Làm Nghề Này Phải Gian

Tác giả:

Một tiếng cười đã thay đổi đời tôi. Ðúng hơn đời tôi đã bước qua một ngã rẽ với tiếng cười của chính mình. Từ một người viết, tôi bước vào nghề địa ốc.

Tiếng cười đã chợt đến, tình cờ như một áng mây, không báo trước như một cơn mưa mùa hạ. Một ngày mưa tầm tả ở Pittsburgh gần hai mươi năm trước đã khiến tôi nghĩ đến một nơi không bao giờ có mưa. Sau lời từ giã mẹ và em, và một góc phòng mà tôi thường ngồi nhìn ra cửa sổ, tìm những tia nắng cuối ngày đang biến dần dưới khu phố nghèo, tôi lái chiếc Chevrolet Cavalier rời Pennsylvania. Với tập bản đồ Rand McNally cũ mua ở chợ trời, tôi xem đường, hăng hái lái xe xuyên qua những cánh đồng bắp ở Ohio, những xưởng công nghệ tỏa khói mù mịt ở bắc Indiana, và những con đường vắng bóng người chạy tuốt đến chân trời ở Nebraska. Tôi mệt dần giữa miền núi hoang vắng ở Wyoming, phấn đấu với hơi nóng, lo ngại chiếc Cavalier sẽ banh xác giữa sa mạc của Nevada.

Tôi đến California vào một buổi sáng dịu dàng. Mặt trời đã rực rỡ trong lúc đưa tôi qua San Francisco, rủ tôi chạy dọc theo đường biển Thái Bình Dương, xuống Los Angeles, dừng lại ở Bolsa.
Và tôi đã dừng lại khá lâu, dừng luôn với cuộc đời luôn có những ngã rẽ mới. Tôi gặp nàng, tôi yêu vợ, chúng tôi có con, có mái nhà, có những tháng ngày lận đận không dám nhìn nhau trong nỗi lo âu, và cũng có những ngày thong dong cùng ngắm mặt trời lặn, mỉm cười trước những hạnh phúc bao la, dào dạt trôi theo sóng biển thái bình. Hạnh phúc và lo âu cũng tình cờ như một ngày mưa không dứt ở Pennsylvania. Nếu không có ngày mưa ấy, chắc gì tôi đã gặp nàng, chắc gì tôi ở California, chắc gì tôi đã hoàn tất hai cuốn sách, và chắc gì tôi muốn viết tin tức cho một đài phát thanh lớn nhất của người Việt tại hải ngoại.

Chắc gì. Có một điều rất chắc là tôi từng ao ước được viết ở một nơi yên tịnh, giữa những đồi núi tại Pennsylvania. Bên ngoài thị trấn Rillton, tôi đã nhiều lần đạp xe qua những cánh đồng, rời xa mấy xóm nhà ngoại ô. Lúc đó tôi mơ tưởng được sống trong một căn nhà nhỏ ven rừng, gần một con suối mát lạnh đôi chân. Ngày ngày tôi vào rừng hoặc bước lên đồi, nhẩn nha như một sinh vật không cần ăn, không cần xe, và chưa biết có cần vợ hay không. Ðêm đêm tôi nằm ngắm sao trời, tưởng tượng những nơi yên bình như trong truyện thần tiên. Thỉnh thoảng tôi viết, viết rất nhiều theo những cảm giác êm đềm giữa một miền quê. Có lúc tôi cũng nghĩ đến chuyện tu hành. Nếu không thèm hủ tiếu, không liếc mấy con nhỏ Mỹ hàng xóm, đời tu hành của tôi có lẽ đã thăng tiến rất nhiều, rất xa nghiệp viết đầy dung tục hoài cảm. Mọi chuyện đều tình cờ.

Những buổi đạp xe và tưởng tượng ấy là thời gian đẹp. Mùa hè của năm 1976 và 1977 là những ngày phấn đấu của gia đình tôi, mà nhất là của mẹ. Bà bận rộn với việc rửa chén tại một nhà hàng ở Irwin. Ông chủ tốt bụng thường lái xe mấy chục dặm đưa người làm đến tiệm. Tôi cũng rửa chén một thời gian cho ông ấy, cộng thêm những việc lặt vặt trong xóm như cắt cỏ, rửa xe, phụ mẹ trả tiền nhà. Chúng tôi ở thuê trong một nhà cao hai tầng. Chủ nhà sống ở tầng trên, gia đình tôi và một gia đình Mỹ sống riêng biệt ở tầng dưới. Kể từ ngày rời Việt Nam năm 1975, căn nhà riêng biệt và những người Mỹ xa lạ là một phần đời của chúng tôi, bên ngoài một quê hương mà chúng tôi không thể liên lạc, không biết bà con ra sao, và chỉ thỉnh thoảng nghe những chuyện đau thương trên đường vượt biên của những người cùng quê.

Một ngày kia mẹ có tin vui. Bà được làm tại một xưởng công nghệ, chuyên chế tạo máy khoan dầu. Bà được cầm máy xịt sơn vào những khối kim loại khổng lồ. Lương cao hơn tiền rửa chén, và biết đâu một ngày kia chúng tôi có thể mua được nhà. Gia đình liền dọn lên gần thành phố Pittsburgh. Những ngày đạp xe thong thả về miền quê của tôi cũng chấm dứt từ đó. Có lẽ từ ngày ấy tôi hay cười, vui cũng cười, buồn cũng cười, cười ngây ngô, cười hăng hắc, và cười liên miên. Nhiều khi tôi không thể phân biệt những tiếng cười của chính mình, và cũng không muốn biết tại sao.

Từ những cánh đồng ở miền Rillton, đời tôi đã trôi ra biển khơi qua nhiều nhánh rẽ, mỗi lúc một xa dần căn nhà mà tôi hằng ao ước. Ở mỗi khúc quanh tôi để lại một tiếng cười. Như đã nói, tôi không biết mình cười buồn, cười vui, cười vô tư hay cười vô duyên. Tôi cũng vẫn mang theo một niềm vui được viết cho chính mình, viết về những chuyện tủn mủn trong một đời thường, viết không định hướng, thong dong như đang vui với gió trên một chiếc xe đạp.

Ðạp xe ở miền quê Rillton thì không sao, có lạng qua lạng lại giữa đường chỉ có cây phỉ nó biết, thỏ nó hay, chứ đạp ở thành phố mà quẹo ẩu sẽ có ngày bị cán dẹp ruột. Tôi đã bị cán dẹp xác mấy lần, ngồi dậy thấy đầu tai trái ngược, có lúc đau quá không dám cười. Tôi đã quẹo ẩu một lần ở đại học. Ðang học kỹ sư ngon lành, đợi thêm hai năm sẽ có việc làm tốt, giúp gia đình khá hơn, tôi bỗng chuyển sang ngành điện ảnh, học viết chuyện phim. Học ngành này cực lắm vì phải nói nhiều, mà tôi lại ít nói, khó diễn tả ý tưởng bằng lời. Vậy mà tôi cũng ráng học vì mê hình ảnh. Nhiều khi tôi không biết mình đang xem phim hay đang xem một chuỗi mộng liên tục trong giấc mơ. Ra trường, hết mơ mộng. Kiếm không ra việc ở miền bắc, ngồi buồn so trong một ngày mưa mù mịt, tôi chợt nghĩ đến California. Tình cờ chăng?

Vừa đến Nam California tôi đành giấu bằng cử nhân dưới đáy thùng quần áo. Bán bằng không đủ mua một ổ bánh mì ăn qua một bữa tối. Xin việc assembly tại một xưởng điện toán tại Irvine cũng không cần bằng cấp, mà cần hai cánh tay kéo thùng phi, cần vài lời văng tục để hòa mình với đám đồng nghiệp Mễ biết ít tiếng Anh, và cần kiên nhẫn để chịu đựng một nghiệp viết có lúc rất khắc nghiệt, mà cũng có lúc rất bao dung.

Sau những giờ mặc đồng phục nâu xộc xệch, kéo thùng phi, chạy máy, về nhà rảnh thời giờ tôi dự thi viết của nhật báo Người Việt. Có lẽ những anh chị ở nhật báo này là người giỏi, họ nhận ra ngay tài “giết giăng” của tôi. Họ cho tôi giải nhì, dụ tôi vào nghề viết báo. Lúc bấy giờ, năm 87, 88 tòa báo thiếu người, bày ra nhiều mục mà không ai chịu làm, nên tôi thầu hết. Nhà báo trẻ “mầm non” viết cho trang thanh niên, dịch tin thời sự, chụp hình biểu tình chống Cộng, tìm bài cho trang thiếu nhi, viết tạp ghi tiếng Việt, phụ trách luôn trang tiếng Anh. Lúc đó tôi còn “ngây thơ” chưa biết đàn bà là gì, bằng không họ giao luôn cho tôi viết trang phụ nữ, giành job của mấy bà chị chuyên giãi bày tâm sự của người tị nạn cô đơn. Nhật báo đã liên kết với một đài truyền hình. Tôi “được” giao luôn việc viết tin, thâu hình cho đài truyền hình. Mặc dù tiền viết báo không hơn so với tiền kéo thùng phi là bao nhiêu, tôi cũng vui vì được viết, được thả những ý tưởng chạy loạn trên trang giấy, bung nhảy tứ phía mà lại tưởng chừng như có ý nghĩa, như những hình ảnh khác biệt ráp lại thành một truyện phim.

Có việc làm vui như vậy mà tôi không dám gọi về Pennsylvania. Ðợi đến một ngày kia, khi biết tờ báo đã bay về Pittsburgh, tôi mới dám nói cho mẹ hay. Buổi đối thoại hôm đó cũng giông giống thế này.
“Sao, có hãng nào ở Hollywood nhận mày chưa?” mẹ tôi hỏi như mọi lần.

“À… dạ chưa. Kinh tế đang xuống, mà lên trên Hollywood hay bị kẹt xe,” tôi nói lung tung, gặp đâu nói đó, cố ý câu giờ và chờ dịp thuận lợi để nói thật về nghề viết báo của mình. Dịp đó đã đến mà không thật sự thuận lợi cho lắm.

“Ở Bolsa có nhiều người Việt không?” mẹ hỏi.

“Nhiều lắm má à. Ðông người lắm. Chợ, thức ăn, cái gì cũng có.” Tôi hít một hơi dài vào phổi, rồi nói một tràng thiệt nhanh như sợ mẹ sẽ nghe kịp từng chữ. “Ở đây có một tờ nhật báo tiếng Việt, lớn nhứt ở hải ngoại, ai cũng đọc tờ báo này. Con đang làm cho tờ báo đó.”

“Trời đất! Mày viết báo?” Mẹ tôi rất thính tai, bắt ngay câu chót như hiệp sĩ kiếm hiệp chụp ám khí. Bà liền tấn công tới tấp qua đường dây điện thoại viễn liên gọi-cuối-tuần-cho-đỡ-tốn-tiền. “Mày có biết người ta thường nói ‘nhà báo nói láo ăn tiền?’”

“Dạ biết. Nhưng vẫn có những người làm báo đàng hoàng, cũng… ăn tiền.”

“Tiền đâu mà mày ăn. Sao vô cái nghề viết chi vậy? Người ta trả lương có đủ sống không?” Chưa nghe tôi trả lời, mẹ liền bồi thêm, “Thôi đừng làm báo, viết văn chi nữa, nghèo lắm.”

Quả thật mấy năm sau gia đình tôi không khá. Nghề viết bay lơ lửng lên cõi trời vô hạn, trong khi túi tiền vẫn nằm ì dưới đáy biển trầm luân. Tôi viết được cuốn sách đầu tiên, mở tiệm bán sách bị thiếu nợ, phải dẹp tiệm. Viết điểm phim cho một đài truyền hình, và tình cờ được đài phát thanh nằm ở bên cạnh khều vào viết tin. Từ đó, năm 1994, tôi viết tin tức cho đài Little Saigon Radio cho đến nay. Ðài trả lương khá, có lẽ khá hơn tất cả những cơ sở truyền thông của người Việt Nam ở hải ngoại.

Ngày tôi báo tin “viết cho đài” mẹ cũng phóng vài mũi phi tiêu. Cũng may mông tôi đã chai, bao nhiêu phi tiêu đều rơi rụng, chỉ để lại một chút vết thương như bị muỗi cắn, đủ đau vài ngày trước khi biết mất. Hình như người ta sinh con để phóng phi tiêu, đứa nào chịu được thì thành con ngoan.
“Sao không làm nghề gì cho nó đàng hoàng, viết tin cho đài thì cũng như viết báo?” mẹ hỏi từ một nơi xa mấy ngàn cây số, mà nghe đau nhức sát bên tai. Cám ơn kỹ thuật tân tiến.

Nói thì nói vậy, mẹ tôi rất thương con. Bà phóng phi tiêu lia chia cũng vì thương tôi, không muốn tôi bị người khác… phóng vài nhát. “Viết cho đài nguy hiểm lắm con ạ. Lỡ gặp đứa nào không ưa mày, nó đánh mày thì bỏ mạng.”

Cũng may tôi chưa bị ai đánh, chỉ bị hăm thôi. Hầu hết tin tôi viết thuộc loại hiền, vô tư, không ác ôn. Nếu có đụng chạm thì không phải vì ác ý, mà vì muốn xây dựng, thông tin cho mọi người cùng biết. Nhờ uy tín chung của đài và của riêng mình, tôi viết tin được mười năm, còn tiếp tục gõ bảng chữ lia lịa mỗi ngày. Tôi gõ nhiều loại tin thời sự, vậy mà khi gặp tôi người nghe đài thường chỉ nhớ “tin dui dui cuối cùng của Hoàng Mai Ðạt.” Họ nhớ như vậy cũng ngoài ý muốn của tôi. Những đêm nằm ở ngoài đồng Pennsylvania, tôi rất vui khi nghĩ đến những chuyện tiếu lâm, ao ước sống trong một thế giới đầy tiếng cười. Tôi cố quên một cuộc chiến mà gia đình tôi vừa thoát khỏi, không muốn nhớ một người cha đã bỏ mình ở trận địa.Tôi biết “chuyện dui dui” giúp tôi đứng dậy, đối đầu với một tương lai mịt mù như khói từ những xưởng thép ở Pittsburgh.

Từ ngày đến California tôi cũng muốn cười một phần vì sợ bị chết… buồn. Nghe tiểu bang này hay bị động đất, tôi tưởng tượng những xác người được tìm thấy bên dưới những khối nhà bị sập. Xác mang những nét mặt hoảng sợ, kinh hãi. Tôi từng thấy hình xác máu trong cuộc chiến Việt Nam. Có xác nào thật sự còn mang một nụ cười trên môi? Nếu có đi về bên kia thế giới, tôi muốn xác mình mắt nhắm miệng cười, cười tươi như hoa hướng dương. Thấy tôi, nhân viên cứu thương sẽ thầm nói, “Chắc ông này nghĩ chuyện bậy bạ, chứ làm sao chết mà vui như vậy?” Tôi cố gắng cười và nghĩ điều lành từng giờ trong cuộc sống. Không ai biết mình sẽ ra đi lúc nào. Ði trong tâm trạng vui vẫn hơn là buồn, lo sợ.

Dư âm “chuyện dui dui cuối cùng của Hoàng Mai Ðạt” cũng có một “ý đồ” khác. Tôi tin rằng khi người ta vui thì sự hận thù sẽ giảm. Trong lúc cười vì một chuyện gì đó, kể cả chuyện tục ố mà nhất là chuyện tục, mấy ai nghĩ đến âm mưu sát hại người khác? Nếu cười suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày thì hầu như không có ai còn thời gian để thù người khác hay ghét chính họ. Người nào vừa cười và vừa có thể giết người là thành phần phi nhân siêu đẳng, bất thường, chỉ có thể làm… lãnh tụ độc tài. Người thường như tôi chỉ biết cười chuyện… bậy bạ.

Cũng có những lúc tôi cười vô tư mà thật sự là cười buồn. Vợ tôi biết rõ điều này. Một lần nghe nàng giải thích với những người bạn về lối nói chuyện “đầu cua tai nheo” của chồng, tôi mới hiểu có nhiều lúc tôi nói “chuyện này tức cười lắm” mà thật sự lại là chuyện ác ôn, chuyện đau thương, không thể nào vui nổi.

Mới đây “một chuyện tức cười” đã đưa tôi qua một hướng đi mới. Vợ chồng tôi gặp lại những người thân sau nhiều năm xa cách. Mọi người tâm sự những mẩu chuyện về quá khứ, sự nghiệp. Tôi không có chuyện gì khác để chia sẻ ngoại trừ đời viết văn, viết báo. Loại đời này chỉ nên nói với những người bạn cùng nghiệp viết, để dễ thông cảm và than vãn với nhau. Ðối với nhiều người khác họ thường so sánh để thấy khía cạnh thơ mộng và thiếu thốn của người viết. Tôi bị nghe sự so sánh nhiều lần. Thế nhưng đến lần cuối cùng thì tôi đã quyết tâm thay đổi đời mình, muốn chứng minh với chính tôi rằng tôi vẫn có thể làm những việc khác, cũng có thể thành công bên ngoài nghiệp viết.
Trong buổi nói chuyện “tức cười” hôm ấy, chúng tôi đã đẩy đưa câu chuyện qua nhiều đề tài. Chính trị hai đảng ở Mỹ, tù đày thiếu dân chủ tại Việt Nam, văn hóa xâm mình hở rốn ở Cali, bệnh tật, thức ăn, trồng cây, mỗi đề tài được bàn ra bàn vào dăm ba câu, chấmt dứt mau chóng. Ðến đề tài tiền thì vũ trụ bỗng dừng lại ở đó, và dừng rất lâu. Nhân nói về chuyện nhà cửa đắt giá ở Bolsa, đắt như trong phong trào nuôi chim cút ở Việt Nam lúc trước, hay như ăn canh dưỡng sinh “gobo” mới đây, tôi nhắc đến một người bạn đang làm chủ vài căn nhà cho thuê. Bà chị dâu của vợ tôi bỗng linh động hẵn lên và chú ý lắng nghe. Trước đó chị đã lim dim đôi mắt trong lúc nghe tranh cử thống đốc, gắp thêm thức ăn trong lúc tôi kể chuyện ra mắt cuốn sách thứ nhì, bàn việc mở tiệm làm móng tay ở tiểu bang xa. Chị đã buông đũa và hỏi dồn về người bạn, muốn biết người đó có mấy căn nhà, ở đâu, mỗi tháng kiếm được bao nhiêu tiền. Cuối cùng chị phán một câu, “Ở Mỹ phải như vậy mới là thành công.”

Tôi cười khề khà với chị, gật đầu với chính mình và nhìn vào ly bia, không nói gì thêm trong đêm hội ngộ. Vợ tôi biết tiếng cười của chồng. Nàng đã thấy nó nhiều lần và hiểu tôi cười mà không phải cười. Tôi đã nghe những nhận xét “thành công” tương tự không biết bao nhiều lần lúc trước. Thế nhưng lần này thì… đau lắm. Viết được sách không là thành công. Viết tin tức cũng vậy. Nuôi được các con khôn lớn, giữ cho gia đình được hạnh phúc cũng chưa chắc là thành công. Chỉ có tiền mới ngon lành. Tiền có thể bịt miệng đối thủ, có thể mua lời nịnh của kẻ thù, khiến cho một người to lớn phải khúm núm trước một kẻ nhỏ bé. Tiền có thể làm mọi thứ trở nên sang hơn, đẹp hơn, và cũng có thể hèn hơn. Tôi có một bạn văn chưa bao giờ in một cuốn sách, vậy mà tôi thấy anh viết những bài tạp bút chống bất công rất hay, rất đáng nể. Thế nhưng đối với những người như bà chị tôi chẳng hạn, anh ấy chẳng là cái quái gì. Tức cười.

Trước khi uống cạn ly bia đêm hôm ấy ố không biết ly thứ mấy ố tôi bỗng muốn có thêm một nghề khác, để có tiền và thành công theo nhận xét của số đông. Có tiền không chỉ giúp cho chính tôi, mà còn cho nhiều người ở chung quanh và ở quê nhà. Viết sách cực quá, dành nhiều thời giờ và suy nghĩ mà cuối cùng vẫn nghèo, vẫn bị đánh giá lè tè bởi những người có tiền, có thế lực. Cuốn sách đầu tiên của tôi đã âm thầm ra đời, ít người biết, khiến tôi bị thiếu tiền, vướng thêm nợ và càng nghèo. Gần mười năm sau cuốn thứ nhì được quảng cáo nhiều hơn, bán được hết và giúp tôi được… huề vốn. Tôi cũng mất dăm ba người bạn yêu chuộng sự thuần túy, không thích pha lẫn văn chương với thương mại. Với đà này thì mười năm nữa may ra tôi mới có chút lời bằng nghề viết.
Chuyện người bạn có nhà đã khiến tôi nghĩ đến ngành địa ốc. Người ta quảng cáo bán nhà là nghề “hái ra tiền”. Biết đâu tôi cũng có thể hái vài chùm tiền treo lủng lẳng trong nhà như những chùm nho. Biết đâu con đường mới là một thử thách có thể vượt qua được trong tầm tay, không phải một đỉnh tham vọng quá cao. Nghiệp viết đã cho tôi sức mạnh đánh bật nhiều thử thách. Mấy năm trước tôi đã có dịp nhìn đời sống của những bạn văn và chọn một đường. Có người đã là dành hết cuộc đời cho sự nghiệp nghệ thuật, bỏ mặc gia đình cho định mệnh, bất kể số phận của vợ con. Có người bỏ cuộc chơi chữ nghĩa, trở về chăm sóc gia đình, đoạn tuyệt với văn chương. Tôi chọn con đường thứ ba, con đường tham lam, vừa sống với nghệ thuật và vừa cố gắng mang lại hạnh phúc cho gia đình. Con đường trung đạo là một thử thách rất gian nan, như lèo lách giữa hai bà vợ và mong bà nào cũng được “dui.” Tôi viết sau những giờ dạy con làm toán, tôi bỏ những buổi đọc sách để đạp xe với con trong công viên hay trồng cây cho vợ, tôi in sách với tiền đưa vợ con đi ăn nhà hàng. Tôi coi con cũng như sách, có đứa nào chăm sóc đứa đó cho đến khi nó không cần mình nữa. Bỏ vợ rất khó, bỏ con còn khó hơn, mà bỏ viết thì không thể được. Biết làm sao giờ? Ðịa ốc chăng?

Nghề “hái ra tiền” không thật sự dễ như vậy. Bứt được vài trái cũng phải đổ mồ hôi và có khi bị té từ trên cây xuống mặt đất như mít rụng. Tôi khám phá nghề địa ốc cũng rất vất vả. Những ai làm ra tiền đều phải chịu khó, làm việc gấp đôi, gấp ba việc thường trong giai đoạn đầu. Tuy vậy, khác với viết văn, những ai siêng năng trong nghề địa ốc sẽ có phần thưởng tương xứng về mặt tài chánh. Viết được mười cuốn sách không chắc bằng bán được mười căn nhà. Ðiều nào quan trọng hơn? Tên tuổi được nhắc đến nhiều trên các báo chí văn chương? Hay cho con có tiền mua áo mới như các bạn học, giúp con có người cha trong nhà khi cần nơi nương tựa? Cha tôi mất sớm, nên có lẽ tôi thường nghiêng về phía thương con.

Mới bước vào nghề mới tôi đã phải đối phó với thành kiến. Vài người quen đã tỏ vẻ lo ngại, cho rằng tôi quá hiền lành để hành nghề bán nhà. Một ông bác đã thương hại và nói, “Làm nghề này phải gian cháu ạ. Hiền như cháu sẽ bị tụi nó đạp chết.” Tôi không biết tụi nó là ai, thân chủ hay những người đồng nghề. Cũng may xác tôi đã xẹp lép, có đạp thêm cũng không sao. Tôi được biết bán nhà không giống bán xe hoặc bán hàng ngoài chợ. Chuyên viên không cần gây áp lực với thân chủ, mà cần sự lương thiện, hiểu luật và biết lắng nghe. Tôi rất mừng khi biết điều trên. Ít nhất giữa khoảng cách quá xa giữa nghề viết và nghề buôn bán cũng có sự lương thiện là điều kiện chung cho sự thành công. Không riêng nghề bán, nghề viết cũng lắm kẻ gian. Nếu không người ta đã không nói “Nhà báo nói láo ăn tiền.” Tại “báo” vần với “láo” nên dùng câu này cho tiện, chứ nhà văn nói nhăng cũng nhiều không kém. Nói cho cùng đâu phải người viết nào cũng láo, đâu phải người bán nào cũng gian.
Một tiếng cười đã thay đổi đời tôi. Tôi nghĩ đến tiếng cười ấy trong lúc lái xe đến văn phòng của hội realtor. Hội có qui luật dành cho người hành nghề địa ốc. Vào hội thì phải theo luật, không được… gian. Xa lộ đang bị kẹt xe giữa trưa tại Nam California. Tôi nhớ những ngày đạp xe thong dong ở miền quê Pennsylvania. Tôi từng buồn khi biết mình rời một miền quê ở xứ lạ mà tôi đã bám vào trong những ngày mới rời quê hương. Tôi bớt buồn khi biết mình mang theo một nghiệp viết mà trong những lúc bao dung đã cho tôi sống lại những ngày êm đềm trên những trang giấy, phục hồi lý tưởng thương người ở trong tôi. Mỗi ngã rẽ trong đời không xa dần miền quê ấy, mà thật sự đến gần hơn. Có thực mới vực được đạo. Biết đâu tôi sẽ khá hơn với nghề địa ốc, không phải gãi đầu gãi tai khi nghe con muốn mua một đĩa nhạc mới, không phải làm ngơ khi nhận được thư của thân nhân mới sanh con và cần sự trợ giúp ở quê nhà.

Qua hết đoạn đường bị kẹt xe, tôi rẽ vào văn phòng của hội địa ốc. Thêm một chặng đường, thêm một thử thách mà tôi sắp bước qua. Nhìn lên kiếng chiếu hậu tôi thấy mình đã mỉm cười từ hồi nào. Lại cười.

Thảo luận cho bài: "Làm Nghề Này Phải Gian"