Dân tộc M’Nông

Tác giả:

(Cinet-DTV)-Người M’Nông là một trong những lớp cư dân bản địa ở nước ta,người M’Nông

ở Việt Nam tính đến năm 2009 có dân số 102.741 người.

mnong

Tên tự gọi: M’Nông

Tên gọi khác: Bu-dâng, Preh, Ger, Nong, Prâng, Rlăm, Kuyênh, Chil Bu Nor…

Nhóm địa phương: M’Nông Gar, M’Nông Nong, M’Nông Kuênh, M’Nông Preh, M’Nông Prông, M’Nông Rlâm, M’Nông Buđàng, M’Nông Chin…

Dân số: Người M’Nông ở Việt Nam có dân số 102.741 người (1).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me.

Địa bàn cư trú: Người M’Nông cư trú tập trung chủ yếu tại các tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Bình Phước, Quảng Nam.

Tết: Cuối tháng 7 đầu tháng 8 âm lịch (đầu vụ thu hoạch), người dân tộc M’Nông ở khu vực Bình Phước và Tây Nguyên thường tổ chức Tết mừng lúa mới (Lễ cơm mới). Đây là cái tết lớn nhất trong năm của đồng bào dân tộc M’Nông.

Lịch sử: Người M’Nông là một trong những lớp cư dân bản địa ở nước ta, thuộc nhóm nhân chủng Anhđônêdiêng, có tầm vóc thấp, nước da ngăm ngăm đen, môi hơi dày, râu thưa, mắt nâu đen, tóc đen, thẳng, nhiều người có tóc uốn.

Văn hóa: Vốn văn hóa nghệ thuật được lưu truyền qua các thế hệ là chủ yếu là do truyền khẩu. Kho tàng truyện cổ M’Nông bao gồm những thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, thế sự… phản ánh quá khứ về nhận thức của con người về vũ trụ và nhân sinh, đồng thời để lại nhiều dấu vết hoạt động của con người trong xã hội xưa. Dân ca M’Nông giàu chất trữ tình và rất dễ hát, âm điệu thường lặp đi lặp lại nhiều lần trong một bài, câu trước so với câu sau đều có nhịp tăng giảm để tạo nên những âm thanh trầm bổng. Văn học truyền khẩu của người M’Nông ngoài dân ca và truyện cổ còn có ca dao và tù ngữ cũng không kém phần phong phú. Nhìn chung văn học nghệ thuật dân gian M’Nông đã làm tăng thêm hương sắc cho nền văn hóa dân gian Việt Nam.

Hoạt động sản xuất: Người M’Nông là một trong những cư dân tiêu biểu của nền nông nghiệp dùng cuốc ở Tây Nguyên, đó là một loại cuốc lưỡi. Làm nương, rẫy chiếm vị trí trọng hiếu trong hoạt động sản xuất của người M’Nông. Lượm hái và săn bắt còn giữ một vai trò đáng kể trong đời sống hàng ngày và là nguồn lương thực thường xuyên cho các bữa ăn. Một số lâm sản có giá trị kinh tế cao như: măng khô, nấm hương, mộc nhĩ, mật ong… được đem bán để mua yếu phẩm cần thiết như: muối, vải, đồ dùng gia đình, thuốc men… Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm như: trâu, lợn, gà, dê… chủ yếu là để dùng vào các lễ hiến sinh, nhiều gia đình cũng chăn nuôi vịt, ngan, ngỗng, chim bồ câu, thỏ… để lấy thịt dùng chủ yếu để đãi cơm khách, nhìn chung việc hăn nuôi của người M’Nông chỉ là để tự cung, tự cấp. Các nghề thủ công như: dệt, làm gốm, đan lát… chỉ là những nghề phụ gia đình không được phát triển thành nghề nghiệp chính.

Thảo luận cho bài: "Dân tộc M’Nông"