Dân tộc La Hủ

Tác giả:

(Cinet-DTV)-Người La Hủ cư trú tại 16 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, đại đa số gười La Hủ cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu, một số tập trung ở Thái Nguyên…

IMG3807

Tên tự gọi: La Hủ

Tên gọi khác: Xá lá vàng, Cò Xung, Khù Sung, Kha Quy, Cọ Sọ, Nê Thú.

Nhóm địa phương: La Hủ na (đen), La Hủ sư (vàng) và La Hủ phung (trắng).

Dân số: 9.651 người ( tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến (ngữ hệ Hán – Tạng), gần với Miến hơn.

Địa bàn cư trú: Người La Hủ cư trú tại 16 trên tổng số 63 tỉnh/ TP, đại đa số gười La Hủ cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu, một số tập trung ở Thái Nguyên…

Tết: Tết Nguyên đán “Hô Chà” là tết quan trọng nhất trong năm, trước kia đồng bào dân tộc La Hủ thường ăn Tết trước Tết Nguyên đán một tháng nhưng do chính sách định canh, định cư của Đảng, Nhà nước nên hiện nay dân tộc La Hủ đã ăn Tết Nguyên đán theo âm lịch hàng năm. Bên cạnh đó, Người La Hủ còn có một tết quan trọng. Đó là Tết cơm mới (vào đầu tháng 10 hoặc tháng 11 âm lịch).

Lịch sử: Câu chuyện về nguồn gốc xuất xứ của tộc người La Hủ cho đến nay cũng chưa có câu trả lời chính xác. Theo truyền thuyết của những người dân Hà Nhì đi cùng đoàn kể lại thì tộc người La Hủ có nguồn gốc từ phía Bắc. Đây là tộc người trước đây cũng biết làm lúa nước, thêu thùa dệt vải. Rồi chiến tranh xảy ra do tranh giành lãnh thổ đất đai, người La Hủ cứ lên cao, lên cao mãi, rồi rút dần, rút dần về phía Nam. Trong số đó, có một bộ phận lưu lạc xuống vùng đất của người Đại Việt, cũng vì những năm tháng chạy loạn, phải ẩn mình trên núi cao rừng sâu, tộc người La Hủ từ tộc người biết làm lúa nước đã trở thành tộc người chỉ còn biết làm lúa nương. Cũng vì nỗi sợ mỗi khi có chiến tranh xảy ra khi tranh chấp đất đai, tộc người La Hủ đã hoàn toàn chấm dứt sinh sống ở các vùng đất thấp. Cứ thế, đời này qua đời khác, tộc người La Hủ trở thành tộc người chỉ quen với lối sống và lối canh tác du canh du cư, sống lang thang trên các triền núi cao, trong các thung lũng mà ít có quan hệ với các cộng đồng tộc người xung quanh.

Cũng còn có một câu chuyện theo dạng giả thuyết. Rằng, ngày xưa người La Hủ và người Hà Nhì có chung một nguồn gốc. Nhưng do mâu thuẫn nội bộ nên hai anh em đã tách ra thành 2 tộc người. Tuy là 2 tộc người khác nhau nhưng họ vẫn có nét chung cơ bản trong ngôn ngữ và trang phục.

Văn hóa: Người La Hủ có nhiều truyện kể dân gian, đặc biệt có khiếu hài hước thể hiện qua nhiều câu chuyện cười để tự giễu bản thân. Dân tộc La Hủ có đời sống dân ca, dân vũ vô cùng phong phú. Thanh niên thường dùng khèn và nhất là đàn môi khi tâm sự tìm hiểu bạn gái. Vì thế, người La Hủ có hàng chục điệu múa khèn. Các cô gái La Hủ thướng thổi sáo để bày tỏ nổi niềm. Sáo của người la Hủ có 4 loại: Sáo 4 lỗ (í la la), sáo 6 lỗ (li la lồ), sáo 3 lỗ (chsu chsu đà), sáo dọc (tu pê).

Các bài hát của người Lô Lô dùng tiếng Hà Nhìn nhưng có nhịp điệu riêng. Trong đó, từng ngày được xác định theo chu kì 12 con vật (hổ, thỏ, rồng, chấy, ngựa, cừu, chó, lợn, sóc, trâu).

Hoạt động sản xuất: Trước kia, người La Hủ sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy du canh với nhịp độ luân chuyển cao và săn bắt, hái lượm với công cụ thô sơ. Gần đây, họ chuyển sang trồn lúa trên ruộng bậc thang. Người La Hủ lấy canh tác nương rẫy làm nguồn sống chính. Họ trồng lúa nước, dùng trâu làm sức kéo. Đặc biệt, đàn ông La Hủ đan ghế, mâm, chiếu, nong nia, v.v. bằng mây rất giỏi và đa số biết nghề rèn. Ngoài ra, người La Hủ còn nuôi gà, trâu… Dân tộc La Hủ hầu hết trao đổi hàng hóa với các dân tộc khác bằng các vật dụng, nông sản.

Thảo luận cho bài: "Dân tộc La Hủ"