Hương Cảng Tạp Ký

Tác giả:

Đến phi trường Kải-Tắk vào một buổi sáng hè thật đẹp trời, nóng và ẩm. Cái nóng hâm hấp, nhơm nhớp mồ hôi của vùng nhiệt đới Á-Đông mà đã lâu lắm rồi tôi chưa tìm thấy. Mười mấy năm rồi còn gì; mười mấy năm lạc lõng, lang thang, bơ vơ, chó má, ghẽ lở tâm hôn, phì nộn thể xác. Phồng lổ mủi hít cái mùi gây gây quen thuộc, rít một hơi thuốc thật dài để chất nhựa quyện lấy khí ẩm, bám chặt vào buồng phổi, để tìm lại cái cảm giác sa đoạ của những ngày Sàigòn dạo nào. Nhìn quanh thấy toàn đầu đen, toàn những thân xác khô cằn nhỏ thó, đây đó lác đác một vài gã hồng mao lêu khêu lạc lõng; một thoáng hài lòng khi thấy mình không còn là thiểu số. Rồi ngôn ngữ bất đồng đánh mất cái hài lòng đó, trả mình về cái thế dỡ dỡ ương ương của những năm lưu vong khốn nạn. Huê kỳ bây giờ là tối, đây là sáng, thể xác mỏi mệt đòi ngủ, đầu óc khích động muốn thức; mừng, vui, mệt, lo, thích, bàng hoàng, hoan mang, không xác định được tình cảm. 


Về khách sạn ngủ một hơi dài, tỉnh người, lại sức, lại hồn, tắm một phát thấy đời còn đáng sống. 

Thả bộ một vòng, thãnh thơi như khách nhàn du vô tư thế sự. Nhìn mấy nàng Hồng-Kông mủm mĩm, mặc áo hở nách, từng chùm đen lúc ẩn, lúc hiện, lại tưởng đến những vùng đất cấm phì nhiêu dấu kín, ngón tay thừa ngoe nguẩy vùng lên… Thấy mình xác thịt quá, dâm đảng quá, nhưng cũng rất là "người". Đây cũng là một trong những lý do để mình sống, và cũng là nguyên nhân sự có mặt của mình trên cuộc đời, đành chấp nhận nó như một thiên nhiên của tạo hoá, mà đã là thiên nhiên thì tuyệt diệu, chỉ có đầu óc u tối của con người mới có thể bóp méo, biến nó thành một thứ gì ghê tởm, để rồi cuối cùng cũng không ai thoát được cái định luật của trời đất. Bởi vậy, ai chưởi cũng đành chịu. Chưởi hay không thì mình cũng phải sống, mà thể xác luôn luôn là một phần của cuộc sống, không thể nào chối cải được. 

Ở Mỹ, trong giới phụ nữ, ai nấy đều nhẵn thín, trơn tru, làm mất hết cái vẽ "tự nhiên", "thành thật" của con người, đúng là một sự phản thiên nhiên. Bỗng nhớ tới lời dạy của thầy Trang Tử "Thân thể phát phu thọ chi phụ mẫu; thân sinh hiếu tử bất khả điểm thương." Đại khái là thân thể tóc râu đều là thọ ơn của cha mẹ, làm con có hiếu thì không được huỷ hoại đi; chí lý thay thầy Trang Tử! – Buồn một nổi, thời này có mấy ai nghe? 

Người đâu đông quá là đông. Từ các ngõ nghách, từ ngoài đường, ngoài hẽm, trong tiệm, trong quán, chổ nào cũng người là người, lui tới tấp nập như kiến động ổ. Điều đặc biệt là ở đây gái có vẽ nhiều hơn trai. Các cô một mí với cái nét dâm ngầm, mắt nhìn xuống chứa đầy sự chịu đựng, tiêu biểu cho cái tinh thần chấp nhận vô biên của người con gái Á-Đông. Chả bù với các nàng bên Mỹ, mặt em nào em nấy đều vênh lên như ca sĩ vườn vừa tập tành đi hát. (Đây chỉ nói riêng về đám mít nhà mình, một nhận xét nặng phần chủ quan, nhưng được phổ biến rộng rải trong đám ế đào, ế vợ). 

Tsim-Sha-Tsủi, một khu phố phồn thịnh nằm mút bán đảo Cũu-Long, luân chuyên náo nhiệt, linh hoạt bởi sự chuyễn động không ngừng của từng làn sóng người di chuyển từ muôn phía, đến từ muôn nơi. Đám thanh niên thiếu nữ trẻ tuổi tung tăng qua các của hiệu đầy dẫy hàng hoá, nhìn nhiều mà không sắm, ngắm mãi mà không mua. Niềm vui của họ nằm trong thế giới mộng tưởng, biểu lộ qua những cái nhìn thèm muốn, qua những sờ mó nâng niu, qua những ánh mắt đắm đuối, ao ước mộng mơ. 

Ở một nơi người dư đất hẹp, cái cảnh "tam đại đồng phòng" (ba thế hệ ở chung một phòng) là chuyện thường. Nơi ăn chốn ở quá chật hẹp, mọi người đều có khuynh hướng túa ra đường, chỉ về nhà khi nào thật cần thiêt. Trái với thông lệ của các nước Á Châu, thanh niên thiếu nữ ở đây lập gia đình thật trể, vì lý do giản dị là không kiếm đâu ra được một chổ có thể tạm gọi là thích hợp cho cuộc sống riêng tư của vợ chồng. Những cao ốc đã lan dần ra biển. Dọc bờ nước, trên những cây cầu tản bộ, lúc nhúc đầy ngập những khuôn mặt trẻ trung. Họ ra đây để tình tự, để chuyện trò, để du dương, để mơ mộng, để tìm một khoảng trống hiếm hoi, tìm một mảnh trời giới hạn. Những nụ hôn, những ve vuốt được vội vàng trao đổi mà cường độ nóng bỏng cũng tăng dần theo bóng tối. Màn đêm càng dày thì sự hoạt động của xúc giác càng tới độ mãnh liệt. Giũa khung cảnh đó bỗng nhớ bến Bạch-Đằng, nhớ phố phường Sàigòn đã từ lâu thiếu vắng, nhớ người em nhỏ áo trắng thơ ngây. Cái ngơ ngáo của một thằng con trai mới lớn, từ tĩnh lẻ về đô thị, đang dần dần trở lai. Đứng giửa rừng người, thấy mình càng lạc lõng cô đơn, những tưởng đây là xứ nhà, đất mẹ… 

Vào quán kêu một tô mì ăn cho "đở buồn". Cái diện tích hạn hẹp được trưng dụng tới mức tối đa; cứ bốn năm người ngồi chụm quanh một cái bàn nhỏ xíu, cùi chỏ ép sát vào người kia, ăn uống phải thật cẩn thận, sợ chọc đủa vào mặt người ngồi bên cạnh. Ăn xong, vừa đặt đủa xuống là có người dọn ngay, vừa nhớm đít lên là đã có cái mông khác trám chổ, thảo nào lúc nãy vừa ngồi vào đã thấy ấm. Hơi bất mãn vì bị khước từ cái thú lúc no nê, vừa thoải mái uống trà, vừa nhâm nhi xĩa răng, vừa thưởng thức cái dư vị của đồ ăn còn lãn vãn trong môi, trong lưỡi. 

Trở về khách sạn tìm một chút nghỉ ngơi, một vài giây phút yên lặng. Mấy anh bồi trong những bộ đồng phục sang trọng, cung kính nghiêng mình mở cửa, cúi đầu chào đón. Vẫn với cái áo thung, cái quần jean te tua cố hữu, tự cảm thấy có hơi đối chọi với cái khung cảnh lộng lẩy tráng lệ của khách sạn, nhưng mình đang đội lốt khách du lịch, mà đã là du khách thì có quyền ăn bận thật lố lăng, thật bê bối mà không ai phàn nàn gì cả, miễn cứ xìa tiền ra là được. Ôi! mãnh lực của đồng tiền, nhất là đồng tiền của một cường quốc; chỉ tiếc thay nó không thoả mãn được cái khát khao của một người bơ vơ mất nước, mất nguồn, mất gốc, mất cả một vùng trời yêu thương trìu mến. Cũng may còn giũ lại được cái đam mê… 


Phạm Pháp

 

Thảo luận cho bài: "Hương Cảng Tạp Ký"