Cốm Làng Vòng Trong Cơn Lốc Đô Thị Hóa

Tác giả:

Cả làng với 600 hộ dân không còn một mảnh ruộng để canh tác. Diện tích đất ở cũng được người dân đua nhau chia lô xây nhà cho sinh viên thuê. Hiện làng Vòng (thôn Hậu, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội) chỉ vẻn vẹn còn 15 hộ dân gắn bó với nghề làm cốm.

Đến làng Vòng vào những ngày này, khách chỉ toàn nghe chuyện giải tỏa đất, chính sách đền bù, nhà tái định cư. Con đường Nguyễn Phong Sắc mới xuyên qua làng đang khiến hàng trăm hộ dân phải di dời nhà cửa. Thay vì ra đồng gieo cấy hoặc bận bịu với nghề cốm thì nay người dân trở nên nhàn rỗi. Họ túm năm tụm ba bàn tán về chuyện nhà ông A được đền bù bao nhiêu, gia đình ông B đã di dời nhưng chưa có nơi tái định cư. Đang là mùa cốm mà đi suốt từ đầu đến cuối làng, hiếm hoi lắm mới nghe thấy tiếng chày giã lúa, tiếng sàng sẩy phân loại cốm. Chỉ xơ xác vài bó rơm nếp xanh dùng để bện chổi nằm bên những vách nhà. Không khí làng Vòng vào mùa cốm trầm lắng. Nhắc đến món đặc sản nổi tiếng của người Hà Nội, không ít người cho rằng, đó là chuyện xa xưa lắm rồi.

Ông Tạ Duy Sâm, 68 tuổi, người được cha ông dạy cho cách làm cốm từ năm 16 tuổi, bùi ngùi nhớ lại thuở 10 năm về trước, khi mà 80% số hộ dân làng Vòng trực tiếp mua lúa non về làm cốm, còn lại 20% số hộ do thiếu người, không làm được thì cất cốm của hàng xóm đem đi tiêu thụ. Hồi đó, từ đầu đến cuối làng nhộn nhịp tiếng máy suốt lúa, tiếng chày giã cốm, tiếng sàng sảy. Rơm nếp phơi trắng xóa đường làng, thậm chí “leo” lên cả nóc nhà, bờ tường. Mùi thơm của cốm, của rơm nếp bay sang cả làng bên cạnh. Nhà ông Sâm có 9 nhân khẩu, nhận 1,2 mẫu ruộng. Đến mùa cốm chính vụ (từ tháng 7 âm lịch đến hết tháng 10), dù vợ chồng ông cấy toàn bộ lúa nếp để làm cốm, song cũng chỉ đủ nguyên liệu làm trong tháng 7. Các tháng còn lại, ông và mấy người con trai phải đi Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm mua lúa nếp non. Dịp cao điểm như rằm tháng 7, mỗi ngày gia đình ông xuất gần tạ cốm.

Nhưng nay thì gia đình ông Sâm đã tạm ngưng làm cốm. 1,2 mẫu đất nông nghiệp đã phải bàn giao cho chính quyền để xây dựng khu đô thị và làm đường. Diện tích bếp để làm cốm cũng phải nhường cho người em vợ ở nhờ (vì nhà ông này đã bị giải tỏa mà chưa có đất tái định cư). Ông Sâm bảo, không có cốm, những người lớn tuổi như ông chẳng biết làm gì ra tiền, chân tay buồn bực, đành phải sống nhờ con cái và vui vầy với đàn cháu. 5 người con ruột cùng các dâu, rể của ông vốn trước kia tham gia làm cốm thì nay phải chuyển sang buôn bán, đi làm thuê. Ông tâm sự: “Chúng tôi rất muốn giữ và truyền nghề cho con cháu, nhưng còn tùy thuộc vào ruộng trồng lúa nếp. Ruộng của phường hết chỉ còn biết trông vào ruộng thiên hạ. Nếu họ không còn cấy những loại lúa nếp làm cốm (nếp hoa vàng cao, hoa vàng lùn, bạch biến, nếp lai, nếp mỡ, nếp rụt…) thì có lẽ chúng tôi đành để mất nghề”.

Không riêng gì gia đình ông Sâm, hàng trăm hộ dân trong làng cùng bỏ nghề cốm vì mất ruộng. Theo Bí thư đảng ủy phường Dịch Vọng Lê Công Cường, việc bỏ nghề ban đầu diễn ra từ từ và cao điểm là năm 1997, khi 3 thôn Tiền, Hậu, Trung được “nâng cấp” thành phường Dịch Vọng. Toàn bộ 80 ha đất canh tác của làng Vòng phải nhường cho việc xây dựng khu đô thị mới Cầu Giấy. Hết đất, bà con chuyển kế sinh nhai, gia đình nào có đất thì xây nhà cho sinh viên các trường ĐH Sư phạm, Thương mại, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền thuê. Số có diện tích nhà chật chội thì chuyển sang kinh doanh ăn uống, bán hàng phục vụ sinh viên. So với làm cốm, xây nhà cho thuê chỉ phải bỏ vốn một lần và cho thu nhập đều đặn quanh năm. Trong khi làm cốm chỉ diễn ra 4 tháng, thu nhập lại không cao. Trung bình một hộ 5 người làm từ sáng sớm đến tối mịt được khoảng 30-40 kg cốm ngon, mỗi người thu được 40.000 đồng/ngày. “Bây giờ phải gọi Vòng là làng sinh viên mới chính xác. Hiện chỉ còn chừng 15 hộ làm cốm, trung bình mỗi hộ làm được 40-50 kg/ngày, tức là chỉ đáp ứng nhu cầu của một bộ phận rất nhỏ dân Hà thành”, ông Cường nói.

Những hộ làm cốm còn lại cũng đang chịu thách thức rất lớn. Trong khi các đặc sản như bưởi Diễn, cam Canh đồng loạt tăng giá, chi phí sản xuất (củi, lúa nếp…) cũng tăng thì hàng chục năm nay cốm làng Vòng vẫn duy trì ở mức 3.000-5.000 đồng/lạng. Những người theo nghề chỉ cố gắng làm đủ ăn, không dám mơ đến chuyện làm giàu. Sản phẩm làm ra lại phải cạnh tranh quyết liệt với những loại cốm mượn tiếng làng Vòng. Chị Đỗ Kim Oanh, người trực tiếp làm và bán cốm tại đường Xuân Thủy, tiết lộ, ngay đoạn đường này đã có 2-3 người từ Mễ Trì sang bán cốm và đều nói là của làng Vòng. “Chúng tôi ức lắm, nhưng vì họ cũng là người bà con với làng Vòng, chẳng nhẽ lại đánh nhau. Chỉ còn nước trông chờ vào sự phán xét của khách hàng”. Tuy nhiên, chị cũng thừa nhận, rất ít khách phân biệt được các loại cốm bằng mắt thường. Vì thế để đa dạng hóa mặt hàng, đáp ứng mọi yêu cầu của “thượng đế”, ngoài loại cốm ngon như lá me, giót, ngọn, nhiều gia đình trong làng dù không muốn cũng phải sản xuất ra loại cốm xoàng xoàng, bán giá rẻ.

Một thách thức nữa theo ông Lê Trường Xuân, 64 tuổi, con số 15 hộ làm nghề có thể tiếp tục giảm do phần lớn thanh niên có xu hướng thoát ly, kiếm việc làm khác nhẹ nhàng hơn, thu nhập cao hơn. Làm cốm rất vất vả, trải qua nhiều công đoạn, bắt đầu từ việc mua lúa non về suốt, đãi, rang, giã, sàng sẩy phân loại và tiêu thụ. Nghề này lại hay bị tai nạn ở bàn tay. Trong lúc xơ cốm (cốm trong cối hay bị bết nên người ta phải lựa lúc chày nhấc lên thì dùng tay đảo), rất dễ bị chày nện vào tay. Hầu như tất cả người làm nghề đều bị dị tật ở ngón tay cái, ngón trỏ và giữa. Gia đình ông Trường có 4 người con thì chỉ 2 người chịu theo nghề làm cốm, số còn lại đi làm công nhân.

Trước nguy cơ mai một nghề làm cốm, UBND phường Dịch Vọng đã giao cho Hợp tác xã kinh doanh dịch vụ tổng hợp lập đề án xây dựng nghề truyền thống, cụ thể là nghề cốm, trên khu đất 3.000 m2, thuộc khu tiểu thủ công nghiệp của thành phố. Với số vốn 1,5 tỷ đồng, hợp tác xã sẽ mua máy móc, trang bị sản xuất, tạo công ăn việc làm cho khoảng 300 lao động trong làng. Sản phẩm làm ra sẽ có thương hiệu riêng và có thể được tiêu thụ tại thị trường các nước ASEAN. Tuy nhiên việc thành lập khu sản xuất cốm cũng chỉ là giải pháp tình thế để cứu lấy nghề. Về lâu dài, nhà nước cần có chính sách đầu tư, quy hoạch nghề truyền thống, chứ bản thân phường không có điều kiện hỗ trợ từng hộ dân.

Dù dự án khu sản xuất cốm chậm nhất sẽ được triển khai vào năm 2004, nhưng ông Nguyễn Văn Trang vẫn lo lắng: “Với tốc độ đô thị hóa nhanh như hiện nay, với số hộ làm cốm đang ngày càng mai một, nếu không có một phương án duy trì và phát huy tốt thì làng cốm Vòng sẽ không còn nữa”. Nếu đúng như vậy thì Hà Nội nói riêng, Việt Nam nói chung sẽ mất đi một đặc sản quý. Các thế hệ mai sau có lẽ sẽ phải mượn hương cốm của Mễ Trì, của Thanh Hương để thay cho cốm làng Vòng.

Như Trang

Thảo luận cho bài: "Cốm Làng Vòng Trong Cơn Lốc Đô Thị Hóa"