HIV em là ai

Tác giả:

HIV em là ai
Giản dị hóa thế này cho dễ nhớ hén.

1.
Tế bào nào cũng có cái nhân và trong nhân này DNA huy hoàng ngự trị. DNA là hai sợi dây làm bằng đường và phosphate (sugar-phosphate) xoắn vòng lấy nhau, nằm giữa hai sợi dây này là những “cầu nối” . Cầu nối y chang những bậc thang có cấu trúc căn bản là 4 chất hoá học đi theo từng đôi, cặp A-T và cặp C-G, phân bố theo một trình tự liên tục lập lại. Trình tự này ngôn ngữ di truyền kêu bằng sequence.  Chính các sequences này xác định tín hiệu di truyền tức genetic code (ước lượng khoảng 3 tỉ ở tế bào con người – dễ nể hông) 

Khi tế bào phân hóa, nghĩa là sanh sôi nảy nở, tín hiệu di truyền của DNA sẽ được mang bằng những messager RNA.
Cách khác… DNA là tía má của RNA.

2.

HIV gọi là retrovirus vì trình tự sanh sản của nó lộn tùng phèo.
Trước hết HIV là một loại virus chi có RNA (1 sợi). Khi vào cơ thể, virus mần màn retro, nó bám vào thành tế bào chủ rồi tiết enzym “reverse transcriptase”. Chính enzym này sẽ biến RNA thành DNA (nhân đôi thành 2 sợi).
Rồi virus lại dùng một enzym khác có tên “integrase” để đưa DNA này lọt hẳn vào trong nhân, dính luôn vào DNA của tế bào chủ và thay đổi luôn genetic code của tế bào chủ (tức tế bào bị nhiễm virus).
Điều trị AIDS nghĩa là tìm cách ngăn chặn, cắt đứt tiến trình của virus một khi chúng xâm nhập vào cơ thể, và một trong những phương thức ấy là ức chế hoạt động của hai enzyms reverse transcriptase và integrase này đây.
HIV gọi là lentivirus vì thời gian ủ bịnh incubation (từ lúc bị nhiễm virus, cảm cúm sơ sài đến lúc triệu chứng bịnh AIDS xuất hiện) kéo dài, có thể từ vài chục ngày đến vài chục năm.

3.

HIV ưu ái đặc biệt helper T cell, nên thông thường số lượng helper T cell (CD4) được dùng để thẩm định tình trạng và giai đoạn tiến triển của bịnh, đồng thời quyết định thời điểm trị liệu và theo dõi.
4.
Có đi thì có lạc. Tiến trình di chuyển của genetic code cũng y chang. Term di truyền của chuyện đi lạc này kêu bằng biến chủng mutation. Nhưng trời sanh trời dưỡng, cơ thể sanh vật thường có khả năng “tự phê tự kiểm” rồi “tự điều chỉnh” để sống còn.
Ở một số virus, khả năng tự điều chỉnh này rất yếu, thế nên virus mới biến chủng lia chia. Kết quả : trên nguyên tắc cùng dòng virus, nếu không biến chủng chi dzáo thì chủng ngừa 1 bận coi như… tình sẽ trăm năm (lóng ni chắc ăn, người ta mần màn booster, lay tỉnh &  kích thích đám antibody đang ngủ gà ngủ vịt đâu đó cho chúng ồn ào thức giấc)
Nếu genetic code ấm ớ thay đổi hoài cũng kẹt. Thay chầm chập thì còn hy vọng chế kịp thuốc chủng và chế định kỳ (bằng cách lần theo sequence) như trường hợp virus cúm Influenza A, chớ còn thay và thay quá lẹ như HIV thì đành thúc thủ, khỏi chế thuốc chủng chi dzáo vì làm sao có thể theo virus cho kịp !

5.

– Trong lãnh vực khảo cứu khoa học, bao giờ cũng có những điều kiện cần thiết được các nhà khảo cứu xúm lại đặt ra hầu tiêu chuẩn hóa  một cách căn bản những khám phá trong từng lãnh vực khảo sát.
Virology và di truyền tế bào tuy là ngành khoa học sanh sau đẻ muộn, nhưng đã tiến triển vượt bực kể từ đầu thế kỷ 20, với sự xuất hiện của kiếng hiển vi điện tử, có khả năng phóng đại hàng chục ngàn lần những vi sanh vật.
– Trong Virology, hai điều kiện phải có để “tìm ra” một loại virus mới là :
a/
Phải isolate được virus, nghĩa là tách rời virus ra khỏi môi trường hỗn độn xung quanh, rồi chụp hình dán tên cho nó ( ID card)
b/
Phải theo dõi để tìm ra cách thức sinh sống hoặt động của nó trong “môi trường sống”, nghĩa là phải cấy được nó trong một dòng tế bào sống và sống liên tục (immortal cell). Nói cách khác virus phải sinh trưởng trong dòng tế bào sanh sôi nảy nở triền miên (cái kiểu như stem cell hén) không hề bị gián đoạn (nghĩa là tế bào chết và dòng tế bào tiêu luôn).
Đây là hai điều kiện cần thiết trong khảo cứu virology. Thông thường các phòng khảo cứu khoa học trên toàn thế giới giữ liên lạc chặt chẽ với nhau để truyền bá kiến thức, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và trao đổi cả mẫu nghiệm dùng trong khảo cứu.
*

David versus Goliath – Vụ án HIV

Trào Nixon, y tế mỹ “hạ quyết tâm” dứt điểm ung thư. Quốc gia lẫn tư nhân dồn tiền vào lãnh vực khảo cứu, cốt mong tìm ra nguyên nhơn và từ đó tiến dần đến trị liệu.
Đầu thập niên 70, một ánh sao bỗng rực rỡ toả ánh sáng trên bầu trời y học, ánh sao mang tên Robert Gallo.

Bên trời tây, viện Pasteur của pháp đương nhiên nhập cuộc.
Dẫn đầu nhóm khảo cứu của viện Pasteur là tiến sĩ Luc Montagnier, chuyên khoa virology.
Đầu thập niên 80, viện Pasteur Paris gởi bà Barre Sinoussi, tiến sĩ khảo cứu virology sang mỹ để học phương thức cấy virus trong môi trường khảo sát tại phòng thí nghiệm Gallo, hầu về áp dụng tại đất nhà.

*

Đầu năm 1983 (3rd January) viện Pasteur nhận được từ nhà thương Salpintière Paris, mẫu nghiệm cắt từ hạch cổ của một anh ghê-gớm tên Frederic Bruyère.1979 Cu Bru khi ấy 33 tuổi, thiên di sang New-York sống phóng khoáng như mây trời và thay nhơn tình như thay quần xà lỏong. Rồi anh dzìa lại Paris và đi luôn vào bịnh viện vì chứng bịnh lạ lùng chưa có tên tuổi (anh chết năm 1988). Mẩu nghiệm được đặt tên BRU rồi được mang giao cho Barre-Sinoussi đem đi cấy trong các tế bào máu đặng dòm chừng.

Trong vòng 15 bữa, hổng thấy vi sanh vật nào xuất hiện ráo trọi nhưng bù lợi, lượng reverse transcriptase tăng vọt, chứng tỏ có retrovirus nào đó đang hiện diện (virus trốn trong nhân tế bào thì sao mà phát giác ra nó được, trời) Nhưng tới ngày 15 thì các tế bào nhiễm virus lăn đùng ra chết hết một lượt, reverse transcriptase trờ dzìa mức zero ! Rồi lại lôi mẫu nghiệm (giữ frozen ở nhiệt độ -80 Celcius) ra cấy nữa rồi cấy nữa….

Tuy hổng nhận diện ra virus nhưng Montagnier cũng được Gallo gởi cho hóa chất tương đương như antibody của virus HTLV (1 và 2), sẽ tạo phản ứng khi chạm vào antigen (virus).
Nhưng phản ứng antigen-antibody đã không xảy ra, thế nghĩa là… con retrovirus BRU hổng phải là con HTLV (cả 1 lẫn 2) của Gallo. Nói cách khác… retrovirus này hoàn toàn mới toanh xi hảo. Rồi nó được đặt tên làLymphadenopathy Associated Virus LAV.

Ít lâu sau, May & June 1983, viện Pasteur nhận thêm được hai mẫu nghiệm lấy từ hai bịnh nhơn khác có triệu chứng AIDS, một homosexual, một hemophile đã từng được truyền máu, mẫu nghiệm mang ám số IDAV 1 và IDAV 2 (Immune Deficiency Associated Virus).
Kết quả : virus cô lập được từ hai mẫu nghiệm này cũng y chang virus BRU (tức LAV).

*

Lúc này coi như đã đủ tiêu chuẩn để tuyên bố chắc ăn việc khám phá ra dòng virus mới gây AIDS.
Noblesse oblige… Montagnier gởi cho Gallo hai mẫu nghiệm với điều kiện là ‘chỉ được dùng cho công cuộc khảo cứu chớ cấm xử dụng cho mục đích thương mại.
Rồi team của Gallo cũng tìm ra virus và đật tên là HTLV-3.

Tới đây thì hai teams dzáo dziết chạy đua với thời gian để kiếm ra test xét nghiệm định bịnh. Mùi tiền đã ngửi thấy trong gió.
Test của Montagnier có tên ELIZA, chế từ LAV.
Test của Gallo có tên Western Blot chế từ HTLV-3.

Rồi cả hai cùng đi xin bằng phát minh hầu như một lượt.
Montagnier được cấp bằng ở âu châu, nhửng ở mỹ thì còn phải chờ cứu xét theo đúng thủ tục. Trong khi ấy, Gallo lại được cấp bằng cái ào trước cả thời hạn luật định.

Giới y học, báo chí và chánh trị của cả hai nước bỗng chụm lại ngó vào, vấn đề được thổi phồng lên thành một cuộc tranh chấp pháp lý để… giữ thể diện quốc gia. Mọi chi tiết theo trình tự thời gian được đưa lên… bàn mổ.

Ông nói ông phải bà nói bà hay.
Pháp cho là mình đã kám phá ra virus trước mỷ (hồi bỏ antibody HTLV của Gallo vào mẫu nghiệm BRU mà phản ứng antigen-antibody không xảy ra).
Mỹ đưa bằng chứng hùng hồn, rằng tụi tui tìm ra virus sau nhưng lại tìm ra cách cấy liên tục trước (nghĩa là dòng tế bào chủ tiếp tục sanh sản chớ hổng hề bị gián đoạn – xin coi lại phần trên).

Rồi hổng hiểu cách nào đó, báo chí mỹ phanh phui, rằng vì Gallo có specimen của Montagnier, nên có thể HTLV-3 và LAV đều cùng một gốc. Chưa kể là cách định danh của Gallo là bằng chứng hùng hồn việc sai lạc, chứng tỏ Gallo chẳng hiểu gì ráo về khám phá của mình.

Rắc rối định danh ấy như thế này :
HTLV nghĩa là human T cell leukemia virus, HTLV-1 và HTLV-2 quả thiệt là virus gây leukemia.
Nhưng HTLV-3 gây AIDS chớ đâu có gây leukemia, thế thì 3 là 3 cái chỗ nào ?

Gallo gân cổ cãi lại : A… đừng có trắng trợn vu khống tui chớ, HTLV-3 có nghĩa là human T cell lymphotropic virus, mà gọi tắt thì cũng là HTLV, nên mới bắt buộc phải thêm số 3 dzô cho… rõ ý. Cũng là HTLV đó nhưng chúng đâu có giống nhau !

*

Dư luận mỹ bất bình, chánh phủ mỹ bèn lập hội đồng giám định mần màn điều tra, đám Pasteur cắc cớ lôi HTLV-3 của Gallo ra ngó sequences, rồi tìm ra rằng, cả hai đều chung tổ tiên cội nguồn ở pháp từ một người bịnh duy nhứt !
Hội đồng giám định tuyên bố Gallo thiếu đạo đức chức nghiệp, cố ý lập lờ đánh lận con đen.
Dĩ nhiên là Gallo kháng án…

Trong khi ấy Viện Pasteur lôi Gallo và lab của Gallo ra trước toà, đòi bồi thường thiệt hại (mấy chục triệu) đòi chia đôi lợi nhuận tiền bán test Western Blot, và chia từ A đến Z.
Toà dùng dằng hổng biết xử thế nào cho đôi đàng vẹn vẻ.
Hội đồng giám định khoa học hoa kỳ điều tra một hồi rồi kết luận Gallo vô ý nên vô tội. Mẫu nghiệm của Gallo bị nhiễm LAV (của Montagnier) là vì cu Popovic ẩu tả thiếu tinh thần khoa học (cho đáng kiếp, ai biểu).

Xen cuối cùng :
Nguyên thủ hai nước pháp mỹ gặp nhau nói phải quấy. Mỹ nhìn nhận chuyện lây nhiễm mẫu nghiệm, tuy pháp cô lập virus nhưng mỹ cấy được virus trước. Viện Pasteur hạ thấp tiền bồi thường xuống còn 1 triệu đô (để trả án phí), pháp được chia 50-50 tiền bán test Western Blot kể từ ngay ký kết thoả ước sau cùng.
Vụ tranh chấp kèo dài 10 năm, kết thúc vào mùa hè 1994.

Năm 2008, Luc Montagnier và Barre-Sinoussi bợ Nobel y học.
Năm 2010, Luc Montagnier buộc phải về hưu theo đúng luật định. Ông vừa cắp hoa li về tới nhà thì đã có đám tàu phù chờ sẵn trước cửa nhà, bê ông thẳng ra private jet rước liền sang đại học Thượng Hải giảng dạy.
Liệu dzồi con én già Montagnier có sẽ mang mùa xuân về tới đại học Thượng Hải hay không thì chỉ có trời mới biết đặng !

Thảo luận cho bài: "HIV em là ai"