Lãng Đãng Cành Mai

Tác giả:

Cứ mỗi độ xuân về, khi lặng ngắm những cánh mai vàng nở rộ trong những bức tranh, lòng tôi lại chợt buồn mang mác nhớ đến những kỷ niệm của thủa ấu thơ. Những kỷ niệm ấy có lẽ đã hằn sâu và ẩn kín trong trí nhớ của tôi, kiến tôi có muốn xóa đi cũng chẳng được. Chúng ẩn trốn một cách tài tình và nằm im lặng như đã chết để rồi một lúc thuận tiện nào đó, chúng lại hiện về sống động trước mặt. Mỗi lần như thế, trí tôi cứ mê man để rồi hồn tôi quanh quẩn, lãng đãng thế nào ấy!

Nhìn cành mai giả trước mặt, tôi lầm bầm thầm nhẩm tính xem đã có bao nhiêu lần mình đón Tết không có cành mai tươi trong nhà. Tính đi tính lại, tính tới tới tính lui, như sợ phải đếm qúa mười đầu ngón tay, nhưng cuối cùng, tôi cũng phải chấp nhận rằng, mười đầu ngón tay không đủ để đếm hết những dịp đón Tết thiếu vắng cành mai vàng trên bàn thờ tiên tổ.

Lúc này, ở bên ấy, có lẽ các chợ hoa Tết đã bày bán những chậu cúc vàng rực rỡ, những cây tắc đầy trái chín mọng, và chắc không thể thiếu những cành mai đầy nụ no tròn, bụ bẫm. Thế nhưng, hình ảnh cành mai hiện về trong tôi lúc này, lại không phải là một cành mai đầy ắp những nụ hoa no tròn bụ bẫm như những cây mai được bầy bán ở các chợ hoa. Nó cũng không phải là một cành mai được cắt tỉa và uốn nắn khéo léo bởi đôi tay điệu nghệ của bác nghệ nhân làm vườn. Nó chỉ là một cành mai rừng èo uột, thô kệc, thưa thớt vài chục nụ hoa nho nhỏ, xinh xinh. Cành mai rừng ấy được cắm cẩn thận trong một chiếc hũ sành nho nhỏ, quãng bằng ba gang tay vòng lại, và được đặt giữa chiếc bàn gỗ sao cũ kỹ đã ngả mầu vì năm tháng.

Suốt những năm tháng vắn vỏi của tuổi thơ, không biết đã có bao nhiêu cành mai rừng được tôi đốn về, tỉa lá, đốt gốc, rồi đem làm qùa cho người thân nhân dịp xuân về. Có năm, tôi tìm được những cành mai đầy ắp những nụ. Có năm, tôi kiếm được cả những cành mai uốn lượn khúc khuỷu tự nhiên thật đẹp mắt. Nhưng đối với tôi, chẳng cành mai nào làm phai mờ được hình ảnh cành mai năm ấy. Nhánh mai rừng đã để lại trong tôi nhiều trăn trở và suy tư. Nó chỉ là một cành mai rừng thô thiển. Cành mai rừng trên ngôi mộ cổ.

Năm ấy, như đâu là một trong những năm đầu của thập niên tám mươi thì phải, một năm mà hình như Tết đến với bọn trẻ chúng tôi hơi sớm. Có lẽ vì mưa thuận gió hòa nên mùa màng bội thu. Sau mùa gặt, vì được mùa nên ai cũng hởn hở đón Tết. Thường thì vào đầu tháng chạp, bọn con trai tụi tôi mới rủ nhau đi tìm mai rừng về chưng Tết. Nhưng năm ấy, vừa xong mùa gặt, bọn nhóc đã đua nhau đi tìm mai rừng về chưng Tết.

Với đám trẻ nít như bọn tôi, việc lùng tìm mai rừng đôi khi rất khó khăn và nguy hiểm. Có lẽ, vì đám con trai thích mạo hiểm nên chẳng đứa nào sợ cả. Tuy chơi chung với nhau, nhưng khi đi tìm mai rừng, bọn chúng tôi lại thường không đi thành nhóm, mà thường chỉ lén lén đi riêng từng đứa! Bởi khi đi chung với nhau, kiếm được mai rồi, chẳng biết phải chia chác làm sao cho vừa lòng hết mọi đứa cả.

Hôm ấy, vào một buổi trưa cuối tuần đầu tháng chạp thì phải, tôi trốn nội, len lén vác cái rựa nhỏ, tắt qua cánh đồng hẹp trước làng. Băng qua những thử ruộng mới gặt còn thơm mùi gốc rạ, tôi lầm lũi đi về hướng mấy quả đồi nhỏ phía bên kia cánh đồng. Mặc dù đã qúa trưa một chút nhưng ánh nắng rất nhẹ và trời có chút gió hiu hiu, lành lạnh. Trời trưa vắng lặng, chỉ nghe thỏang trong gió vài tiếng cúc cu của mấy con chim gáy vọng lại từ phía bìa rừng. Lần theo con đường mòn nơi chân đồi, bóng tôi từ từ mất hút vào đám rừng chà rậm rạp trên một quả đồi nhỏ.

Tôi chui rúc lùng tìm cả buổi chiều. Có lúc leo lên đứng một chân chêng vêng trên mỏm một tổ mối đất, dõi tầm mắt ra xa để định hướng. Có lúc lại phải khum người chui qua những bụi giây leo chằng chịt kiếm lối đi. Đôi khi phải lách mình bò qua những bụi móc mèo tua tủa gai nhọn để lần tìm lối thóat. Đám mai rừng làm như đang chơi trò trốn bắt với tôi thì phải. Thường là vào nhưng ngày này, lá mai đã ngả mầu vàng nhạt cả nên rất dễ nhận ra chúng từ xa. Thế mà, suốt cả buổi chiều căng mắt tìm kiếm trong đám lá rừng um tùm, tôi chẳng tìm được một cây mai nào. Mệt nhòai, chán chường, tôi lủi thủi lần tìm đường về nhà.

Đang lơn tơn vừa đi vừa vung vẩy cái rựa nhỏ qua lại cho đỡ chán, tôi chợt sực nhớ, hình như đã thấy một cây mai ở đâu đó. Đúng! đúng rồi! Tôi thầm reo lên. Tôi đã thấy những cánh lá quen quen ấy cách đây một vài tháng. Nhưng chúng lại ở đâu phía bên kia đồi và nằm trong một khu mộ cổ thì phải. Chần chừ một lát bởi nhớ đến vài lời đồn đại liên quan đến những ngôi mộ, cộng với ánh nắng chiều đã khuất dần sau mấy qủa đồi kiến tôi định từ bỏ ý định đi qua bên ấy xem sao. Đã lỡ trốn đi chơi rồi thì đi cho đã! Tôi thầm nghĩ rồi đánh bạo lần tìm đến khu mộ cổ nằm phía bên kia sườn đồi.

Chẳng biết khu mộ cổ ấy có từ thủa nào, chỉ nhớ nội tôi kể rằng: “Khi bà về khai phá vùng đất này, bà đã thấy những ngôi mộ bị bỏ hoang ở đó.” Bà còn chậm chạm giải thích: “Bà nghe dân địa phương nói, vì nơi đó là hàm rồng nên nếu ai chết mà chôn ở đó thì con cái sẽ làm ăn phát đạt lắm.” Nội kể vậy, tôi biết vậy, chẳng biết gì hơn về nguồn gốc sự hiện diện của những ngôi mộ ấy cả. Khu mộ cổ nằm ở phía đông của quả đồi. Vì đã có đến mất thập niên bị bỏ quên nên cây cối mọc lên um tùm, gần như thành rừng.

Tôi rảo bước theo con đường mòn đi về hướng bên kia đồi. Một hồi sau, tôi đã đến được khu mộ cổ. Khu mộ nằm trên một khoảng đất bằng phẳng cạnh một con suối cạn. Có khoảng năm bảy ngôi mộ nằm rải rác không theo một thứ tự hay một phương hướng nhật định nào cả. Chúng được đánh dấu bằng mấy tảng đá ong, loại đá đỏ thường rất mềm khi mới lấy lên từ lòng đất nhưng trở nên cứng khi đã được phơi khô dưới nắng.

Vì khu mộ nằm về hướng đông của quả đồi nên ánh nắng đã khuất từ lâu. Tôi đã cảm thấy chút hơi sương lành lạnh qua hơi thở dồn dập. Khung cảnh khu mộ cổ có vẻ âm u, bí ẩn. Đâu đó đã nghe có tiếng ếch nhái hòa lẫn tiếng dế rên rỉ nỉ non tưởng như tiếng ai óan vọng về từ cõi âm ti. Bây giờ ngồi nghĩ lại, sao thấy mình gan thế! Chắc lúc đó tôi còn nhỏ, nên có biết sợ là cái gì đâu! Tay cầm con rựa nhỏ, tôi lùng tìm một hồi, cuối cùng tôi đã tìm được một cây mai nho nhỏ nằm chen chúc với đám chà gai ngay trên một ngôi mộ nằm cạnh con suối cạn. Hì hục một hồi, tôi cũng đã tìm được gốc của cây mai. Không chần chừ, tôi cầm con rựa nhỏ hối hả chặt vội rồi hớn hở vác nhánh mai lần tìm đường về.

Đem cành mai về nhà, tôi tước hết lá, đem đốt gốc rồi cắm vào một chiếc hũ sành đã mẻ miệng. Tôi thấp thỏm chờ đến ngày Tết.

Rồi cái đêm ba mươi Tết ấy cũng đến. Với tuổi thơ, bởi mấy tiếng pháo đốt trễ đêm giao thừa và những hứa hẹn của vài tấm phong bì đỏ sáng ngày mồng một mà chẳng mấy khi chúng tôi được ngủ thẳng giấc. Riêng đối với tôi, đêm ba mươi Tết ấy đến với tôi với nhiều trăn trở. Bên cạnh những háo hức của tuổi thơ trong những ngày Tết, tôi lại phải mang thêm một nỗi lo lắng khác nữa, là sao cho những nụ mai nở đúng sáng mùng một. Theo kinh nghiệm, đáng lý ra những nụ hoa lúc này đã phải hé nở thì mới phải. Thế mà, những nụ hoa lỳ lợm kia giờ này vẫn cứ khép im ỉm. Tôi lo hoa không nở kịp, tôi lo mẹ tôi buồn, tôi suy nghĩ vẩn vơ. Thế rồi vì mệt qúa, tôi cũng thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn tưởng chừng cánh mai nở cũng đủ làm tôi giật mình tỉnh giấc.

Sáng hôm sau, khi nhưng tiếng pháo sớm đánh thức tôi dậy. Việc đầu tiên là ngước nhìn cành mai. Lúc đó còn sớm lắm. Qua ánh sáng yếu ớt của cây đèn dầu, nhìn xuyên qua tấm vải mùng đã có đến mấy miếng vá, tôi thấy lờ mờ vài cánh hoa nho nhỏ. Tôi tung màn, một tay dụi mắt, một tay xách cái đèn dầu soi cho rõ như sợ mình nhìn lộn. Lạ thay, những nụ hoa hôm qua còn là những viên ngọc mầu xanh nhạt nằm im ỉm, nay đã hoá thành những cánh hoa rực rỡ. Những cánh hoa rung rinh như kẽ né tránh trước hơi thở hồi hộp của tôi.

Và rồi, ánh mặt trời của một năm mới cũng đã đến. Căn nhà nhỏ, vốn thiếu vắng bóng dáng người đàn ông cột trụ từ khi nó được dựng lên trên một mảnh đất nhỏ vuông vắn ngòai rìa làng, như đẹp hẳn ra. Tiếng trẻ con bập bẹ tập đếm những cánh hoa vừa nở hòa cùng tiếng pháo Tết quyện vào làn gió xuân rồi tan vào ánh nắng xuân kiến ngôi nhà trở nên êm đềm ấm áp lạ. Lặng nhìn đám em thơ, lòng tôi rực lên một cảm giác là lạ, Tết đã đến rồi.

Mẹ tôi, một người mẹ tảo tần, cần mẫn nuôi bốn đứa con ngheo nhóc từ lúc đổi thời, chỉ mong sao sáng ngày mùng một Tết những cánh mai nở thật nhiều. Có lẽ vì đã qúa khổ cực nuôi đàn con nheo nhóc. Chúng chỉ biết ăn và đem đến cho bà những phiền thóai bởi chúng qúa nhỏ dại. Vì vậy, bà mong sao những cành mai nở thật nhiều để đem điều may và an lành đến với gia đình. Mẹ tôi kẽ mỉm cười nhìn đám con loay hoay bên nhánh mai nở rộ. Ánh mắt mẹ thoảng một niềm vui.

Thế nhưng, những cánh mai nở đúng sáng mùng một năm ấy có lẽ chẳng đem đến được điều may mắn nào đến cho bà cả. Chỉ vài tháng sau, mẹ tôi đã phải xót xa bật khóc khi được tin người anh ruột đã bỏ mình trong trại cải tạo. Rồi vài tháng sau đó, thằng con út leo cây ngã gẫy tay, đứa con gái duy nhất thì phải đi mổ ruột thừa trong lúc thằng con trai lớn đang nằm bệnh viện Chợ Rẫy vì chứng sốt rét. Chín tháng sau Tết, tôi phải ngậm ngùi dõi ánh mắt thèm thuồng nhìn thằng bạn chí thân đạp chiếc xe ngang qua nhà đến trường mỗi buổi sáng mà lòng buồn rười rượi. Và có lẽ cũng từ dạo ấy, mẹ tôi chắc đã nhiều lần phải mím môi nuốt những giọt nước mắt mặn chát, khi viết đến dòng chữ “Các con vẫn mạnh khỏe và đi học đầy đủ cả.” trong những bức thư gởi người chồng với địa chỉ người nhận đâu tận mãi Vĩnh Phú, Bắc Việt.

Sau này, vì tình cờ mà tôi được đọc lại những bức thư năm ấy. Tôi tự hỏi, tại sao mẹ tôi phải nói dối với bố về việc tôi phải nghỉ học và những tai ương đến với chúng tôi và bà vậy? Có lẽ chỉ mình bà hiểu được tại sao. Với tôi, có lẽ bà đã không muốn chồng phải trăn trở thở dài hằng đêm khi đặt lưng xuống tấm chõng tre ọp ẹp, vắt tay lên trán, nhớ về nhưng đứa con xa cách.

Tính đến hôm nay, đã có đến ngót ba chục cái Tết, nhưng nơi phát xuất cành mai rừng chưng trong nhà tôi Tết năm ấy vẫn được tôi giữ kín đối với những người thân. Lúc này, tôi đoán bạn đang nghĩ gì. Cành mai rừng năm ấy đã đem đến cho gia đình tôi những tai ương chăng? Có lẽ bạn sẽ nghĩ vậy. Bạn nghĩ gì thì tùy bạn. Đối với tôi, những biến cố năm ấy đã giúp tôi hiểu thế nào là nghèo khổ, thế nào là mồ côi, thế nào là thua thiệt khi không được cắp sách đến trường. Có mặc chiếc áo mỏng rách bươm lúc gió rét mới biết được giá trị của chiếc áo lành lặn ấm áp.

Kép nhẹ đôi mắt, tôi thả hồn tôi về lại chốn ấy. Tôi muốn lén lấy cái rựa nhỏ, băng qua cánh đồng đầy gốc rạ nhọn hoặc đầy sình lầy, vượt qua ngọn đồi tua tủa gai góc hoặc gồ ghề sỏi đá, đến bên ngôi mộ cổ, tìm lại gốc mai năm xưa. Thắp lên một áng hương trên ngôi mộ cổ để nhớ đến những người đã khuất bóng. Tôi lần tìm lại gốc mai năm xưa. Không biết gốc mai ấy có còn đủ sức đâm chồi sau những nhát rựa của tôi hay chăng? Nếu có đủ sức đâm chồi, liệu nó có đủ sức vươn lên để trang giành ánh mặt trời ấm áp với những loài cây hoang dại khác không? Và rồi, nếu có sức vươn lên, chẳng biết nó có còn trổ sinh cho đời những bông hoa xinh đẹp để trang điểm mùa xuân, hay thân nó chỉ tòan là những lá vàng èo uột để rồi chỉ chờ một chút gió lùa vào là đua nhau rụng lả tả. Có lẽ, gốc mai già ấy cần phải được vun bón, cần phải được cắt tỉa bởi những bàn tay dịu dàng, khéo léo của nhưng nghệ nhân làm vườn chuyên nghiệp, để rồi khi mùa xuân đến, nhánh mai ấy sẽ dâng tặng cho đời những nụ hoa no tròn, bụ bẫm. Để rồi một ngày đẹp trời nào đó, những nụ hoa ấy nở tung giữa trời xuân ấm áp.

Bạn ơi! Đôi khi ta phải tìm lại gốc mai già năm xưa để biết ta đã là ai. Để rồi, ta biết cảm thông, ta biết chia sẻ. Để ta biết đem đến cho những bờ môi đã rạn khô vì chẳng bao giờ biết cười một nụ cười tươi rạng rỡ như nhưng cánh mai vàng của một mùa xuân bất tận.

Thảo luận cho bài: "Lãng Đãng Cành Mai"