Huyệt Tuyết

Tác giả:


Tin tức mười giờ tối báo trước rằng nửa -dêm sẽ có tuyết lớn. Khi tắt -dèn đi ngủ, đồng hồ chỉ quá mười hai giờ rưỡi, Thế nhìn ra trời vẫn chưa thấy tuyết. Tuyết chưa rơi nhưng chàng cảm thấy có sự khác thường: Không gian im lìm, cỏ cây bất động, sững sờ. Từ xa, phía trên rừng, một tiếng hét đột ngột vang lên rồi tắt ngay. Thế tự nhủ, lại cái giống chim -dêm kỳ quái, tiếng kêu ngắn, sắc, lanh lảnh như tiếng người. 


Thế tỉnh giấc, nhìn đồng hồ dạ quang trên bàn nhỏ cạnh giường. Ba giờ sáng. Nghe có tiếng lao xao rì rào bên ngoài, đoán là tuyết đang rơi, rơi mạnh. Thế khẽ vén chăn, ngồi dậy, khuơ chân kiếm dép, rón rén lần ra phía cửa sổ. Vườn sau đã trắng xóa. Mái nhà, thấp hơn từ mặt hậu nên dễ thấy, cũng trắng xóa. Cứ xét bề dày biết tuyết đã rơi mạnh liên tục, khá lâu. Thế nghĩ nếu cứ thế này thì đến khi mặt trời lên, tuyết có thể dày ba bốn chục phân. Nghĩ vậy, chợt thấy lo lắng, nhưng Thế không nghĩ tiếp, quay trở lại gường chui vào chăn. Vợ chàng ú ớ mấy tiếng khẽ, rồi thở đều, coi bộ ngủ say.
Thế nằm một chân co một chân duỗi theo một tư thế thoải mái đã quen lâu năm. Tấm chăn độn lông ngỗng thật ấm, túm lại ở vai, ôm lấy chàng. Hai tay Thế lọt vào dưới thắt lưng luồn giây thun, úp lên bụng dưới. Chàng có cảm tưởng thân xác to lớn dị thường. Tay chàng chạm phải gân thịt mình, căng thẳng, cứng, mịn. Thế vuốt ve, vuốt ve, vừa đủ khoái cảm để từ từ êm ả chìm vào giấc ngủ. Tay Thế mân mê nhè nhẹ cái đầu tròn mướt trong khi tai chàng vẫn nghe tiếng tuyết rơi bên ngoài, lao xao muôn ngàn tiếng thì thào có thể nghe mà không thể hiểu. Khi giấc ngủ trôi về lại, xóa nhòa ý thức cuối cùng của Thế cũng là lúc chàng rút hai tay ra khỏi dưới lưng quần, duỗi chân co ra, gập chân thẳng lại, đổi thế nằm, và buông thả cho toàn thân bềnh bồng trôi theo tiếng tuyết đêm rơi rơi…
Thế phủ hai ống quần vải dày luồn giây thun ở mắt cá ra bên ngoài ủng vì chàng muốn tránh tuyết chui vào giày. Bảy giờ sáng, còn lất phất. Mấy tiếng tuyết đổ, cả vùng núi đồi ngập lụt. Thế mang ủng cao đến gối: Từ nhà lên kho chứa củi có nơi bước lụt cả ống quyển. Tuyết dày thế kia mà vác những khúc gỗ lớn, mỗi cái mươi mười lăm ký, đi lên đi xuống mấy lần khoảng cách trăm thước này, Thế ngần ngại. Chàng nghĩ đến việc đóng một chiếc xe trượt tuyết dã chiến: Hai tấm ván dày, loại 1x12x8, cột hai đầu lại với nhau. Coi phim truyện Viễn Tây, chàng vẫn thấy người ta chặt cây, buộc lại thành một thứ "băng ca" rồi dùng ngựa kéo. Chàng có thể đặt gỗ đốt – firelogs – lên, chằng lại cho chắc rồi đẩy xuống đồi… "Cái khó bó cái khôn", Thế tự nhủ, cười thầm.
Khí trời sáng sớm sắc nhọn len vào phế quản làm cho Thế vừa đau rát vừa sảng khoái. Mỗi bước chân thọc vào tuyết sâu làm thành một lỗ hủng đen ngòm. Thế cúi xuống lấy gậy khời khời: Tuyết mỏng dưới chân giày để lộ ra lớp lá chết ướt mèm, lá từ mùa thu trước. Chàng nhìn xuống chân đồi. Từ chỗ Thế đứng xuống đến cánh đồng bắp ngô đã được gặt trắng xóa một màu và xa hơn là con hương lộ. Tuyết trắng phủ lấp tất cả. Chàng biết được con đường làng nằm ở đâu chỉ nhờ vào địa điểm những cột điện xa xa. Một cành cây, một tảng đá là những mảng, những vệt đen đặc trong nền trắng trinh tuyền. Quanh quất chỉ có trắng đen tương phản cùng cực.
Vì thế, khi Thế quay người tiếp tục đi lên đồi, một điểm màu sáng làm chàng giật bắn người. Chàng lắc đầu, nhìn lại. Một mảng nhỏ, hồng tím. Một sắc hồng tươi pha tím, màu hồng tím của một loài bông giấy, có thể gọi là magenta hay fuschia. Thế nghĩ thật nhanh: Ai đó đã đánh rơi cái khăn choàng. Một mảnh giấy gói quà – lễ Giáng sinh mới qua tuần trước – gió thổi tạt từ đâu tới. Một ý nghĩ khác cũng vút qua thật nhanh: Tuyết lớn như -dêm qua, khăn hay giấy gì thì cũng bị phủ ngập đi rồi. Trong một khung cảnh hoang dã như đây, mênh mông chỉ có trắng của tuyết và -den của cây cành, mảng màu tươi rói đằng xa có đấy như một sự bất thuần hợp, quá hơn thế, như một thách thức, vừa đột ngột, vừa phi lý. Sự có mặt bất ngờ đó làm cho Thế rợn cả người. Sáng ấy, Thế đã cẩn thận tròng thêm vào người bộ đồ lót thermal để giữ thân nhiệt lâu dài. Vậy mà cái rợn người làm chàng lạnh buốt sống lưng. 

Cánh rừng sau nhà, mùa nào cũng hết sức rậm rạp. Thế thường chờ đến cuối thu khi cành lá bớt um tùm mới len lỏi xông vào cưa cây làm củi. Sau trận tuyết lớn, chỉ còn đám cành đen điu chằng chịt. Thế phải liên tục vén bên này, vạt bên kia mới tiến lên được. Mảng màu hồng tím lớn dần, rõ dần. Cách chừng mười thước, chàng thấy rõ: Đó là một cái khăn choàng, thứ khăn choàng lụa hẹp và dài. Góc khăn, đúng hơn, một đầu khăn nằm trên tuyết. Thế lại nghĩ rất nhanh: Khăn nằm trên tuyết vậy thì khăn mới bị đánh rơi đây thôi. Nhìn quanh, chàng rùng mình, không có dấu vết nào khác trên mặt tuyết trắng ngoài những hố nhỏ làm nên bởi chính đôi chân mang ủng của chàng.
Trước khi Thế nghĩ ngợi gì thêm nữa chàng đã đến đứng trước cái khăn màu hồng tím. Tuyết ở đó hủng xuống, làm thành một huyệt cạn. Thế thụt lùi một bước. Nhưng rồi chàng tiến tới gần hơn và nhìn vào lòng huyệt. Toàn thân chàng sững lại. Một người, một người đàn bà, nằm ngay ngắn trong khoảng trống đó. Mái tóc đen huyền như chiếc áo ngủ mỏng dài. Khăn lụa màu hồng tím quấn hờ quanh cổ, một đầu khăn duỗi theo thân người, đầu kia nằm vắt lên bờ tuyết. Cảnh tượng trước mắt làm cho Thế khựng lại một khắc. Nhưng rồi con người năng động trong Thế vùng dậy: Chàng vội quì xuống, vói tay sờ lên bờ vai trần người đàn bà. Chàng giật bắn. Làn da trắng phau, thật trắng, quaù trắng trông bình thường vậy mà lại cứng và lạnh như nước đá. Chàng ép hai ngón tay lên cổ người nằm, phía sau, bên dưới một tai. Tuyệt đối không có mạch tim đập. Thế kịp thấy một giây treo nhỏ rí của áo ngủ tụt một bên vai khiến cho mép áo trễ xuống để lộ một phần chiếc vú đầy. Chưa kịp xoay lưng Thế đã lại quì xuống, cầm lấy đầu khăn hồng tím vắt trên tuyết để lại trên thân người đàn bà cùng với đầu khăn kia vốn đã nằm duỗi theo thân người. Rồi theo dấu chân mình, Thế chạy vội xuống đồi. Chàng trượt chân, ngã ngửa mấy lần.
Xuống đến nhà, Thế xông vào bếp, tóm lấy cái điện thoại trên tường, gọi đồn cảnh sát/cấp cứu. Chàng cố giữ bình tĩnh để nói rõ lý do: "Vâng, một người nữ. Không, tôi không biết người đó đã chết bao lâu, và chết như thế nào. Tôi có thử dò mạch tim. Vâng, sau tai, dưới bên cổ. Tuyệt đối không có. Vâng, trong cánh rừng nhỏ. Ngay sau nhà chúng tôi. Quí vị lấy đường 464, quá Lovettsville độ ba dặm, thấy một dãy thùng thư bên đường thì rẽ phải. Lên đồi, đi tận cùng. Vâng, tuyết trên này dày lắm, phải xe 4 x 4 mới lên được. Các ông ráng đến gấp, chúng tôi chờ!"
Khi Thế xông vào bếp, vợ con đã có mặt đầy đủ. Đài vô tuyến địa phương đang phát thanh: "Để giữ an toàn cho mọi người, các công, tư sở và tất cả trường học trong hệ thống năm quận miền Tây đều đóng cửa. Chỉ các bệnh viện, các cơ quan an ninh mới phục vụ những trường hợp tối cần thiết. Tất cả mọi người, phía dân sự, nên tránh ra đường". Vợ Thế và các con còn mặc áo choàng ngủ và đi dép bông. Thế trấn an mọi người và ngồi xuống cùng ăn sáng. Nhưng mới nuốt được mấy hớp cà-phê sữa chàng đã vùng đứng dậy chạy ra khi có tiếng còi xe vang lên ngoài xa. Ba viên cảnh sát, hai nam một nữ đã ra khỏi chiếc Jeep lớn, Grand Wagoneer, gắn huy hiệu đồn cảnh sát địa phương. Người đàn ông cao to với bộ ria "Clark Gable" bắt tay Thế, tự giới thiệu là Trung úy Bill Baldwin rồi nói tên hai người kia. Cả ba đều trang bị cồng kềnh, đi ủng da cao đến gối, có chằng nịt mấu sắt ở đế. Thế đi trước dẫn đường, ba cảnh sát viên theo sau.
Đến khúc Thế nhớ là đã dừng lại nhìn thấy mảng màu hồng tím xa xa trong rừng thì chàng đứng ngẩn người: Không có dấu hiệu gì chứng tỏ đã có người quặt trái vào rừng. Những hố nhỏ, dấu chân của Thế, đến ngang đấy trở nên nhiều hơn, loạn xạ, rồi xoay ngược xuống đồi. Trung úy Baldwin hỏi Thế:
– Ông có chắc đây là nơi ông đã đổi hướng? Thay vì đi thẳng, ông đã rẽ trái vào rừng?
– Chắc chắn tuyệt đối.
Baldwin cúi xuống:
– Mặt tuyết bằng phẳng như thế này…
Thế nghiêm nghị:
– Tôi đã nói thật. Trăm phần trăm. Tin tôi đi.
– Tôi tin ông. Tin chứ. Ta cứ thử vào trong đó xem.
Cả bốn người vạt cành chắn đường, tiến vào sâu hơn trong rừng. Tám chân ủng đạp nát một vùng tuyết trắng.
Thế kêu lớn:
– Đây, chính nơi đây, tôi đã thấy xác người đàn bà. Một đầu khăn màu fuschia tại đây.
Mặt trời chiếu lên khoảng trống ngập tuyết, mặt phẳng long lanh muôn vàn tinh tú li ti. Trung úy Baldwin rút máy vô tuyến ở hông ra gọi:
– Tom đấy hả? Bill đây. Cậu làm ơn bảo Jerry Ellison đem con Shogun lên đây ngay. Tụi mình cần gấp. Cần lắm. Ừ, đường 464. Bảo Jerry đi ngay. Ừ, ngay bây giờ!
Viên trung úy quay sang Thế:
– Shogun là chó trinh thám. Có xác người đâu đây, nó tìm ra ngay.
Một tiếng đồng hồ sau, bốn viên cảnh sát và con chó ra về. Thế tiễn họ ra tận ngoài xe. Bên dưới bộ ria mép khá "điệu", cái mỉm cười của trung úy Baldwin trông khó hiểu. Ba người kia, lầm lì không nói. Đến khi xe đã quay bánh, thượng sĩ y tá Wright mới ngoái đầu ra cửa xe vừa nói vói vừa cười:
– Khi nào ông tìm ra người chết, gọi ngay cho chúng tôi nhé! 
Thế không cười. Chàng nói:
– Nhất định rồi. Cái xác ấy chỉ chờ cho quí vị đi là hiện ra lại đấy.
Mấy lần Thế lội tuyết lên đồi, đứng nhìn về phía đã thấy người đàn bà áo đen nằm trong tuyết, về phía đã thấy mảng màu hồng tím sáng ngời trên mặt tuyết trắng. Chàng đứng nhìn thật lâu nhưng không thấy gì ngoài tuyết trắng và cành cây đen. Một hôm, Thế lại lên đồi, mò vào tận nơi chàng đã thấy xác người đàn bà. Với cái xuổng nhôm rộng vành, Thế hùng hục xúc tuyết. Xúc lên đổ xuống bên cạnh. Xúc cả tiếng đồng hồ, chàng làm sạch một vạt lớn. Nhưng chẳng có gì bên dưới ngoài lớp lá chết từ mùa thu trước. Thế chống xuổng, đứng thở. Mệt, nhưng minh mẫn. Chàng tuyệt đối tin rằng mình đã thấy xác người. Chàng nhớ lại làn da mịn màng khi vói tay tìm mạch tim đập nơi cổ người đàn bà. Chàng nhớ rõ là đã rút tay về ngay vì da thịt người đàn bà cứng và lạnh như nước đá. Thế nhớ rõ ràng như vậy, không thể nghi ngờ gì cả. Tuyệt đối.
Vậy mà khi con Shogun lên tới nơi, được anh cảnh sát Jerry Ellison tháo xích, nó chỉ đứng ngoắc đuôi nhìn mọi người. Ellison thúc dục: "Shogun! Shogun! Tìm đi! Tìm đi!" Vừa nói anh vừa dúi đầu con chó xuống. Nó hục hặc mấy cái rồi ngước lên, tuyết bám mõm trắng xóa, vẫy đuôi rối rít ra điều vui vẻ. Mọi người nhìn Thế. Có lẽ vì tôn trọng cách thức hành sự đúng phép, họ không nói gì. Nhưng Thế biết là họ đang nghĩ gì. Họ nghĩ rằng chủ nhà này là nạn nhân của một ảo giác. Họ nghĩ rằng Thế là một anh tâm trí bất thường, cần được trị liệu.
Hai tháng trôi qua từ sau trận tuyết lớn ấy. Đang giữa thời kỳ khốc liệt nhất của mùa lạnh, có bữa trời "ấm" lên, hàn độ loay hoay trên mức đông nước mấy chấm, tuyết tan rỉ rả khắp nơi. Thế lần mò lên đồi, tìm vào nơi chàng đã từng thấy xác người đàn bà. Tuyết còn lại những vạt lỗ chỗ, dày mỏng không đều, còn in dấu ủng của Thế, bốn cảnh sát viên, và dấu chân thật to của Shogun, con chó trinh thám. Nơi Thế tin là đã thấy xác chết hoàn toàn sạch tuyết vì, Thế nhớ, chàng đã xúc hết đổ thành đống một bên. Mặt đất tuyệt nhiên không có dấu vết gì ngoài lớp lá nát từng nằm bẹp dí dưới sức nặng của gần nửa thước tuyết ướt.
Sắp giã từ Đông, bước sang Xuân, trời đất không bình thản được lâu. Để đối phó với nỗi rộn rã manh nha bùng lên, nứt mặt đất mà bùng lên, trời đất loay hoay cựa mình. Sự chuẩn bị ấy, đúng như vốn kinh nghiệm của ông già bà cả trong vùng: "Sư tử dẫn đầu/Cừu non theo sau" ("March comes like a lion and goes like a lamb") ý rằng đầu tháng ba thời tiết rầm rộ dữ dằn nhưng cuối tháng ba lại hiền hòa êm ả.
Hai giờ chiều ngày cuối tháng hai dương lịch, trận bão tuyết "lớn nhất thế kỷ" đổ ập xuống vùng tam bang. Gió tàn bạo, hơn trăm cây số/giờ. Cỏ cây gục mình chịu trận. Chiều, rồi suốt đêm hăm chín tháng hai rồi suốt ngày đến nửa đêm mồng một rạng mồng hai tháng ba, tuyết hú băm bốn tiếng liên tục. Bông tuyết không rơi, bông tuyết bay ngang như tên bắn. Hàn thử biểu tụt nhanh: Tuyết trở thành băng. Bông tuyết là những mũi tên nước đá.

Đến nửa đêm, trận bão tuyết có vẻ bớt hung hãn. Không bay ngang nữa, những mũi tên băng bay chéo. Tuyết rơi chậm lại, chậm lại. Rồi lất phất, lơ thơ. Nửa đêm thì ngưng hẳn. Thế mặc áo ấm, mang găng dày, cầm cái xuổng cán ngắn dò dẫm một vòng chung quanh khu vườn nhà tuyết ngập đến bụng. Như thường lệ, sau trận tuyết lớn, tất cả không gian vạn vật im lìm dị thường. Cỏ cây nằm rạp xuống, nơi này chỗ kia vùi dưới tuyết. Thế biết, quẹt một que diêm rồi thổi tắt đi, sợi khói mỏng sẽ vươn lên thẳng tắp.
Thế nằm yên, không ngủ. Quá hai giờ sáng. Chàng tỉnh táo lạ lùng. Đi một vòng quanh nhà sau trận tuyết lớn có cực nhọc đó nhưng lại làm cho Thế sảng khoái và tinh nhạy một cách bất thường. Đến ngang chỗ quẹo về phía rừng nơi chàng đã thấy tử thi, Thế đột ngột dừng lại: Đó không phải là một người đàn bà xa lạ! Chàng đã từng biết người ấy khi còn sống. Bờ vai ấy, gò má ấy, mái tóc ấy… Chàng đã từng biết người ấy. Ở đâu, khi nào, làm sao? Thế khựng. Tựa người may mắn thoát chết sau một tai nạn kinh hoàng nhưng lại mất hẳn trí nhớ. Cầm một vật quen thuộc trong tay mà không nhớ tên gọi là gì, dùng làm gì, để vào đâu. Thế nhưng lẩn quẩn trong sâu thẳm tâm hồn vẫn mơ hồ biết rằng đó là một vật mình đã từng biết rõ, đã từng nưng niu…
Nỗi bồn chồn khiến Thế làm một việc thường ngày không làm: Tắm khuya. Tắm xong, chàng ngồi một lúc cạnh lò đốt củi hơi nóng bốc hừng hực cho tóc tạm khô, rồi tắt đèn đi ngủ. Nỗi bồn chồn tưởng đã theo giòng nước ấm và xà phòng trôi đi mất lại từ từ nhú lên trong lòng, rồi lớn dần, lớn dần. Quá ba giờ sáng Thế vẫn còn thức. Chàng chắc chắn mình đã từng biết người đàn bà ấy, đã từng gần gũi người đàn bà ấy. Chàng rà lại ký ức, nhớ lại những người đàn bà đi qua đời chàng. Thuở mười tám đôi mươi, thuở ba mươi, thuở bốn mươi, thuở năm mươi. Trời! Thuở năm mươi… Người đàn bà ấy Thế đã gặp, đã biết, Thế chắc chắn như vậy. Chàng tẩn mẩn hồi tưởng lại những mối tình cũ, những cuộc tình ngắn ngủi, những cuộc tình dài lâu, những tình cờ, những sắp đặt, những nông nỗi, những đam mê… Chàng cố nhớ, cố nhớ lại chuỗi thời gian người đàn bà trên rừng tuyết đã đến với chàng. Chàng cố nhớ nhưng chàng không thể nhớ. Tuy thế, khuôn mặt tử thi lạnh buốt hiện rõ trước mắt Thế, chàng có cảm tưởng chỉ cần mở miệng ra là có thể gọi tên người ấy.
Thế vốn có một cái "tật", cũng chẳng phải hiếm hoi: Mỗi khi cần nhớ lại một chữ, một con số, một tên người, một địa danh nào đó mà không nhớ ra, khổ tâm lắm. Người khác có thể bỏ qua, Thế không! Chàng cố nhớ, chàng truy lùng mọi ngõ ngách của trí nhớ. Nửa đêm về sáng chàng có thể vùng dậy, sục sạo thư từ giấy má, truy cứu sách vở, vật lộn với trí nhớ cho đến khi nào tìm ra được mới thôi. Đêm ấy, nhớ lại khuôn mặt tử thi nằm trên rừng tuyết, Thế thấy rõ là mình từng biết người ấy, từng gọi tên nàng, ăn cơm với nàng, đi dạo với nàng, ngủ với nàng, vuốt ve nàng. Nhưng Thế không thể nhớ ra nàng là ai, tên là gì, mình đã biết nàng ở đâu, vào thời điểm nào.
Thế nằm yên, tỉnh táo. Chàng biết, cứ tiếp tục thế này thì sẽ không ngủ cả đêm. Chàng cũng biết, và an tâm, mình đã để một trời đất ngập tuyết lại bên ngoài, im lìm trong đêm thâu. Thế nằm yên, một chân co, một chân duỗi, nằm yên, thở thật sâu, thở thật lâu. Chàng luồn cả hai tay vào dưới lưng quần, úp lên bụng dưới. Rồi tay Thế xuôi xuống xa hơn, rời rạc mân mê đám lông rậm. Sợi ngắn, sợi dài. Sợi mềm, sợi cứng. Sợi thẳng, sợi quăn. Cỏ rối. Sao lại cỏ rối? Câu thơ thuộc lòng mấy chục năm về trước bỗng đâu quay về: Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối; Đêm bâng khuâng đôi miếng lẩn trong cành. Chàng mơ màng thấy một màn đen rũ xuống và nổi bật giữa màn đen ấy là một làn da trắng ngần – một khuôn mặt trắng ngần giữa mớ tóc đen huyền, đen nhánh. Đột nhiên, Thế bừng tỉnh, tim đập dữ dội. Chàng nhớ ra rồi.
Không, Thế không nhớ tên người đàn bà, không nhớ hai người đã biết nhau ở đâu, khi nào, làm sao. Không nhớ hai người đã gần gũi nhau thế nào và bao lâu. Chàng vẫn không nhớ ra những chi tiết ấy. Chàng chỉ nhớ ra một điều. Một điều làm Thế bừng tỉnh, làm chàng hồi hộp, phập phồng, tê tái. Thây kệ mấy nhân viên công lực muốn nghĩ sao thì nghĩ, muốn cho rằng Thế là nạn nhân của một ảo giác cũng được, là một anh khùng cũng được. Thế chỉ trăm phần trăm tin chắc rằng sáng hôm đó mình đã thấy người đàn bà nằm trong huyệt tuyết. Chàng đã sờ bờ vai nàng, cứng và lạnh như nước đá. Chàng đã nắn mạch tim nơi cổ nàng, phía sau và bên dưới tai phải, tìm, tìm mà không thấy, chàng đã móc lại sợi giây treo vai nhỏ rí, kéo chéo áo lại che cho kín ngực nàng, chàng đã cầm một đầu chiếc khăn màu fuschia vắt trên bờ tuyết lạnh đặt lại lên ngực nàng, song song với đầu kia vốn đã nằm duỗi theo thân người. Sáng hôm đó, chàng thật đã có thấy người đàn bà nằm trong huyệt tuyết. Và giờ đây, khuôn mặt người đàn bà ấy lại hiện rõ ra trước mắt Thế, và chàng nhớ ra!
Chàng nhớ rằng có một chiều gió lớn người đàn bà ấy đã nằm bên chàng trong căn buồng vắng vẻ. Trong căn nhà vắng vẻ. Trong khu vườn vắng vẻ. Qua cửa sổ cao, thấy được những mũi tên tuyết bay ngang ngang. Người đàn bà ấy nằm bên chàng nhưng ngược chiều với chàng. Nàng nằm sấp, nghiêng nghiêng cheo chéo với thân thể chàng, và mái tóc nàng rũ xuống lòa xòa. Người đàn bà ấy nằm như vậy, một tay chống má, cánh tay và cùi chỏ ép sát vào hông chàng, tay kia, tay trái, giữa ngón trỏ và ngón giữa kẹp hờ một mớ tóc phe phẩy lên bụng dưới chàng. Những đuôi tóc mềm quét lên quét xuống, phất qua phất lại, vờn quanh, vờn quanh, những đuôi tóc đen huyền, đen nhánh. Thế nhớ ra rồi.
Tử thi trắng toát và lạnh buốt ấy, áo ngủ đen hở vai mỏng mướt dài đến tận mắt cá, người đàn bà ấy, một chiều gió lớn thổi tuyết bay ngang ngang, đã kẹp một mớ tóc đen nhánh giữa hai ngón tay trắng muốt phe phẩy lên bụng dưới của chàng. Thế nhớ, Thế nhớ ra như vậy, và lòng chợt se sắt vô biên…

2000


Thảo luận cho bài: "Huyệt Tuyết"