ký ức xanh

Tác giả:

Tôi tin rằng cái nhìn đầu tiên của tôi ngay sau khi chào đời, ngoài mẹ tôi, là đã bắt gặp màu xanh cây lá dẫu tôi chẳng thể nào nhớ nổi điều ấy bởi nơi tôi sinh ra và lớn lên luôn được cây lá, hoa quả che chở, điểm tô, nuôi dưỡng. Nhìn qua ô cửa hay nhìn vào góc phòng đều có sự hiện hữu của màu xanh tươi thắm. Đó là một khu nhà vườn cũ kỹ nằm trên một triền đồi ngoại thành Huế. Lớn lên một chút, tôi biết tưới mát cho những gốc hoa trước khi có thể tự mình tắm táp, biết trèo cây trước khi biết cưỡi xe đạp. Thời ấy không tràn lan đồ chơi công nghiệp như bây giờ, tôi phải tự làm lấy những món mình ưa thích với nguồn nguyên liệu xanh dồi dào có sẵn chung quanh. Bốn trái vông đồng già và mảnh gỗ nhỏ đủ cho một chiếc ô-tô chạy được. Một cây cán giáo thẳng thớm sau hè vót thành thanh kiếm rất dễ. Hai ống cây hóp lồng vào nhau thẳng góc là khẩu tiểu liên bắn đạn hạt bời lời nổ lốp đốp khiến đối phương đau điếng. Từ những trái gòn chín đen nở bung giữa nắng gắt trưa hè, phát ra một tiếp toát giòn giã, tôi có cả tiểu đoàn lính dù bay rơi tán loạn trong gió!
Chiếc sập gụ của ba tôi kê sát ô cửa sổ. Những buổi trưa nằm cạnh ông, tôi im lặng nhìn cành khế lão ngoài hiên đung đưa gần như trước mắt, tay vói chạm tới được. Đó cũng là biểu đồ thời gian hiển thị bằng hình thái và sắc màu sinh động: run rẩy những ngọn lá xanh nõn, chi chít những chùm hoa tim tím, lúm xúm những trái khế bằng hạt lựu. Chúng lớn khá nhanh và cuối cùng lủng liểng như những chiếc lồng đèn vàng mọng. Sau này, mỗi lần trông thấy một cây khế lão, bất kỳ ở đâu, tôi lại trông thấy bóng hình ba tôi mặc dù loài cây nào trong khu vườn cũ đều mang hình ảnh của ông. Còn cây me cổ và phiến đá đen vuông vức đặt sát dưới gốc của nó thì lưu giữ hình ảnh của tôi trong ký ức của ông cụ khi tôi phải xa Huế biền biệt. Đó là nơi tôi thường ngồi ngóng mẹ thi thoảng đến thăm, ở lại mấy hôm rồi đi. Đó là nơi tôi ngồi học bài, từ tiểu học đến đại học. Trong một lần chỉnh trang sân vườn có người muốn dịch chuyển phiến đá, ba tôi yêu cầu đặt lại vị trí cũ và nói ra lời về nỗi nhớ tôi, điều mà ông chưa bao giờ làm. Thế là tôi hiểu ba tôi đã già yếu. Ngày ông cụ mất, tôi còn lang thang tận Hà Nội, Hải Phòng bán những cuốn sách ế ẩm do tôi viết ra và nhà xuất bản thì trả nhuận bút bằng sách. Cơn bão cay nghiệt cắt đường bắc nam, tôi không về kịp, không kịp cho cây cối trong vườn chịu tang như đã thầm hứa với chúng, bởi chúng là anh em của tôi. Những dải khăn sô trắng khoác buộc lên những người anh em xanh chùng rũ trong sương sớm, vật vờ trong gió chiều sẽ nhân lên trăm lần nỗi đau mất mát của tôi và cũng có thể sẽ chia bớt cho tôi chính nỗi đau mất mát không bù đắp nỗi ấy.
Một bước ra khỏi vườn nhà cũng là một bước bước vào vườn Huế. Tôi luôn hình dung Huế như thể một khu vườn không bao giờ biết hết ngóc ngách. Nhưng rõ ràng chuỗi đồi thông nối nhịp hình sin xanh thắm không dứt suốt một vùng bán sơn địa là đường biên cánh cung phía tây của khu vườn ấy. Chính vì diện tích trồng thông ở Huế rất lớn và chủ yếu là loài thông hai lá, phân biệt với loài thông ba lá của Đà Lạt, nên có hẳn một cái tên riêng thông Huế. Từ nghìn xưa kẻ sĩ đã yêu và coi trọng cây thông. Trong một lễ tế giao, vua Minh Mạng sắc cho các hoàng tử theo hầu đạo ngự mỗi người trồng một cây thông tại Trai cung, cạnh đàn Nam Giao. Hai mươi năm sau trở lại chốn cũ, hoàng tử Miên Trinh, bấy giờ đã là Tuy Lý vương, nhận ra cây thông của mình. Vui vì nó kiên cường bản lĩnh thanh cao cốt cách, buồn vì bản thân không được bằng thông, vương hẹn kiếp sau hóa thành hạc bay về chung sống với thông… Trồng nhiều thông đến như thế hẳn người Huế cũng khao khát về một kiếp sinh tồn trường cữu và vượt thoát hệ lụy nhân thế. Thông không chỉ được trồng trên đồi mà có mặt ở các công trình kiến trúc quan trọng như hoàng thành, lăng tẩm, đền miếu, chùa chiền, nhà thờ… Làm sao phai được hình ảnh đồi thông quốc tự Từ Hiếu, đồi thông đại chủng viện Thiên An trong ký ức thời trai trẻ hò hẹn yêu đương? Tiếng thông reo đã hỗ trợ cho lời tỏ tình vụng dại, phấn thông vàng đã mang tải hạnh phúc cũng như khổ đau của những đôi tình nhân rải rắc khắp ngọn đồi xanh lá bốn mùa. Lần về Huế gần đây nhất tôi cùng mấy người bạn dự bữa cơm chay có rượu dưới tán rừng thông Thiên An, trong ngôi nhà rường. Tôi cứ băn khoăn tự hỏi bà chủ gallery sang đẹp, tài hoa, đơn độc này nghĩ gì, nhớ gì mỗi khi thấp thoáng từng đôi tóc xanh chơi trò đuổi bắt cổ điển trong rừng thông vây quanh? 
Ở Huế, so với thông, phượng vĩ, bồ đề, mù u, bàng, liễu…thì cây ngô đồng quá khiêm nhường về tầng số xuất hiện. Nhưng trong ký ức tôi cây ngô đồng lại chiếm một vị trí quan trọng. Tôi đã nhiều năm tin vào những nhà phê bình văn học tên tuổi. Họ cười nhạo các thi sĩ tiền bối đã máy móc rập theo khuôn mẫu thơ Trung Hoa mà cây ngô đồng là một ví dụ được họ đưa ra. Rằng Việt Nam làm gì có cây ngô đồng mà nó lại xuất hiện trong thơ Việt? Mãi sau này tôi mới biết lời cười nhạo kia là không có căn cứ. Theo Đại Nam nhất thống chí, có lần vua Minh Mạng nhận được món quà từ Quảng Đông, Trung Quốc là hai cây ngô đồng. Nhà vua thích lắm, cho trồng ở hai góc điện Cần Chánh. Nhưng quan trọng hơn, vua muốn biết nước ta có hay không loài cây danh tiếng này? Để trả lời câu hỏi của chính mình, vua sai biền binh cầm mẫu lá ngô đồng Trung Quốc lặn lội vào các khu rừng tìm kiếm. Hóa ra loài cây quý phái đầy cảm hứng thi ca của Trung Quốc cũng có mặt ở Việt Nam, thậm chí rừng nào cũng có! Một cách tự hào, vua Minh Mạng cho đem giống ngô đồng nội địa về tô điểm cảnh quan các cung điện, lăng tẩm. Niềm tự hào “không thua kém Tàu” đó còn thể hiện ở việc vua Minh Mạng cho chạm khắc cây ngô đồng Việt Nam lên Nhơn đỉnh trong số Cửu đỉnh đúc năm 1835. Dù được phát hiện trên diện rộng, cây ngô đồng chẳng mất đi danh phận cao quý. Hoặc vẫn ở ẩn trong rừng già hoặc chỉ mọc trên đất vương giả. Dân gian không trồng cây ngô đồng, như một mặc định, dù không hề có sắc chỉ cấm kỵ. Thời niên thiếu, bị dẫn dụ bởi câu thơ Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu tôi đã bỏ công đi ngắm ngô đồng trút lá thu vàng. Nhưng rồi tôi đã thất vọng lướt qua những cây ngô đồng hiếm hoi trong thành nội và ở một vài lăng tẩm. Bởi tự bản thân nó chẳng gây ấn tượng gì cho tôi. Không kỳ vĩ về hình thể. Cũng không thu hút bởi sắc màu. Lá có rụng nhưng không gợi tình, gây mỹ cảm như tôi đã có khi đọc thơ. Đem chuyện ấy kể với ba tôi trong bữa cơm, ông chỉ mỉm cười. Rồi một ngày trung tuần tháng hai âm lịch năm sau, ông đưa tôi đến công viên Tứ Tượng bên dòng sông Hương, chỉ vào một cái cây cao thật là cao, không còn lấy một chiếc lá, chỉ toàn hoa là hoa, những chùm hoa tím phớt hồng chi chít mơ hồ trong sương mù mùa xuân của Huế. Đó là cây ngô đồng vào thời khắc phô bày hết vẻ đẹp bản thân. Trên đường về, ba tôi bảo người đời cũng như cây cối, không phải lúc nào cũng nhận ra được giá trị đích thực… 
+++
Hai năm trước tôi đã chiết một nhành từ cây khế lão bên ô cửa sổ ngôi nhà cũ nơi ba tôi thường nằm nghỉ trưa khi còn sống đem về trồng ở góc sân nhà tôi và từ bàn viết tôi có thể nhìn thấy nó qua ô cửa sổ nhưng không vói chạm tới được.

Thảo luận cho bài: "ký ức xanh"