Dân tộc Hà Nhì

Tác giả:

Cinet-DTV)-Người Hà Nhì sống tập trung chủ yếu tại các tỉnh: Lai Châu, Lào Cai và Điện Biên. Đây cũng là một trong những dân tộc được công nhận chính thức tại nước Trung Quốc và Lào.

ha-nhi

Tên gọi khác: U Ní, Xá U Ní.Tên tự gọi: Hà Nhì

Nhóm địa phương: Hà Nhì, Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì đen.

Dân số: Người Hà Nhì ở Việt Nam có dân số 21.725 người [*].

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.

Địa bàn cư trú: Người Hà Nhì sống tập trung chủ yếu tại các tỉnh: Lai Châu, Lào Cai và Điện Biên. Đây cũng là một trong những dân tộc được công nhận chính thức tại nước Trung Quốc và Lào.

Tết: Người Hà Nhì ăn tết năm mới vào đầu tháng 10 âm lịch. Trong năm còn có Tết cơm mới, Tết mồng năm tháng năm, rằm tháng 7.

Lịch sử: Người ta chưa biết rõ nguồn gốc của người Hà Nhì, tuy tổ tiên họ (tộc người Khương) đã di cư từ vùng cao nguyên Thanh Tạng xuống phía nam từ trước thế kỷ thứ ba. Chỉ biết rằng cư dân Hà Nhì đã sinh sống rất lâu đời ở nam Trung Quốc và miền núi Bắc Bộ của Việt Nam. Theo lời truyền miệng của người Hà Nhì thì họ có nguồn gốc từ người Di (Yi), tách khỏi nhau thành bộ tộc riêng biệt 50 đời về trước. Từ thế kỷ thứ 8, trong thư tịch cổ đã có viết về sự có mặt của họ ở Tây bắc Việt Nam. Theo đó thì phần lớn tổ tiên người Hà Nhì hiện nay là lớp cư dân di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trở lại đây.

Văn hóa: Người Hà Nhì có kho tàng văn hoá dân gian phong phú với nhiều truyện cổ, có cả truyện thơ dài với đa dạng các thể loại: thần kỳ, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ.. Các loại nhạc cụ phổ biến trong đời sống tinh thần của người Hà Nhì phải kể đến các loại khèn lá, đàn môi, sáo dọc,…. Ngày lễ hội còn có trống, thanh la, chập cheng góp vui. Trai gái Hà Nhì tỏ tình thường dùng các loại khèn lá, đàn môi, sáo dọc. Con trai gảy đàn La Khư, còn các thiếu nữ thích thổi am-ba, mét-du, tuy-húy hay nát-xi vào ban đêm. Nam nữ thanh niên có điệu múa riêng, đều theo nhịp tấu và nhạc cụ gõ.

Người Hà Nhì có nhiều bài hát ru, hát đối đáp nam nữ, hát đám cưới, hát đám ma, hát ngày Tết, hát mừng nhà mới, hát tiếp khách quý… Trẻ em Hà Nhì thích chơi các trò chơi đòi hỏi lòng dũng cảm,sự khéo léo như: đấu vật, đuổi bắt, trốn tìm, chơi cù, đu quay…

Hoạt động sản xuất: Người Hà Nhì chủ yếu trồng lúa, có nơi làm ruộng, có nơi làm nương rẫy. Họ đã sớm biết trồng lúa trên các ruộng bậc thang, giỏi trong việc khai khẩn tạo nên những thửa ruộng trên sườn núi dốc với những đập mương dẫn nước và dùng trâu bò làm sức cày kéo. Người dân quen dùng phân chuồng và phân tro trong canh tác lúa nước; đồng thời cũng làm nương cày hoặc nương cuốc để trồng ngô hoặc rau đậu, bầu, bí, bông, chàm… Thêm vào đó là hoạt động làm vườn cạnh nhà, đáp ứng nhu cầu thực phẩm tại chỗ cho gia đình. Chăn nuôi cũng là một nghề phát triển. Gia súc, gia cầm chăn nuôi theo lối chăn thả tự nhiên. Các nghề thủ công phổ biến của đồng bào Hà Nhì là: đan lát, dệt vải… đảm bảo nhu cầu vải mặc truyền thống. Vải rất bền do kỹ thuật dệt được nhuộm chàm nhiều lần. Phần đông người Hà Nhì có thể tự túc được vải mặc. Phụ nữ Hà Nhì giỏi nghề đan lát mà chiếc nón giang chính là biểu tượng quen thuộc của nghề này. Hái lượm còn chiếm vị trí đáng kể trong đời sống hàng ngày của đồng bào Hà Nhì.

Thảo luận cho bài: "Dân tộc Hà Nhì"