Dân tộc Tà Ôi

Tác giả:

Tên tự gọi: Tà Ôi

Tên gọi khác: Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi hay Pa Hi

Nhóm địa phương: Cộng đồng người Tà Ôi ở Việt Nam có 3 nhóm là Tà Ôi, Pa Cô, Ba hi

Dân số: 43.886 người, có mặt tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố (Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009)

Ngôn ngữ: Người Tà Ôi nói tiếng Tà Ôi, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, gần gũi với ngôn ngữ Ka Tu (Cơ Tu) và Bru (Vân Kiều)

e47535c49a6d06d60e0e20d0f5b0cc98

Địa bàn cư trú:Người Tà Ôi cư trú tập trung ở khu vực miền núi phía Tây miền trung Việt nam, chủ yếu tại các tỉnh như Thừa Thiên-Huế, Quảng Trị, Thanh Hóa, Quảng Nam…

Lịch sử: Người Tà Ôi phân bổ ở nước ta và ở Lào, thuộc lớp dân cư tụ lâu đời ở Trường Sơn,

Văn hóa:Người Tà Ôi có một nền văn hóa rất gần với các dân tộc làng giềng nhưng nền văn hóa của người Tà Ôi cũng có những nét đặc sắc riêng, thể hiện qua nghệ thuật trạm, khắc, kiến trúc nơi cư trú và cách ăn mặc. Với kho tàng sáng tác nghệ thuật dân gian và hệ thống tín ngưỡng tôn giáo như: tục ngữ, ca dao, câu đố, hay những truyện cổ kể các chủ đề phong phú về nguồn gốc tộc người, nguồn gốc dòng họ, cuộc đấu tranh giữa kẻ giàu với người nghào, giữa cái thiện với cái ác, tình yêu chung thủy v.v… Dân ca có các điệu Ka-lơi, Ba-boih, Rơin và đặc biệt là điệu cha chấp trữ tình. Chiêng, cồng, đàn, sáo, kèn, trống, khèn là những loại nhạc cụ thường gặp ở vùng của người Tà Ôi.Người Tà Ôi sống theo tập tục cổ truyền, trọng người già, tin theo “già làng”, quý trẻ em không phân biệt trai hay gái. Mỗi làng bao gồm người của các dòng họ khác nhau, từng dòng họ có người đứng đầu, có kiêng cữ riêng và tên gọi riêng.

Hoạt động sản xuất: Cũng như các tộc người khác tại vùng núi và cao nguyên miền Nam nước ta, người Tà Ôi chủ yếu làm rẫy, trồng lúa rẫy đa canh và du canh, làm theo lối cổ truyền: phát – đốt – trỉa hạt. Người Ta Ôi vốn có truyền thống nuôi gia súc lớn, nhất là trâu để làm vật hiến sinh, cũng là để giao thương, bán cho miền xuôi hoặc bán sang Lào.

Săn bắn, đánh cá, hái lượm đem lại thức ăn đáng kể. Nghề dệt chỉ có ở một số nơi, sản phẩm được các dân tộc láng giềng ưa chuộng (nhất là y phục có đính hoa văn bằng chì và cườm trắng). Ðồ đan mây tre chủ yếu đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp. Ðồ sắt, đồ gốm, đồ đồng chủ yếu do trao đổi với người Việt và các dân tộc khác

Thảo luận cho bài: "Dân tộc Tà Ôi"