Khúc ba: Khúc đất đỏ

Tác giả:

Tay cân lại của ông cha từng nắm đất
Rồi giữ gìn bằng chính máu xương ta.
(Chế Lan Viên)

1

Tụi lính đi tuần
Từ Bình Than lên
Từ Kim Bịch xuống
Chúng chưa kịp gặp nhau
Bỗng
Không biết từ đâu
Tạt chéo đội hình
Luồng súng đàn trung liên thông thốc lia ngang
Chát chúa súng trường
Toang toác
Nổ
Đất dưới chân
Hoác vỡ
Lưỡi lê vụt tóa lên
Sáng loáng
Những rãnh cày
Có một người đàn bà
Chém tới tấp hai tay
Bằng hai cái lưỡi phàng phạt cỏ…

Tên sống sót chạy về
Nói toáng lên rằng người đàn bà đó
Có thể thình lình
Bổ phàng ngọt phía sau
Tay trái chém bất ngờ
Không ai tránh nổi đâu
Chính mắt hắn đã từng trông thấy
Ật một cái
Một tên xương sống gẫy
Sụt một cái thôi
Một tên toác mạng sườn
Tụi lính hết hồn
Đến mấy ngày sau còn rợn gáy
Tiếng dữ đồn xa
Và niềm sợ hãi
Ăn mòn chúng ngày đêm như mạch nước ngầm
Ngủ vã mồ hôi
Chúng tưởng máu ướt đầm…

Sự thật hát rằng:
Vục đầu vào máu đã say
Một đòn giáng trả mà bay rã rời
Phải đâu chân lí một thời
Hại người thì chớ mong người bao dung!

2

Đồn Coóc mặt tím bần
Ria nhạt màu hung
Giật lên dữ dội
Đội Mâu đứng nghiêm
Như một dấu chấm than (!)
Viết vội
Cái tai cụt
Khuất trong góc lệch mũ nồi
Người đàn bà ấy là ai?
Coóc đã biết rồi
Như một con mèo già, hắn nhẹ nhàng lên gác
Tiếng can đen quay là âm thanh duy nhất
Vù vù như ong trong trưa hanh heo
Ống ngắm hiện lên
Những mái tranh nghèo
Đơn độc cây xoan buồn rầu trút lá
Vài sợi khói mờ thoảng xanh mái rạ
Đứa trẻ cầm diều chân thõng lưng trâu…
Chiến tranh ư?
Ờ nhỉ, có sao đâu…
Lòng hắn hiu hiu nghĩ về nước Pháp
Mẹ hắn thương con, mái đầu sớm bạc
Vợ hắn nhớ chồng, mắt biếc nước sông Ranh
Con hắn béo tròn, bi bô xem tranh…
Như thói quen
Hắn quay điện thoại
Rồi hắn ngả tấm lưng dài khoan khoái
Nghe bốn phía dập dồn giai điệu moóc-chi-ê
Những mái đình, cây đa, chòm xóm ven đê
Lừng lững bốc lên từng lùm nấm trắng
Lệch mép cười gắn,
Hắn nâng kính ngắm
Cái đầu múp rung rung, hắn chép miệng khà khà
Như kẻ nghiện lâu năm
Được nhắp chén trà
Hắn nhắp vị ngọt ngào
Tội ác
Lòng hắn lại hiu hiu
Nghĩ về nước Pháp…

Sự thật hát rằng:
Đạn bom gieo xuống đất này
Thì ngày mày sống vẫn ngày diệt vong
Làm chi có đoạn đường vòng
Khi TA còn đứng ở trong cõi đời…

3
Tin vui
Loang dần từng bếp lửa
Chiến dịch lớn quân ta sắp mở
Bộ đội sắp về đây
Đêm đêm tiếng chày
Rung động vành trăng mỏng như lá lúa
Chiến dịch lớn quân ta sắp mở
Gạo giã kìn kìn gánh đi nuôi quân
Dân công họp đoàn giữa sân
Lủng củng xoong nồi, xẻng cuốc
Những đứa trẻ
Hát vang bài ca chưa thuộc
Vừa cãi nhau câu đúng, câu sai
Vừa nhảy lò cò, vừa vỗ tay…
Một cái gì thật là mới mẻ
Như tháng Giêng
Bừng bừng trong má trẻ
Như thơm phức đất đai
Hạt giống mới nhú mầm
Làng tạm chiếm vui, niềm vui âm thầm…

Niềm vui hát rằng:
Bốt đồn nóng bức xung quanh
Tôi như ngọn gió trong lành thổi lên
Và như giọt sữa mẹ hiền
Lọc từ cay đắng mà nên ngọt ngào…

4
Vầng trăng cao cao
Nhợt nhạt không còn ánh sáng
Sương mù lảng vảng
Mập mờ gò đống, chân đê
Không trông thấy gì ngoài kia
Cồn cát giữa sông ồ ồ nước chảy
Gió thổi rào rào lau sậy
Con chim xanh biếc bay qua
Cặp chặt ngón chân đỏ chót
Bỗng đập cánh bay lên thảng thốt
Rồi mất hút
Trong da trời mỏng tanh
Lặng im
Lặng im
Lặng im…
Ngoài lũy tre xanh
Hiện dần
Hiện dần
Hiện dần…
Nòng
súng
giặc!
Và đại bác
Chẻ toác không gian
Những tiếng sét liên hồi
Ngồi giữa “tăng-xê” như đu giữa trời
Nghiêng cánh “bà già”
Dòm dòm ngó ngó
Giặc ập vào làng
Lăng xăng như bọ chó
Nhâng nhâng lối tắt, đường ngang…
Bộ đội đâu?
Du kích đâu?
Chỉ gặp những người làng
Điềm đạm và thật thà như hạt thóc!
Đội Mâu ức tưởng chừng phát khóc
Xăm xăm chỉ mặt bà Chanh”
– Cái Bưởi đâu? Nói nhanh
Có muốn cắt tai không hả?
Rồi hắn sục bừa gốc cây, đống rạ
Thuốn cái thuốn dài
Thuốn cái thuốn dài
Thuốn cái thuốn dài…

Đất hát rằng:
Đi qua cuộc chiến tranh này
Lòng tôi như tấm áo dày chở che
Còn đâu đây những lời thề
Một vùng gươm giáo. Bốn bề núi sông…

5
Toán giặc chạy xô cả lại
Mặt chúng xám đi. Hớt hải
– Chi đấy? Bay?
Tên lính cao gầy
Cổ ngẳng như cổ cò chết bão
Dong một cụ già mặt bê bết máu
Nách áo rách toang
Dáng lực lưỡng và điềm nhiên như cây đa làng
Tên lính cổ cò oang oang nói:
– Lão già này đã “đánh mìn” ngài Đội
Ngài ngã vật ra, chẳng biết có sao không?
Tụi nó cáng ngài về đồn rất đông…

Coóc chống can đen, đi đến
Cái chân bước nhẹ nhàng, uyển chuyển
Hắn bỗng nhìn thẳng căng vào mắt cụ già
Soi mói, cái nhìn như moi ruột gan ra
Cụ Đình bình thản:
– Lính của quan đồn đã cho tôi lựu đạn
Giết đội Mâu là việc của riêng tôi
Người Việt Nam Không một ai được phản bội giống nòi
Thưa quan, quan hiểu chứ?
– Tên ông là gì?
Coóc vẫn lạnh lùng nhưng mắt đã vằn tia hung dữ
– Có thể gọi tôi
Là Đình, là Chùa, là Nhà, là Cửa
Tên tôi là: dân – nước – bị – xâm -lăng
Từ thượng cổ đến nay
Chúng tôi
Không hề biết đầu hàng!
Coóc lệch mép cười thật là nham hiểm
– Nhà ông đâu?
– Ngoài thân tôi, tôi chẳng còn gì sất
Tôi chỉ có hai bàn tay để cày xới đất
Đầu tôi chứa những câu thơ bất khuất
Của Mạc Đĩnh Chi từng đọc ở bên Tàu
Cụ nói chửa dứt câu
Mắt bỗng thoáng cái gì như là làn bụi
Hai má dần hằn nổi
Những ngón tay dài và thon
Vết những ngón tay tụ lại tím bầm
Hình dạng giống bản đồ nước Pháp
– Ông có giết, tôi cũng không đổi khác!
Giọng cụ Đình kiên nhẫn đến lạ lùng.
Cụ ngẩng nhìn không trung
Mấy tia nắng cuối mùa
Long lanh trong đám mây rách nát
“Mày có giết, tao cũng không đổi khác!”
Cụ nghĩ thầm
“Thế là chúng bay
Không thể thuốn tới hầm
Mấy anh trinh sát cấp trên và con Bưởi ở
Với tấm bản đồ ngoằn ngoèo đường xanh đỏ
Chiến dịch lớn, quân ta sắp mở
Quả lựu đạn mình ném vào mặt Đội Mâu
Xoay ngược quân thù về phía sau
Nếu phải chết, ừ thì mình chết
Ngoài vòm trời lồng lộng kia
Mình chẳng có gì để mà từ biệt”…
Một tứ thơ cảm khái xưa của Mạc Đĩnh Chi
Bỗng làm cụ nôn nao
Ngực cụ gồ lên như sóng trào.
Tiếng Coóc ngọt ngào
Vô nghĩa và vo ve như tiếng muỗi
– Mày nhớ xem, có thể là tên Bưởi
Đã dặn mày
Và mày biết nó còn ẩn nấp quanh đây?
– Vâng, tôi nhớ…
Khi các ông dìm dân tộc tôi trong máu lửa
Những Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê…
Bao lớp người chết đi
Để lại mối thù cho người còn sống
Từ núi cao, sông dài, đồng rộng
Đã mọc lên vô số pháo đài
Từ bàn tay chai sạn cuốc cày
Vụt lớn dậy kho quân lương, kho đạn dược
Ông có thể giết tôi
Nhưng Đất Nước
Vẫn trường sinh
Ngoài khát vọng mọi quân thù!
Lũ lính đờ ra nhìn cụ giây lâu
Như gặp một cái gì kì lạ
Nhưng Coóc thì hiểu ra tất cả
Rằng:
Hắn phải một mình chống lại một nhân dân
Hắn phải một mình chống lại một dân tộc
Lần đầu tiên
Hẵn bỗng thấy mình thật là cô độc
Nỗi thất vọng sủi tăm
Chua chua trong óc
Hắn buông thõng hai tay và mặt cúi gầm
Một thoáng thôi
Mặt hắn lại hầm hầm…
– Tên Bưởi đâu? – Hắn hỏi.
Tiếng xé rách qua kẽ răng chó sói
Hắn lồng như con trâu đực bị đòn đau
Chiếc can đen quay thành khói ngang đầu
Bỗng đột ngột bổ vào mặt cụ
Cụ vuốt mặt, lòng bàn tay thấy đỏ
Giơ hai tay, cháy hai mảnh mặt trời
Nhìn tên đồn, tưởng nổ cả con ngươi:
Cụ hét như sấm nổi:
– Này Coóc
Mày muốn tìm tên Bưởi
Hãy tìm trong cái bụng đói của tao đây!
Tay cụ giật phanh vạt áo nâu dày
Phơi cái bụng phập phồng, phẫn nộ
Rơi xuống dưới chân, cúc áo to, cúc áo nhỏ
Đã khâu bởi đường kim vụng về…
Da thịt cụ tỏa ra mùi ở đợ, làm thuê
Tháng Hai mưa phùn, tháng Mười sương muối
Mùi bùn ngấu và mùi lúa mới
Mùi trăng non những đêm ngủ sân đình…

Đồn Coóc quay tít can đi quanh
Bỗng dừng lại, nheo mắt cười độc địa:
– Tao cho nổ trong bụng mày
Quả lựu đạn Mỹ
Khai không?
Ngực cụ cuộn lên đỏ bóng màu đồng
Rồi cụ đứng lặng im như hóa đá
Chỉ một chút mơ hồ
Thoảng rung trong gò má
Trong đuôi mắt nứt chân chim…
Nhà bên bỗng bật lên
Tiếng khóc nấc như cành khô gẫy
Coóc sai lính sục tìm ai vừa khóc đấy
Lôi chém ngay, cắm cọc bêu đầu.
– Tên Bưởi đâu?
Chỉ ba phút nữa
Bụng mày tao sẽ mổ
Và nhét vào trong quả lựu đạn Hoa Kì
Một phút
Hai phút
Trôi đi…
Thời gian rỏ từng giọt máu!
Cụ bỗng kêu to:
– Xóm làng ơi
Ai có nghe thì nhắn lại hộ tôi
Tôi còn nợ bà Tròn lưng thúng thóc
Nợ ông Ba Yên hai chục bạc
Còn bác Xoan tôi hứa lợp giúp nhà
Bây giờ tôi đi xa
Cho tôi xin những gì tôi còn nợ…

Nắng hát rằng:
Gớm cho lựu đạn Hoa Kỳ
Nổ trong bụng cụ còn gì là thân
Tâm hồn của một người dân
Đã thành ánh sáng trong ngần hôm nay…
Nguồn: Thơ tuổi học trò, Trần Đăng Khoa, NXB Giáo dục, 2005

Thảo luận cho bài: "Khúc ba: Khúc đất đỏ"