Hà Nội – Những Âm Thanh Vào Hạ

Tác giả:

Hà Nội vào hè sớm hơn các vùng quê. Bởi thiếu những không gian xanh, lại bị giam hãm trong những khối gạch ngói, bê-tông, dưới một khung trời nhỏ hẹp. Báo hiệu cho mùa hè là những cành phượng vĩ nặng trĩu những chùm hoa rực lửa. Và nhất là tiếng ve sầu râm ran, ra rả suốt ngày.

ha1

Vào đầu thập niên 30, nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu đã phát huy sáng kiến diệt lũ sâu bọ chỉ được cái nỏ mồm nhưng vô tích sự ấy. Rút cuộc chúng vẫn sống nhăn. Thế là cái đám người giàu có ở trong các khu phố Tây đành ngậm bồ hòn làm ngọt, để cho chúng tiếp tục quấy rối giấc ngủ trưa của họ.

Cùng với tiếng ve sầu là tiếng rao của các hàng quà rong mà cái âm thanh réo rắt hoặc cộc lốc của họ đã tắt lịm trong một thời gian dài từ mùa đông trải qua hết mùa xuân. “Ai kem một xu đi!” “Chè trân châu” “lát xê” (glacé) “Xệch cấu”! Tiếng rao pha trộn cả ba thứ tiếng: Ta, Tàu, Tây. Nhưng “xệch cấu” là cái gì? Một thứ kem chanh trắng như tuyết xốp, ăn tới đâu mát rượi tới đó. Ra hỏi các ông Tàu Hàng Buồm người ta mới biết đó là từ ngữ thạch cao phát âm theo tiếng Quảng Đông. Còn món bánh cuốn hấp tại sao lại gọi là “lốc bỉu”, thì người ta đành chịu thua, không hiểu nó xuất xứ từ một phương ngữ nào ở bên Tàu?Ngay từ tinh mơ, người Hà Nội đã bị đánh thức bởi những tiếng rao ơi ới. “Lạp xường lồ mái phàn”. Những đĩa xôi nóng hổi với những lát lạp xường mỏng tang tưởng như gió thổi cũng bay. Phải có một đôi tay điêu luyện mới thực hiện được những thao tác chính xác như thế. Để cho miếng lạp xường không bị vỡ và hình thù của nó không bị lệch lạc.

Hàng “Cà phê ô lê (au lait)” bánh Tây xuất hiện sớm nhất, khi thành phố hãy còn đỏ đèn. Còn tiếng rao buồn thảm nhất “Bánh dày bánh gi… ò… ò” vỗ vàomột không gian vắng lặng như báo cho mọi người biết rằng đêm đã về khuya. Nhưng cũng có những hàng quà chẳng bao giờ thèm cất tiếng rao. Như bún chả. Người đàn bà chít khăn mỏ quạ, ngồi ở một góc phố quạt phành phạch vào cái bếp than. Trong chốc lát, mùi thịt nướng tỏa ra thơm phức. Giờ ăn quà chiều của những người Hà Nội trung lưu. Hoặc như bún ốc. Với đôi quang gánh kĩu kịt trên vai, người phụ nữ buôn Tần bán Sở biết rõ những nơi nào mình dừng lại. Hai món quà này bán theo từng mẹt. Bún cũng được cuốn lại thành từng lọn tròn như cái bánh dày Quán Gánh, để khi đưa vào miệng cùng với con ốc thì vừa gọn một miếng. Khi nào có khách tới ăn, người ta mới nhể ốc, chứ không nhể đại trà để sẵn cả một rổ như thường thấy dạo sau này. Trông mất cả ngon!

Người bán quà rong lười rao nhất là các ông hàng phở. Năm thì mười họa mới nghe vẳng lên một tiếng “phở… ở”! Điểm đặc biệt của họ là cái mũ đội trên đầu. Nếu là mũ phớt (feutre) chí ít cũng có vài ba lỗ thủng và mầu dạ cũng bạch phếch. Nếu là mũ cát (casque) thì cái chóp cũng không còn nữa. Và từ những lỗ thủng ấy lòi ra những sợi tóc. Người Hà Nội gọi đó là những cái mũ phở.

Những tiệm phở ngon của thành phố có thể đếm được trên đầu ngón tay. Phở Mi-xô (Michaud), phở Nghi Xuân, phở Cầu Gỗ… Thông thường chỉ có mấy món, tái, chín, gầu. Sau này người ta mới vẽ ra những thứ tái sách, tái bắp, rồi nạm, vè, sụn. Nhưng ly kỳ nhất là phở… chó. Dĩ nhiên nó chỉ xuất hiện ở một vài vùng ngoại thành hoặc một vài nơi phố huyện miền quê.

Thảo luận cho bài: "Hà Nội – Những Âm Thanh Vào Hạ"