Dân tộc Brâu

Tác giả:

(Cinet – DTV) – Tổ tiên người Brâu vốn ở vùng nam Lào và đông bắc Campuchia, mới nhập cư vào Việt Nam khoảng 4-5 đời nay. Đại bộ phận dân tộc Brâu vẫn định cư trên lưu vức các sông Xê Xan, Nậm Khoong.

Tên tự gọi:Brâu

Tên gọi khác: Brao

Nhóm địa phương:

brau(1)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).Dân số: 397 người, cư trú tại 7 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố (1).

Địa bàn cư trú: Người Brâu chủ yếu sinh sống ở xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (chiếm tới 95,5%).

Tết: Lễ ăn mừng cơm mới là lễ hội lớn nhất. Ngoài ra còn có lễ hội mừng nhà Rông mới.

Lịch sử: Tổ tiên người Brâu vốn ở vùng nam Lào và đông bắc Campuchia, mới nhập cư vào Việt Nam khoảng 4-5 đời nay. Đại bộ phận dân tộc Brâu vẫn định cư trên lưu vức các sông Xê Xan, Nậm Khoong.

Văn hóa: Văn chương truyền miệng có nhiều thể loại, phổ biến là huyền thoại về thần sáng tạo. Người Brâu cũng yêu thích văn nghệ, qua tiếng hát các già làng kể cho con cháu nghe những chuyện xưa (sự tích), hay những bài ca về đám cưới, hát ru, hát đối đáp… Nhạc cụ cổ truyền có đàn klôngpút, loại nhạc cụ được ghép bởi 5-7 ống lồ ô dài ngắn không đều, âm thanh được tạo ra bằng đôi bàn tay vỗ vào nhau ngoài miệng ống, nhưng loại được sử dụng thường xuyên, chủ yếu vẫn là bộ chiêng đồng với ba thang âm là coong, mam và tha. Trong số nhạc cụ truyền thống của người Brâu, quan trọng hơn cả là những bộ chiêng đồng, người Brâu phân biệt 3 loại chiêng với thang bậc giá trị khác nhau như: coong, mam và tha, trong đó tha là loại chiêng cao giá nhất vì hợp kim đúc nên nó có kim loại quý. Những ngày lễ hội, chiêng được treo lên cây sào dọc theo chiều dài nhà rông hay nhà ở của gia đình để hòa âm những làn điệu dân ca, truyền thống.

Hoạt động sản xuất: Với phương thức đốt rừng làm rẫy, người Brâu trồng lúa, ngô, sắn trên rẫy là chủ yếu. Nông cụ gồm có rìu, rựa và chiếc gậy nhọn đầu dài 2,5 m – 3 m để chọc lỗ, tra hạt. Đến mùa gieo hạt, đàn ông cầm mỗi tay một cái gậy nhọn đó để chọc khắp lượt trên mặt rẫy, đàn bà theo dau tra hạt giống và lấp lỗ. Khi cả làng trồng xong thì cúng thần Brabun, tên một loại củ được tin là có tinh linh làm cho cây lúa phát triển. Sau nghi lễ một tuần, người lạ mới được qua lại khu vực rẫy.

Săn bắt, hái lượm còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống. Để phục vụ bữa ăn hàng ngày, người Brâu còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắt, đánh cá và làm một số nghề phụ như rèn để tu sửa nông cụ. Khi cần vải vóc,t râu bò, người Brâu thường đem mật ong, gà, lợn… sang trao đổi với người dân Lào hoặc các dân tộc khác như Xơ Đăng, Cà Dong.

Thảo luận cho bài: "Dân tộc Brâu"