Điểm Phim: The Diving Bell and The Butterfly

Tác giả:


Điểm Phim: The Diving Bell And The Butterfly
Minh-Thanh
 
Đạo Diễn: Julian Schnabel
Kịch Bản: Ronald Hardwood từ quyển sách của Jean-Dominique Bauby
Tài Tử: Mathieu Almaric,  Emmanuelle Seigner, Marie –Josée Croze, Anne Consigny, Patrick Chesnais, Niels Arestrup, Marina Hands, Max Von Sydow
 
 
The Diving Bell and the Butterfly (Le scaphrandre et le papillon), kể chuyện của Jean-Dominique Bauby (Mathieu Almaric), bạn bè thường gọi là Jean-Do, chủ bút hào hoa phong nhã của tờ nguyệt san thời trang nổi tiếng, Elle. Ông chủ bút sống một cuộc đời phóng khoáng, với nhiều người đẹp bên cạnh và nhiều mối tình. Thế rồi ngày nọ ông bị  đột quy (stroke), cả thân hình bị liệt chỉ trừ con mắt trái. Bệnh của Jean-Do rất hiếm, có cái tên là lock-in syndrome, cả thân hình bị liệt không làm gì được, nhưng đầu óc vẫn tỉnh táo, minh mẫn, vẫn nhận thức được mọi việc xảy ra chung quanh mình và cho chính mình. Tình trạng của căn bệnh được mô tả là gần như chôn sống. Lần đầu tiên có dịp phát biểu tâm trạng, Jean-Do nói: Je veux mourir (Tôi muốn chết), làm cô âm ngữ trị liệu, Henriette (Marie –Josée Croze) choáng váng, vừa giận, vừa buồn. Vài ngày sau đó, cơn chán nản qua đi, Jean Do “nói” với Henriette, tôi quyết định sống, và hơn nữa sau một thời gian, quen với cách nói chuyện (communicate) với mọi người ông nghĩ đến chuyện viết một quyển sách. Xuất bản năm 1997, chỉ vài ngày sau đó tác giả qua đời, quyển sách mau chóng trở thành sách-bán-chạy, cùng được dịch qua nhiều ngôn ngữ. Đạo diễn Hoa Kỳ, Julian Schnabel đã dựa theo quyển sách để thực hiện thành phim. 
 
Biến chuyển tâm lý của Jean-Do nhờ vào nhiều yếu tố. Trước hết là lòng tận tâm, kiên nhẫn của các bác sĩ, y tá, các chuyên viên trị liệu, đặc biệt là về âm ngữ. Mỗi lần trò chuyện, cô âm ngữ trị liệu, Henriette đọc bảng mẫu tự, tới đúng chữ cái mà Jean-Do muốn thì ông nháy mắt một cái, rồi từng chữ cái một ghép thành một từ, rồi các từ nối với nhau để thành ý nghĩa của một câu. Để viết sách, mỗi sáng sớm, tác giả nghĩ đến đoạn văn trong đầu, thêm bớt tĩnh từ, rồi thuộc nằm lòng, và khi Claude (Anne Consigny), cô phụ tá chủ bút đến thì ghi lại từng chữ một xuống trang giấy. Quả thật là một công trình đầy kiên nhẫn!  
 
Trường hợp bệnh trạng này thật bi thảm! Một người phải nhờ vã tất cả mọi người, còn tệ hơn một em bé nữa (vì em bé có thể la khóc, dãy dụa cho biết em đau hay đói), có lẽ ý chí của Jean-Do có được nhờ tính khôi hài, và nhất là ông cảm được tình thương mọi người dành cho mình. Lần đầu tiên gặp lại Céline (Emmanuelle Seigner), mẹ của hai con mình, Jean-Do cho biết ông không ý định gặp các con vì không muốn chúng nhìn thấy tình trạng bi thương của bố. 
Người nằm đó, chỉ nhìn thấy một góc độ của căn phòng, gió thổi lay màn cửa, ánh sáng len qua cửa sổ, người tới thăm phải biết cúi xuống để được vào tầm mắt của người bệnh, nhưng bạn bè, gia đình và cả đội ngũ bác sĩ, y tá, chuyên viên … không thiếu tình thương chuyển tới người bệnh. Có ông bố già trên 90 tuổi (Max von Sydow) gọi đến, nghẹn ngào nhớ con, có bạn tới đọc sách, có người tình tưởng là dĩ-vãng, Céline, vẫn dành cho một tình yêu không đòi hỏi, từ đó người bệnh đã đổi ý để đón nhận các con. 
 
Tình yêu thật là một điều lạ lùng, khó định nghĩa. Người đàn ông nằm bất động mà người đàn bà vẫn ghen tương, hờn dỗi, nói mát. Khi người yêu đương thời của Jean-Do, Inès gọi tới nói chuyện, Céline cảm thấy nghẹn họng vì ghen. Theo lời yêu cầu của Inès, Céline đi ra khỏi phòng mà cố ý để cửa mở để có thể nghe hai người nói gì với nhau. Từ ngày Jean-Do ngả bệnh, Inès vẫn chưa tới thăm vì muốn giữ mãi cái hình ảnh đẹp của người mình yêu, nhưng Jean-Do đã nhờ Céline chuyển đến Inès câu: Anh đợi em mỗi ngày (Je t’attends chaque jour) làm tim Céline nhói đau.
     
Jean-Do tâm sự: Ngoài con mắt trái của tôi ra, còn hai thứ làm việc được: Trí nhớ và óc tưởng tưởng. Từ bệnh viện  Paris, ông được đưa về điều trị lâu dài ở một thành phố ven biển, Berck Sur-Mer. Trí nhớ  đưa ông về lại ngày còn bé chờ đợi trên bến tàu lửa của tỉnh lỵ ven biển Berck. Trí nhớ làm dịu lòng người bệnh với hình ảnh lần cuối cùng gặp bố, để con trai có dịp chăm sóc bố. Trí nhớ lại đưa ông tới lần cùng người tình Josephine (Marina Hands) đi hàng hương tại tỉnh lỵ Lourdes, nằm trên rặng núi Pyréné, hai người đã có một cuộc cãi vã để đi đến xa nhau.   
 
Qua cái nhìn của đạo diễn Schnabel, cũng là một họa sĩ, óc tưởng tượng thoát ly khỏi thân thể giờ đây là ngục tù, ví như người lặn xuống biển, thân hình bị gò bó, đóng khung trong bộ đồ lặn, chỉ có cặp mắt để nhìn biển cả, nhưng bù lại trí tưởng tượng là con bướm đưa ông chu du khắp bốn bể năm châu, đi trượt tuyết, đi thăm Kim Tự Tháp, thực hiện những ước mơ ngày còn bé, trở về thế kỷ trước, được tiếp chuyện cùng Nữ Hoàng Eugénie (Emma de Caunes). Những phút tinh thần lên cao tâm hồn được biểu tượng thành những tảng băng đá khổng lồ, tuyệt mỹ. 
 
Nhân vật Jean-Do mất tiếng nói, nhưng phim vẫn sống động, độc giả đi thẳng vào khối óc của chàng để nghe câu trả lời, các phản ứng khôi hài, triết lý, những tình cảm nhớ nhung, băn khoăn và chấp nhận. 
 
Đây là phim thứ ba của đạo diễn Julian Schnabel, là một họa sĩ có tăm tiếng, nhiều bức tranh của ông được trưng bày trong các bảo tàng viện lớn. Hai phim trước của Schnabel cũng là về đời tư của các nghệ sĩ nổi danh, Basquiat (1996), kể cuộc đời của họa sĩ Jean-Michel Basquiat và “Before Night Falls” (2007), tựa phim là tên của tập thơ của thi sĩ người Cuba Reinaldo Arnas, làm điểm tựa để kể chuyện đời chàng thi sĩ.   
Không qua trường điển ảnh chuyên nghiệp nào, nhưng với cái nhìn cảm xúc, nghệ sĩ tính cùng một tâm hồn đa cảm, Schnabel thực hiện phim với những hình ảnh choáng váng, đập mắt. Có nhiều cảnh gây xúc động một cách tự nhiên. Tự nhiên như nước mắt lăn xuống má của cô âm ngữ trị liệu hay cô phụ tá giúp chép ý tưởng của ông thành sách. 
 
Vài sự kiện lý thú: Sách được viết bằng Pháp ngữ, do một  đạo diễn họa sĩ Mỹ thực hiện. Kịch bản Ronald Harwood viết bằng Anh ngữ, rồi chuyển ngữ sang tiếng Pháp để phim được trình bày hoàn toàn bằng tiếng Pháp.  Phim được quay tại nơi xảy ra câu chuyện, bệnh viện Maritime thuộc hệ thống bệnh viện Berck, các ngoại cảnh khác đều được quay tại Pháp. Đạo diễn đã thay đổi tên cũng các nhân vật phụ, xếp đặt các chuyên viên làm việc chung quanh Jean-Do đều là phái nữ cả, tuy rằng trên thực tế không phải vậy, có lẽ Schnabel muốn tô điểm khía cạnh của ông chủ bút hào hoa bao giờ cũng có các người đẹp vây quanh.  
 
Jean-Dominique Bauby bị cầm tù bởi thân thể tàn phế nhưng ông bố trên 90 tuổi muốn đi thăm con mà yếu quá đi không được, ông nghẹn ngào nói với con: Bố cũng bị cầm tù trong căn hộ của bố. Frederic Strauss, ký giả của tờ tuần báo Télérama viết: Thật sự thì chúng ta đều bị cầm tù trong đời sống đông dầy những giới hạn. Chúng ta cần có tầm nhìn thoát ra những thiên kiến hẹp hòi, vì thế ai cũng sẽ học được ít nhiều từ quyển sách Le Scaphrandre et le Papillon”.  
 
Phim để lại trong lòng người viết dấu ấn đặc biệt bởi kinh nghiệm bản thân. Gần sáu năm trước, người viết đã bị một căn bệnh khá nặng, kéo dài khá lâu, mạng sống mong manh như con thuyền lênh đênh trên biển. Cuối cùng bệnh len lén ra đi (hay tạm thời rút lui), để lại một thân thể không như xưa, có giới hạn. Ngày buồn thấy giới hạn đó nằm trong phần thể mất mát, ngày lên hương thấy mình còn may mắn được làm việc, đọc sách, coi phim hay, đi dạo biển… và thật quá hạnh phúc được ngắm, nhìn và nghe các con khôi hài, được ăn cơm đậu rán với tương Cự Đà. Có lẽ đúng giới hạn nằm trong tầm nhìn của mỗi chúng ta. 

Đăng lần đầu tại www.damau.org
 


Thảo luận cho bài: "Điểm Phim: The Diving Bell and The Butterfly"