KỶ NIỆM 150 NĂM TRẬN ĐẦU CHỐNG PHÁP-Đắp thành, dựng lũy kháng chiến

Tác giả:

Ngày 1-9-1858, Pháp nổ tiếng súng đầu tiên tấn công vào cửa sông Hàn – vịnh Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược VN. Trận đầu chống Pháp của những nghĩa quân “động làm binh, tĩnh làm dân” chỉ bằng trái mù u, sọt đan tre… song đã ngăn được bước chân quân Pháp nơi vùng cửa biển.

Đã 150 năm trôi qua, không ít người vẫn đau đáu một nỗi lo về số phận của những thành quách, nghĩa trủng… đang còn sót lại. Liệu tất cả những dấu xưa bi hùng có còn để con cháu mai sau biết đến?

Theo sách Việt Nam thế kỷ 19 của Nguyễn Phan Quang, sau nhiều ngày nhổ neo rời cảng Yulikan (cực nam đảo Hải Nam, Trung Quốc), ngày 31-8-1858, đoàn chiến hạm 14 chiếc với 2.500 quân viễn chinh gồm liên quân Pháp – Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của trung tướng Rigault de Genouilly đã cập cảng Đà Nẵng.

Sáng sớm hôm sau, ngày 1-9, tướng Genouilly lập tức gửi tối hậu thư cho viên trấn thủ Đà Nẵng, hẹn trong hai giờ phải nộp ngay các pháo đài cho liên quân Pháp – Tây Ban Nha. Tổng đốc Nam Ngãi Trần Hoằng có trong tay 3.000 quân án binh bất động. Rigault lệnh cho 14 chiến thuyền chia làm hai cánh đồng loạt tiến vào cửa Hàn.

 

Ngày 31-8-1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của trung tướng Rigault de Genouilly đã có mặt tại cửa Hàn (Đà Nẵng) chuẩn bị tấn công – Ảnh tư liệ

tay_1

Cầm chân quân Pháp

Sau hơn nửa giờ bắn phá, tất cả pháo đài, thành lũy của quan quân triều Nguyễn nằm dọc cửa Hàn gần như tê liệt. Quân Pháp bắt đầu đổ bộ lên bờ đánh chiếm thành Điện Hải (nay thuộc Q.Hải Châu, TP Đà Nẵng) và các đồn phụ cận. Trong khi chiến sự đang diễn ra phía trong vịnh Đà Nẵng, phía thành An Hải – nơi án ngữ cửa sông Hàn (nay là P.An Hải Bắc, Q.Sơn Trà), ba chiến hạm khác của liên quân cũng đồng loạt nã pháo. Chỉ sau một giờ oanh tạc bằng tàu đồng đạn sắt, thành An Hải nhanh chóng rơi vào tay quân Pháp. Các pháo đài phòng hải nằm dọc bán đảo Sơn Trà lần lượt bị đánh chiếm. Chớp lấy thời cơ, liên quân Pháp – Tây Ban Nha nhanh chóng đổ bộ chiếm lấy toàn bộ bán đảo Sơn Trà.

.

Thành Điện Hải sau những đợt oanh tạc bằng đại bác
vào sáng 1-9-1858 – Ảnh tư liệ

Vua Tự Đức liền cử đô thống Lê Đình Lý và tham tri Phan Khắc Thận đem 2.000 cấm binh tăng cường cho Đà Nẵng. Quân Pháp thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, cố chiếm Đà Nẵng để đánh Huế. Sáng 2-9-1858, quân Pháp dùng sáu tàu và pháo thuyền bắn phá tập trung vào thành Điện Hải. Sau nửa giờ bị bắn phá, thành Điện Hải hư hại nặng. Tổng đốc Trần Hoằng do để mất thành An Hải và thành Điện Hải đã bị vua Tự Đức bãi chức và ông Đào Trí lên thay. Ông đặt chỉ huy sở tại làng Nghi An (nay thuộc P.Hòa Phát, Q.Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng). Quân Pháp khống chế vịnh Đà Nẵng và sông Hàn, Genouilly tuyên bố chiếm Đà Nẵng.

Tình hình Đà Nẵng ngày càng khó khăn, vua Tự Đức quyết định cử thống chế Nguyễn Tri Phương làm thống chế quân vụ. Sử sách ghi lại cho biết vào các ngày 21 và 22-12-1858, quân Pháp đưa tàu ngược sông Hàn sâu hơn để đánh các đồn Nại Hiên và Hóa Khuê, nhưng đã bị đẩy lui. Rút kinh nghiệm từ các trận Nại Hiên và Hóa Khuê, thống chế cho xây thành đắp lũy kiên cố, chính nhờ vậy mà quân Pháp nhiều lần tấn công các đồn Nại Hiên, Hóa Khuê, Thạc Gián đều bị đánh lui. Để yên tâm, thống chế Nguyễn Tri Phương cho xây thêm một đồn mới ở Liên Trì vào tháng 1-1859.

Dấu tích Nguyễn Tri Phương

Trở lại làng Nghi An, nơi Lê Đình Lý cùng Phan Khắc Thận chọn làm đại bản doanh đóng quân sau khi vượt Hải Vân quan, dấu tích còn lại của những thành lũy hay pháo đài Nghi An vốn lưu trong sử sách nay hầu như không còn gì nữa.

Ông Nguyễn Văn Thiêm (Sáu Thiêm) – người làng Nghi An, năm nay đã hơn 80 tuổi – móm mém bảo: “Trước năm 1990, những đoạn lũy dài làm bằng đất ở làng Nghi An này vẫn còn, nhưng rồi người ta đã phá nó đi để lấy đất làm nhà. Giờ thì làm gì tìm thấy nữa.

Pháo đài Nghi An chỉ là một trong số những công sự thuộc hệ thống thành lũy mà tướng Nguyễn Tri Phương xây dựng nhằm ngăn không cho quân Pháp tràn lên phía trên này. Thành lũy này chạy dài từ dưới biển lên Nghi An rồi kéo dài lên đến tận khu Dốc Võng (Hòa Cầm). Nghe đâu phía trên Hòa Cầm ngày nay vẫn còn những ụ đất cao lắm. Nếu tui không nhầm thì đó chính là điểm đầu của hệ thống thành lũy được xây dựng từ cuối năm 1858″.

Khu Vườn Đình, Vườn Bá (nay thuộc khối phố Bình Hòa, P.Khuê Trung, Q.Cẩm Lệ) được xem là kho dự trữ lương thực chính yếu trong cuộc kháng chiến chống Pháp dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương.

Ông Huỳnh Ngọc Tế – một trong số những lão làng ở Khuê Trung – nhớ lại: “Vào những năm 1930, nhiều người vẫn còn thấy các dãy nhà “lục khố” (sáu kho) của triều đình đổ nát và xiêu vẹo trên nền đất xưa. Sau này, nhiều gia đình khi đào đất lên làm móng nhà cũng đã phát hiện rất nhiều hạt lúa mục đen xếp thành từng lớp dày. Đó chính là dấu tích còn lại của kho thóc ngày xưa”. Cũng như Nghi An, Bình Hòa, vùng đất thấp trũng ở làng Mân Quang (Thọ Quang, Sơn Trà) vốn có lợi thế vì nằm sát cửa Hàn cũng đã được quan quân triều Nguyễn chọn làm căn cứ tiếp viện lương thực trong những ngày đầu đánh Pháp. “Ngày xưa nơi đây có một lũy đất chạy dài từ vịnh Mân Quang đến chân núi Sơn Trà.

Sau này thiên địa đổi dời nên lũy đất ấy không còn nữa – lão làng Mân Quang 1, ông Lê Đức Khá, trầm ngâm nhớ lại – Bây giờ nếu nói về dấu tích thời ông Nguyễn Tri Phương còn lại thì đó chính là gốc mù u”.

Nói rồi ông dẫn chúng tôi ra đình Mân Quang, một ngôi đình quay mặt ra cửa Hàn với nhiều nhà thờ trang nghiêm. Ngay chính giữa đình làng là một tấm bia ghi công. Cạnh đó là một gốc cây cháy đen mà theo lời ông Khá đó chính là “gốc mù u năm xưa”. “Cây mù u này lớn lắm, khi tui còn nhỏ cây đã sừng sững cả một góc trời rồi. Sau năm 1980, bão lớn quá khiến cây bị trốc gốc rồi chết. Mới rồi tui phải đi kiếm một cây mù u con khác đưa về trồng”. Cây mù u con mà ông Khá trồng giờ đây đã bén rễ lên xanh um…

Quốc sử quán 1 Đại Nam thực lục chí biên, tập 28, cho biết nhờ kế sách lập phòng tuyến Liên Trì dài 3km chạy từ bờ biển Đà Nẵng đến các xã Phước Ninh, Thạc Gián, Nghi An… bên ngoài lũy đào hố chữ phẩm cắm chông, che cỏ, phủ cát lên trên mà Nguyễn Tri Phương đã cầm được chân quân Pháp. Nhiều trận hành quân của Pháp đã bị quân triều đình đánh tơi tả. Tin vui loan về kinh, vua Tự Đức liền ban cho Nguyễn Tri Phương một thanh “thượng phương bảo kiếm, năm chỉ nhân sâm, phái thầy thuốc đến điều trị và xuống dụ an ủi”. Thế nhưng điều oái oăm đã xảy ra: trong khi ở mặt trận hàng nghìn binh sĩ đang ngày đêm đối mặt với “tàu đồng đạn sắt”, thì tại triều đình rất nhiều quan quân lại có ý kiến xin được “hòa” với Pháp.

 

Thảo luận cho bài: "KỶ NIỆM 150 NĂM TRẬN ĐẦU CHỐNG PHÁP-Đắp thành, dựng lũy kháng chiến"