Hồi Ký Kẻ Tha Hương

Tác giả:

1/2006
Tôi vẫn còn nhớ thời xa xưa ấy, hình ảnh của chính tôi, một bé gái đáng thương bị người mẹ lìa bỏ. Lúc tôi khoản bốn, năm tuổi, má tôi nói:

“Má sẽ đưa con về nội ở để cho con học hành. Nội con giàu lắm, bà sẽ lo cho con tốt hơn má. Má sống rày đây mai đó, lại còn có em nhỏ tật nguyền. Ráng ở với nội nghe con.”

Thế là tôi về nhà nội ở cồn Ðồng-Phú tỉnh Vĩnh-Long. Tôi vẫn còn nhớ đó là một ngày mưa tầm tã. Con đò tròng trành đưa má con tôi về một vùng quê trù phú, giàu có, cô đơn, và xa lạ. Căn nhà nội tôi thật to và đẹp, có mấy chục công vườn cây ăn trái bao quanh. Chỉ có điều ngoài ông bà nội, bà cô năm chưa chồng, và mấy người ở ra, tôi không thấy có ai khác. Căn nhà trang hoàng lộng lẫy theo kiểu Mỹ tân thời và rộng thênh thang. Nó lặng im đến nỗi tôi toàn nghe thấy tiếng thằn lằn chắc lưỡi ngày cũng như đêm.

Tôi không nhớ mấy người lớn nói chuyện ra sao. Nhưng đêm đó nằm ngủ kế bên má tôi, tôi biết chắc má tôi sẽ bỏ tôi. Nên dù buồn ngủ tôi cũng cố thức cho tới khi mỏi mòn khuya khoắt mới chịu thiếp đi. Tiếng còi tàu lanh lảnh trong đêm đánh thức tôi dậy. Tất cả các giác quan trong người tôi bừng bừng lo sợ. Sau khi quờ quạng thấy bên mình trống không, lao ra khỏi giường nhanh như cắt, tôi thấy má tôi đang xách hành lý xuống tàu. Tôi chạy theo khóc thét trì kéo má tôi:

“Má ơi đừng bỏ con. Má ơi đừng bỏ con.”

Tôi khóc nức nở và không ngừng van vỉ. Một người nào đó bồng xách tôi lên. Tôi bất kể cứ gào thét giẫy giụa đến khản cổ. Nhưng cuối cùng chiếc tàu to khủng khiếp cũng đưa má tôi đi mất. Tôi nghe tiếng còi tàu xa dần và mất hút. Tự nhiên cả người tôi sụm xuống, lã đi, không còn khóc được nữa. Một ý niệm mới bỗng dưng hiện lên trong trí óc non nớt của tôi: “Má mầy bỏ mầy thật rồi, từ đây mầy sẽ sống trong căn nhà xa lạ, giữa những người xa lạ. Những người mà đối với tôi, từ lúc đầu đã chẳng có chút an ủi thân thiện.”

Cả người bé nhỏ của tôi rung lên tức tưởi, hòa lẫn với nỗi sợ hãi câm nín.Có lẽ cú sốc đầu tiên này đã làm cho tôi mãi về sau vẫn luôn luôn tự nhủ: “Ðừng trông cậy vào ai ngoài chính bản thân mình.” Sau này mỗi lần nhìn thấy đứa con gái đầu lòng bé bỏng của tôi, lòng tôi luôn nhắc nhủ: “Ðừng bao giờ bỏ con mình trong bất cứ hòan cảnh nào, dù phải hy sinh tính mạng.”

Ðầu óc tôi lúc đó còn non nớt, quay cuồng đang tìm cách bám víu một hy vọng nào đó. Bỗng dưng tôi nhớ ra lời nói cuối cùng lúc ra đi của má tôi:

“Tết má sẽ về thăm con.”

Thế là tôi bám víu niềm hy vọng đó. Ngày lại ngày qua, ngoài việc sống một phần đời như một đứa trẻ bình thường, tôi còn có một phần đời khác của một đứa trẻ thiếu hẳn tình thương và sự chăm sóc của ba mẹ. Nghe nói ba tôi đang làm trưởng ty quan thuế ở tỉnh Long-Xuyên và đang sống vui vẻ hạnh phúc với vợ lớn và các con. Tôi tự hỏi ông có bao giờ nghĩ đến tôi là một đứa con rơi của người vợ lẽ bỏ lại. Trong căn nhà buồn bã và cô đơn này, tôi luôn tìm một xó xỉnh nào đó như góc bàn thờ, kẹt tủ, núp kín mình trong đó khóc thút thít, ray rứt nhớ người mẹ vô tình. Hòa điệu là tiếng thằn lằn chắt lưỡi như thông cảm cho nỗi khổ mất mẹ của tôi.

Trong suốt khoảng thời gian thơ ấu, điều quan trọng nhất của tôi là TẾT. Tết nào má tôi cũng về thăm mang đầy quà, quần áo, và bánh kẹo. Ba tôi, má lớn, cô dì, cậu mợ, con cái của họ cũng đều về quê ăn Tết. Lúc đó tôi được mọi người đối xử tốt hơn vì thấy má tôi đẹp đẽ, chưng diện, chi tiền hào phóng. Bà nội là người hay đánh đập tôi oan ức cũng tốt với tôi hơn. Nhưng hạnh phúc này quá ngắn ngủi, sau hai, ba ngày má tôi lại ra đi. Và tôi lại rưng rức đau buồn khóc lóc. Có lần tôi đã bị ba tôi bạt tay té nhào xuống đất vì tôi lấy hết quần áo chạy theo má tôi bị ba tôi ôm lại tôi tức quá chửi thề.

Những ngày sau khi má tôi ra đi thật là buồn. Lũ anh em họ của tôi cười cợt và chọc ghẹo tôi:

“Má mầy bỏ mày luôn rồi.”

Tôi bịt tai, bịt mắt lại, không muốn nghe, không muốn thấy. Cũng có khi quá tức tôi cố gắng bênh vực:

“Má tao Tết năm tới sẽ về cho tao nhiều đồ hơn tụi bây.”

Tuổi thơ của tôi trôi qua như vậy. Nỗi đau khổ mất mẹ từ từ phai lạt. Tình cảm trong người tôi chai đá. Tôi bị mọi người la rầy, trách mắng, đánh đập, đày đọa như một con ở. Trong tôi dần dần hình thành một lớp vỏ sắt đá tự bảo vệ chính mình. Thật ra cũng có đôi người thương hại hoàn cảnh của tôi, phần đông là người ăn kẻ ở, vì họ thấy tôi đáng thương hơn họ, một con bé mồ côi, không ai thương yêu chăm sóc, lại phải làm lụng như một con ở. Năm tôi sáu tuổi, tôi phải tự giặt đồ, tự chăm sóc bản thân mình, phải làm việc nặng nhọc như một người lớn. Bàn tay tôi cứng ngắc vì đầy những vết chai. Tôi trở nên bướng bỉnh, cứng đầu, và khôn trước tuổi hơn ai hết. Bài học lớn nhất trong tuổi thơ khốn khổ và mất mát của tôi là phải tự lo và bảo vệ cho mình.

Tôi còn nhớ lúc nhỏ tôi thường hay có những giấc mơ màu đen. Tôi nói màu đen để phân biệt những giấc mơ khác có màu sắc rực rỡ. Tôi thường mơ thấy mình đi trên một con đường tối đen, và phía trước tôi xa lắm là một vùng trời sáng. Tôi cố chạy tới vùng sáng đó nhưng càng chạy càng thấy mỏi mệt, càng thấy khoảng cách xa hơn. Khi tỉnh dậy lúc nửa đêm, tôi bao giờ cũng thấy buồn cho tương lai của tôi và thầm nhủ:

“Mày phải cố gắng tự giải thoát ra khỏi cái hiện tại tối tăm này.”

Tôi là một đứa bé có nhiều suy nghĩ rắc rối hơn những đứa bé thông thường. Có lẽ tại nhờ đau khổ, và nhờ cái thói ham đọc sách, cái gì cũng đọc, chuyện người lớn, trẻ con gì cũng đọc nên tôi có một tri thức rất dồi dào. Tôi mê đọc sách đến nỗi nhiều lần đã bị ăn đòn vì lén đọc tiểu thuyết tình cảm Quỳnh Dao, kiếm hiệp Kim Dung…

Tôi bắt đầu viết nhật ký rất sớm lúc tám, chín tuổi. Nhật ký của tôi có đôi khi đầy nước mắt thương thân mỗi khi bị những trận đòn oan nghiệt. Tôi luôn tự khuyên mình:

“Hãy ráng chịu đựng. Ngày nào đó tôi sẽ tự giải thoát cho mình.”

Cũng may trời cho tôi một trí thông minh, giống như một sự đền bù cho tôi sau khi lấy đi tất cả những cái mà tôi cần phải có như cha mẹ, tình thương, và hạnh phúc tuổi thơ của tôi. Tôi luôn là học sinh giỏi nhất lớp. Tôi chưa bao dùng hết sức mình học nhưng vẫn là học sinh đứng đầu. Tôi có phần trở nên tự kiêu theo như lời của một số giáo viên.

Thảo luận cho bài: "Hồi Ký Kẻ Tha Hương"