hai người đàn bà và tụi trẻ về bàn mình, hắn đã là trung tâm của sự chú ý. Ban nhạc cũng đã ngừng chơi từ lâu, ngơ ngẩn đứng nhìn. Hắn nói điều gì đó với người nhạc công , anh này ngạc nhiên nhìn hắn rồi trao cây kèn săc sô phôn.
Hắn nâng niu đưa tay vuốt cây kèn, rồi thành kính đưa lên môi. Tiếng kèn vút lên, chơi vơi. Ô “ My heart will go on”! Một vài kẻ nhanh miệng khi nhận ra âm thanh quen thuộc thì lập tức im bặt bởi tiếng suỵt của đám đông.
Tiếng sóng biển rì rào, tiếng gió. Đại dương bao la, con tàu TITANIC bập bềnh. Từng đôi dìu nhau say mê trong điệu vũ lả lơi, cuồng nhiệt. Tiếng kèn rủ rỉ như lời tâm sự ở cung bậc trầm. Biển hiền hoà, nhân từ quá, nghe rõ cả tiếng hải âu vỗ cánh lao xao đỗ xuống boong tàu.
Chợt tiếng kèn lặng đi trong giây lát rồi bùng lên dữ dội, gấp gáp. Mưa, mưa quất xối xả. Con tàu oằn oại đâm vào núi băng. Nước tràn vào ồng ộc, tiếng kêu la tuyệt vọng. Tiếng kèn rúc lên, gấp gáp, khẩn thiết, những bàn tay quờ quạng tuyệt vọng trong nỗ lực cuối cùng để rồi chìm nghỉm dưới làn nước băng giá.
Tiếng kèn chơi vơi, biển lại hiện lên hiền hoà- Một vẻ hiền hoà man rợ với những xác người lềnh bềnh, dập dềnh theo nhịp sóng.
Nốt nhạc cuối cùng vừa dứt, hắn mở mắt ra. Mọi người trong quán BAR đã đứng dây tự lúc nào. Tất cả lặng đi, mắt long lanh xúc động. Tiếng vỗ tay nhất loạt nổi lên như sấm, tiếng hò la tán thưởng vang dậy.
Sau giây lát nghỉ lấy hơi, hắn laị đưa kèn lên môi. Tiếng hò hét, vỗ tay ngừng bặt, chỉ còn lại sự tĩnh lặng bao phủ khắp sân thành.
Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về. Gọi hồn liễu rủ lê thê. Gọi bờ cát trắng say mê.
Đám đông lặng đi, đờ đẫn. Cả bầu không gian im ắng của khu thành cổ buổi chiều tà vỡ oà ra trong tiếng kèn tha thiết , réo rắt. Tiếng kèn tròn đầy, ấm áp như hơi thở của biển; tiếng kèn ngân xa, man mác như nỗi nuối tiếc của đất liền; tiếng kèn lặng đi, nức nở như tiếng khóc của trái tim tan vỡ vì tình yêu.
Hôm nao em về, bàn tay buông lối nhỏ. Đàn lên cung phím trầm, sầu lên dây hoang vu.
Tiếng kèn lả lướt, dịu êm như nỗi nhớ. Tiếng kèn đẫm ướt trong tiếng lòng người nghệ sĩ. Hắn thả hồn vào bản nhạc; mắt nhắm nghiền, đê mê, mồ hôi vã ra như tắm. Cả không gian, thời gian như hoà quyện lại, lan xa theo tiếng kèn chơi vơi, chơi vơi…
Mở mắt ra, hắn thấy trên nóc cao nhà thờ, chỗ cây thánh giá có đám mây trắng tụ lại như hình của Sơn, hiền từ, mỉm cười với hắn, khuôn mặt xanh xao thoáng ánh vui…
Đám đông đã đứng vây quanh hắn tự lúc nào. Trật tự, lặng lẽ, họ cố giữ để không ảnh hưởng đến cảm hứng của người nghệ sĩ. Cả sân thành đã đổ dồn về phía có tiếng kèn.
Hắn không còn nhận ra cái đám đông của nửa tiếng trước. Vẻ hân hoan, hạnh phúc, xúc động lộ rõ trên khuôn mặt từng người. Họ ôm lấy hắn, bắt tay rất chặt. Những tờ giấy bạc được vuốt phẳng phiu, đặt ngay ngắn vào chiếc mũ rộng vành mà ai đó đã để trước mặt hắn tự bao giờ. Chiếc mũ đầy lên, tràn ra.
Trao lại cây kèn cho người nhạc công và ban nhạc đang đờ người ra vì cảm phục, hắn nghiêng mình trước đám đông:” Cảm ơn quí vị đã ủng hộ những người mẹ khốn khổ và hai đứa trẻ. Cảm ơn.” 
Hắn bước đến bên bà mẹ, trao chiếc mũ đựng đầy tiền. Người mẹ và cô con gái chỉ biết nhìn hắn, nước mắt chứa chan. Hai đứa nhỏ đã thức dây tự lúc nào. Chúng nhìn hắn, nhoẻn miệng cười. Nụ cười tươi tắn sáng bừng, làm hồng lên khuôn mặt xanh xao, vàng vọt. Hắn đưa tay bế đứa nhỏ:” Nào, chúng ta đi thôi! Tôi sẽ chở bà, cô và hai cháu đến trại tị nạn. Ít ra, ở nơi đó lũ trẻ sẽ không bị đói và được mái ấm che đầu.”. 
Họ đi trong ráng chiều vàng rực, bỏ lại sau lưng khu thành cổ uy nghi và đám đông thẫn thờ, lặng lẽ.Hoàng hôn tô đậm bóng họ, hắt về phía chân trời. Gió thổi tóc họ bềnh bồng. Bà mẹ níu chặt tay hắn:” Xin chúa hãy phù hộ cho Con, chàng trai nhân hậu. Tên con là gì, con từ đâu đến?”.
Tên tôi là một người Việt nam, Mẹ ạ!


Vác sa va 30-4-2001. 

(*) Sông chảy qua thủ đô Warsaw
(**) “ Trăm tuổi, trăm tuổi…” bài hát khá phổ biến của người dân Ba lan. 
Những chữ in nghiêng là tên và lời bài hát của Trịnh Công Sơn.

Thảo luận cho bài: "Chuyện nhỏ trên thành cổ"