Dáng Mẹ Trăm Chiều

Tác giả:

Thưa má, từ má lòng bàn tay dìu dắt, con đâu còn sợ ai. Cái xấu nảy mầm. Tâm hồn con nảy toàn cây trái cấm. 


Ga xe lửa Phan Thiết chật ních người vào buổi trưa năm ấy. Hàng hóa tuôn từ Sài Gòn ra, từ Nha Trang vào, nhiều vô kể. Chú bé, khoảng 12, 13 tuổi, nhởn nhơ đi lại, cặp mắt to đen tha hồ ngó. Nhưng gầy quá. Chú đói. Hai ngày nay, cha chú đánh bài thua cháy túi. Không một chén cơm vào bụng. Chỉ có cháo. Mấy toa cửa đóng mịt mùng kia chắc chắn là gạo, đựng toàn trong bao chỉ xanh trăm ký. Chỉ cần thọc mũi dùi nhọn và bén ngót này qua khe hở dưới gầm toa, ngoáy rộng một chút, gạo sẽ chảy ra, không ào ạt, nhưng từ tốn, đều đặn. Chiếc mũ bèo nhèo lập tức được chìa ra hứng. Không nên ham hố lấy nhiều dễ bị lộ. Miết nhẹ mũi dùi hai ba lần lên chỗ bao bị chọc thủng, lỗ bao sẽ kín lại ngay. Đó là nghề riêng của "chàng". Chú bỗng cảm thấy đói. Làm như gạo đã có sẳn trong túi. 

Trời mùa đông, gió lạnh gớm. Cái áo mỏng manh và rách không đủ che kín bộ xương cách trí của chú. Quần ngắn cũn, thỉnh thoảng chú lấy tay kéo kéo, sợ tụt mất. Gió bất thổi lồng lộng. Chà, lạnh thế này, má chịu gì nổi. Chắc má khóc dữ lắm. Cục máu- nhà- con đợi lạnh là nổi chồm lên trong bụng má. Má nằm úp, đau vật vã. Má rên rỉ, khóc lóc, gào thét, rồi van xin như một đứa con nít: "Đừng! Đừng!". Máu – nhà – con ra không hết khi mẹ sinh chú đã dồn lại, lâu dần thành cục cứng ngắc. Lạnh là cứ nhói lên, muốn nhảy chồm ra ngoài. (Mẹ có quá nhiều nỗi buồn, từ lúc "thằng cha mi bỏ đi theo con đĩ chó"). 

Thôi má, để con lấy vài liễn trầu má ăn cho bớt lạnh! Chú lấn tới. Mấy cái giỏ cần xé to hụ, cái nào cũng ngồn ngộn trầu, nằm hơi khuất bên kia đường xe lửa. Trầu Long Khánh, lá to, dày, gân nổi trắng, nhai vào thì phải biết: cay xé mà thơm lựng. Mẹ chú ghiền trầu nặng. Dân Huế rặt. Răng đen tuyền, bóng ưởng và chắc rụi. 

Chú lơ đãng ngó. Mọi người lơ đãng nhìn. Hấp! Liễn trầu đã lơ đãng chui vào bụng chú, như xiếc. Chú chui ra khỏi ga, nhẹ nhàng như một cái bóng. 

Cái bóng bắt đầu chạy. Qua hai ngõ quành, qua bịnh viện, là tới. Mẹ chú ở đó, trong một cái bếp ọp ẹp, ám khói của người cháu kêu mẹ là cô ruột. Chái bếp tối thui. Phải mất một lúc, chú mới nhìn rõ. Mẹ chú ốm quá, trông cứ như lọt thỏm trong chiếc giường tre cũ kỹ. Và má rên. Ôi, má đừng rên nữa má. Trầu đây má. Trầu Long Khánh nè má! 

Mẹ chú mở mắt. Cặp mắt tuy mờ mịt khói bếp, tuy ràn rụa vì cục máu- nhà- con nổi lên đau ngất, tuy mòn mỏi vì căn bịnh mạch lươn đục ruỗng vế phải nằm liệt giường, vẫn ánh lên vẻ dịu dàng: "Tư, hả mi? Sao lâu quá mi không về, hử?". Rồi cái thân thể gầy còm, hầu như bất động đó, có tiếng rên, tự vực mình dậy, nghiêng người tựa hẳn vào gối, dăm dẳm nhìn con trai…. 

Cuối cùng, bà cũng nhận ra liễn trầu xanh ngắt, cạnh mình. Một cái gì cứng như đá, lạnh như đồng, một nét đau đớn cổ quái thoáng qua, ngỡ vụt tắt trên gương mặt người đàn bà. 

Bà ngọt xớt (ôi, một trăm bà mẹ Huế, bà nào giọng cũng ngọt xớt): 
– Cha mi! Mi lấy trầu cho mạ à? Tội qúa lại đây con. 

Giọng ngọt như mía lùi đó làm chú sướng ngất. Chú bé tóc thưa đã như bay, như bay, sà tới. 

Cốc! Cốc! Hàng trăm cái cốc dồn dập ùa tới, khua lớp cốp trên đầu chú. Tóc chú bị túm chặt, ghì xuống từ lúc nào không biết. (Bà mẹ không dùng kế dụ địch làm sao bắt nổi chú. Chú nhanh như cắt và lẩn chạch). 

Giọng bà hổn hển vì cơn giận bị ghìm lại lâu quá: 
– Đồ ăn cắp! Quân đội đầu xe lửa! Mi…Mi… 

Lưỡi bà líu lại thì hai bàn tay bà vung rộng ra. Cả liễn trầu xòe hàng trăm cái cánh bay ào ạt vào mặt chú 
– Mi lượm của mi đi. Cho ai thì cho. Tau không lấy của loài ăn cắp. 

Mặt chú tái ngơ, tái ngắt, chao đảo cúi xuống. Tay chân chú hầu như bất động. Những lá trầu như dính chặt dưới đất. 

Chú về cái chòi cha chú che tạm bên hông miễu, nằm lăn trên nền đất ẩm, quên đói, mơ từng chập. Chú mơ thấy hàng trăm, hàng ngàn lá trầu xanh, bay xuống, bay lên, chụp lấy chú. Chú nằm úp mặt, ngọn trầu xanh dưới đất cũng trồi lên, đâm suốt lòng chú. 

Má ơi! Con xin vòng tay, cúi nghe lời má. Dù nghèo đói, cũng sống một đời trong sạch. Nhưng lạy má, con chỉ là chú bé tóc thưa dù bốn mươi năm đã trôi qua, vẫn mơ được một lần như ngày nhỏ, cầm liễn trầu xanh ngắt, con sãi cánh bay, về dâng tặng má thương yêu./. 

Năm 1991, tôi nhận bài viết: Dáng Mẹ Trăm Chiều của anh gởi ra cho tôi, khi tôi còn ở Houston. (PVN) 

(Nguồn: Thuvienvietnam.com)

 

Thảo luận cho bài: "Dáng Mẹ Trăm Chiều"