Đời Sống Xã Hội Của Sài Gòn Trước Thời Pháp Thuộc

Tác giả:

Trong hơn 50 năm từ giai đoạn Tây Sơn cho đến khi quân Pháp đổ bộ tình hình miền Nam tương đối ổn định (ngoại trừ những năm từ 1832 đến 1835). Đây cũng là cơ hội để các thiên hướng cuả Sài gòn tự khẳng định.
Quá trình phát triển kinh tế được thúc đẩy mạnh, Sài gòn là một trong những tỉnh thành trù phú nhất Việt nam lúc bấy giờ. Theo các ghi nhận của người ngoại quốc, dân số Sài gòn – Chợ lớn cộng với 40 làng “nội thành” (đồng thời cũng là những trung tâm nhỏ) là khoảng hơn 100.000 nhân khẩu. Căn cứ vào bản đồ cuả Trần Văn Học (lập năm 1815) đã có rất đông cư dân phía Đông và Nam thành phố (các khu vực giới hạn bởi rạch Thị Nghè và rạch Bến Nghé). Trên địa bàn Bến Nghé (Sài gòn bây giờ) đã có khoảng 40 đường phố, lộ giới từ 15 đến 20 mét và có đặc điểm là song song hay thẳng góc với bờ sông, bờ rạch. Đi vào tận trung tâm Bến Nghé còn có hai con kinh (trên vị trí của các đường Hàm Nghi và Nguyễn Huệ ngày nay). Phía Tây và Bắc thành Phụng ngược lại có ít người ở dù rằng trên trục đường dẫn vào Chợ lớn đã có các cửa hàng buôn bán. Dọc theo các đường thủy và bộ nối liền hai trung tâm Sài gòn và Chợ lớn là các xóm làng chợ. Ví dụ hai bên rạch Bến Nghé có đến 21 làng như vậy. Theo truyền thống các làng được tổ chức theo hoạt động chuyên ngành về thương mại cũng như về nghề thủ công. Đặc biệt hơn nữa là có rất nhiều chợ chuyên doanh (chợ Bến thành, chợ Điều khiển, Chợ Sỏi, chợ Cây Da còm, Chợ Quán, chợ Nguyễn Thúc, chợ Lò rèn, chợ Bình An…) tất cả hợp thành một chuỗi đô thị nhỏ (nói theo ngôn ngữ hiện đại).

Sài gòn thực sự là một trung tâm sản xuất và thương mại, nội địa cũng như quốc tế. Ngoài xưởng đóng tàu hoàng gia, sản xuất thủ công nghiệp là chính. Từ khi Gia Long dời đô về Huế thành phố đã mất đi phần nào ngành thủ công nghiệp cao cấp, ngành sản xuất vũ khí và ngành đóng tàu chiến.

Nhưng động cơ chính của phát triển thành phố vẫn là buôn bán gạo và các nông sản khác. Gạo được xuất sang tận Manille, Batavia hay Malacca. Việc chuyên chở do các ghe thuyền Hoa và tàu biển Âu châu (mấy chục chuyến mỗi năm) đảm nhiệm. Nguồn thu nhập này đã giúp thực hiện dễ dàng một chương trình đào và khai thác một mạng kinh quy mô lớn, vừa mở rộng thêm diện tích canh tác vừa giải quyết giao thông thuận lợi. Nhờ đó vị trí trung tâm cuả thành phố ngày càng được củng cố.

Với các hoạt động hưng phấn như vậy và với vai trò cuả một đầu mối mậu dịch, Sài gòn có nhiều điểm tương đồng với các thành phố cảng Đông Nam Á. Đặc biệt là tính đa văn hoá và sự phân cấp xã hội rất rõ rệt. Chỉ xét về khía cạnh thuế khoá đã cho thấy những tầng lớp xã hội với cách biệt lớn: sở hữu chủ bất động sản, thương gia, nghệ nhân, lái ghe hoặc bán hàng rong là các thành phần chịu sự quản lý cuả ngành thuế (riêng các thành phần thuộc các bang hội người Hoa đóng một khoản thuế đặc biệt). Đa số thị dân còn lại không chịu một khoản thuế nào, họ là thành phần vô sản hành nghề lao công.

Thành phần cư dân Sài gòn cũng rất đa dạng. Đa số tất nhiên là người Việt mới tới hoặc định cư lâu đời. Một cộng đồng người Hoa, Minh hương hoặc mới đến tỵ nạn, rất năng động. Cộng thêm vào đó là một số nhỏ gồm các sắc tộc thiểu số, Chàm, Khmer và dân ngoại quốc tứ xứ. Đây cũng chính là nhân tố tạo thành nét đa văn hoá cuả Sài gòn. Về tín ngưỡng thì Phật giáo chiếm tuyệt đại đa số trừ một hai khu thiên chúa giáo tập trung trên vị trí Thảo cầm viên và bên kia rạch Bến nghé.

Mô tả Sài gòn trước thời Pháp thuộc còn thiếu sót nếu không nói đến cộng đồng người Hoa Chợ lớn.

Trung tâm định cư người Hoa từng có tên Chợ Sài gòn, Phố Khách, Minh Hương Xã hay Chợ Lớn trên thực tế bao gồm nhiều làng mà biết đến nhiều nhất là làng Minh Hương thành lập khoảng năm 1698. Các làn sóng nhập cư người Hoa đáng kể sau đó có: năm 1771 sau khi quân Xiêm chiếm Hà tiên là một công quốc người Hoa dưới sự bảo hộ cuả chúa Nguyễn – 1772 kinh Ruột Ngưạ được mở thông thương trực tiếp với đồng bằng Cửu long và Chợ lớn trở thành một thương cảng quan trọng; thời kỳ chiến tranh Tây Sơn số người Hoa về đây càng đông hơn biến Chợ lớn thành trung tâm thứ hai của thủ phủ miền Nam; suốt thế kỷ thứ XIX người Hoa tỵ nạn tiếp tục đổ về đây.

Bản đồ cuả Lebrun lập năm 1795 cho thấy một Chợ lớn với nhiều cầu, nhiều bến được kè đá, các đường phố lát gạch hoặc đá và các cơ sở phục vụ hoạt động bến cảng. Ngay từ 1819 Trịnh Hoài Đức đã nhấn mạnh trong “Gia Định Thành Thông Chí”, về sự đông đúc và nhất là tính năng động đặc biệt của Sài gòn khu người Hoa này.

Triều Nguyễn phân biệt người Minh hương và người Hoa kiều (tổ chức theo các bang hội như Quảng đông, Phúc kiến, Hải nam, Triều châu, Thượng hảị..), song nói chung đều có chính sách dần dần khiến người Hoa hội nhập vào cộng đồng người Việt. Người Hoa đã có những đóng góp lớn, không chỉ trong lãnh vực thương mại mà còn về nghệ thuật, văn học và quản lý nhà nước. Xét trên khía cạnh này các đóng góp cuả cộng đồng người Hoa vào cái gọi là đặc thù Sài gòn không phải là nhỏ.

Cũng khoảng thời gian hơn 50 năm trước khi Pháp sang, lịch sử Sài gòn đã mang những yếu tố tạo nên nét văn hoá đặc thù Sài gòn sau này.

Theo Trần Văn Giàu : “So với Huế, Hà nội và phương Bắc nói chung, Gia định – Sài gòn là một vùng đất mới. Đa số dân vào Nam thuộc thành phần khó khăn, đầu óc thực tiễn và không nệ cổ, có đủ các đức tính để trở thành những công dân gương mẫu mà không nhất thiết theo truyền thống nho học”. Sài gòn, thành phố mới tạo dựng, cảng buôn bán, nguồn gốc đa dạng, là nơi thử nghiệm một nền văn hoá mới trong bối cảnh tương đối đã vào nền nếp cuả toàn cõi Việt nam. Và cũng theo Trần Văn Giàu thì chính giai đoạn này thành phố đã mang những đặc tính chỉ còn chờ dịp để phát huy vào các thời kỳ kế tiếp.

Thông thường ở Việt nam xưa, sự có mặt của trường học nhà nước là thước đo trình độ phát triển văn hoá cuả một địa phương. Tại Sài gòn triều đình không có chính sách lập trường nhưng đã có các trường tư thục tại một số làng xã. Thầy dạy cũng là di dân đến từ Bắc hoặc Trung. Mục đích cuả việc học không nhất thiết là đường cử nghiệp mà chỉ cốt cho tầng lớp trẻ có được một trình độ văn hoá nhất định. Tuy nhiên không vì thế mà chất lượng giảng dạy thua kém. Nổi tiếng nhất là trường của thầy Võ Trường Toản ở Hoà Hưng, nơi đã cho ra những Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định. Chính Gia Định Tam Gia này đã khởi xướng một khuynh hướng văn học mới, với một phong cách phóng túng đối nghịch với phong cách rập khuôn cổ điển.

Gia Định phải chờ đến một trăm năm sau ngày thành lập mới được công nhận là một trung tâm trí thức. Trước tiên, Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi mới thiết lập sở giáo dục, đứng đầu là một Đốc học và lần đầu tiên tổ chức thi hương vào năm 1796. Đồng thời một Trường thi xuất hiện trên làng Nghĩa hoà nằm ở phía Tây thành Gia Định (trên nền nhà Văn hoá Thanh niên ngày nay). Đã có 19 kỳ thi được tổ chức tại đây từ 1813 đến 1858, với tổng cộng 264 cử nhân (12% so với toàn quốc), tức một vị trí đáng kể nếu so với điều kiện địa phương như đã biết. Dần dần cũng có những trường công được thiết lập như ở Phú Mỹ và Mỹ hội.

Dân cư đa dạng mang theo văn hoá đa dạng, Sài gòn thực sự là lò luyện cho ra một văn hoá mới. Trong đó tất nhiên có cả khía cạnh tín ngưỡng. Đặc biệt sự có mặt cuả các nhà truyền giáo phương Tây là cơ hội để Sài gòn trở thành một trong những trung tâm quảng bá chữ quốc ngữ đầu tiên cuả Việt nam.

Trong khoảng 50 năm đó Sài gòn đã có chỗ đứng là một trung tâm trí tuệ với đầy đủ ý nghĩa cuả nó.

Để kết luận, chúng ta có thể khẳng định là trước khi người Pháp tới Sài gòn đã hội đủ các yếu tố cơ bản để phát triển và tự khẳng định.

Các sự kiện như chính sách thâm nhập vương quốc Khmer của chúa Nguyễn, cuộc chiến Tây Sơn, quyết tâm cuả vua Minh Mạng… chứng tỏ Sài gòn là một vị trí có tầm quan trọng chiến lược hàng đầu.

Trải qua bao cuộc binh biến Sài gòn không hề bị cản trở trong phát triển kinh tế với các hoạt đông chính là thương cảng và chế biến sản phẩm đến từ cả một vùng rộng lớn và trù phú.

Các yếu tố về vị trí chiến lược và kinh tế dẫn đến hệ quả Sài gòn là một trung tâm chính trị – hành chính hàng đầu.

Sau cùng Sài gòn còn có chức năng là một điểm hội tụ. Vừa là một thành phố cảng giao tiếp với năm châu Sài gòn còn là nơi mở rộng vòng tay đón di dân Việt cũng như Hoa. Tất cả người dân ở đây như cùng hướng về một mục đích, là phấn đấu cho một đời sống tươi sáng hơn nhưng lại không nhất thiết phải theo một khung có sẵn.

Thảo luận cho bài: "Đời Sống Xã Hội Của Sài Gòn Trước Thời Pháp Thuộc"