Lão Năm Đạo Tỳ

Tác giả:

Hiếm khi người ta thấy lão tỉnh táo hoàn toàn. Gần như lúc nào người lão cũng phảng phất mùi rượu. Bất cứ ai nhìn thấy bộ dạng khập khiễng chân thấp chân cao từ xa của lão, cũng biết ngay là tướng đi của một người đang trong trạng thái là đà say. Hình như rượu là một cái gì gắn liền với đời sống lão. Thiếu nó không được. Mới sáng sớm, đã thấy lão xuất hiện ở quán hủ tiếu mì con Dùng đầu ngõ để làm một cái "xây chừng" rượu đế. Có người ái ngại nói với lão:

– Ông uống kiểu nầy hoài có ngày chết đó. 

Lão chỉ ngước mắt nhìn xéo lên người vừa nói câu đó:

– Không uống còn chết lẹ hơn nữa, nhờ uống như vầy mà còn sống tới giờ này đây.

Nói xong lão nốc một hơi cạn sạch ly "xây chừng", rồi khập khiễng bước ra khỏi quán, trông có vẻ phấn chấn hơn trước. Mà quả thật, khi chưa có rượu người lão thấy uể oải, điệu bộ giống như con bệnh mới vừa hồi phục. Ấy thế mà sau khi đổ hết cái chất cay xè đó vào cổ họng, trông lão có phần linh hoạt hẳn lên. Lão uống rượu không khề khà năm điều mười chuyện bên dĩa đồ mồi thơm phức như những dân nhậu khác, mà chỉ ực gọn một cái là xong, khỏi tốn mồi miếc gì hết! Giống như người nghiện á phiện, hể tới cử là phải có thuốc hút hoặc chích vào cơ thể! Hay nói một cách khác cho có vẻ khá hơn: Rượu đối với lão giống như một phương thuốc thần diệu giúp ngăn chận sự hành hạ đau đớn mỗi khi bệnh nhân sắp lên cơn. 


Từ khi còn rất nhỏ, ký ức tôi đã in đậm hình ảnh của lão trong đó rồi. Cả vùng Nguyễn Huỳnh Đức, cổng xe lửa số 6 Trương Minh Giảng vô tuốt trong khu lò heo, xóm Kiến Thiết Ngói Đỏ… ăn luồn từ đường Thiệu Trị ra thấu tới trường học Quốc Anh ngoài Công Lý… gần như ai cũng biết lão. Không rỏ lão sống ở đây từ hồi nào, vợ con thân nhân là ai… ngay cả tên thật của lão cũng không ai biết! Có mấy ông bà già kỳ cựu ở vùng này nhớ mang máng lão thứ Năm, nên người ta ai cũng quen gọi là lão Năm, kèm theo cái biệt danh rất ư là nghề nghiệp: "Năm Đạo Tỳ". Bởi vì những chuyện dính dáng tới mai táng, tẩn liệm người chết, hốt cốt, đào huyệt mả… ngay cả xây mồ, dựng bia… lão đều làm tuốt luốt. 

Lão Năm Đạo Tỳ ở có một mình trong một căn nhà lụp xụp ngay mé ngoài nghĩa địa Phong Thần. Bất cứ ai có việc liên quan tới người chết nhờ tới lão là xong hết. Bề ngoài lão có vẻ say xỉn tối ngày như vậy, nhưng khi làm việc, lão làm rất nhiệt tình. Hể lão đã nhận lời làm cho ai việc gì rồi thì người đó cứ yên tâm. Mọi việc được giao phó đều hoàn thành suông sẻ đúng hẹn, dù trước đó không lâu người ta còn thấy lão lè nhè, hơi thở sặc mùi rượu. Nhưng đừng thấy bề ngoài và tướng đi khật khưỡng của lão mà lầm. Lão rất khoẻ và dai sức. Một mình lão đào một huyệt mả nhanh không thua gì một thanh niên đang thời sung sức và lão có thể làm một hơi không nghỉ cho đến khi xong xuôi rồi mới khật khưỡng ra trước quán hủ tiếu mì con Dùng làm một cái "xây chừng" nước trắng lấy lại sức. 

Không ai thấy lão nấu nướng bao giờ! Thức ăn thì đa số là đồ cúng người chết đặt trước các ngôi mộ. Thân nhân cúng xong đi về thì lão hưởng trọn. Cũng chẳng có ai phàn nàn về việc đó cả, vì hầu như mọi người đều cho đó là một việc tất nhiên. Cúng kiến ngoài nghĩa địa xong rồi thì là của lão Năm Đạo Tỳ chứ đâu có ai mang trở về nhà bao giờ. Quanh năm hầu như lúc nào cũng có người thuê lão trộn hồ, xây mộ bia, đắp mộ, hốt cốt… nói chung ít nhiều gì cũng có việc lai rai để lão sống và có tiền uống rượu hoài. Vào những dịp Thanh Minh, hoặc cận Tết là lúc lão huy hoàng. Bánh trái, gà, vịt, heo quay… dư thừa đối với một mình lão vào những dịp này. Nhưng kể ra lão cũng rất tốt bụng. Những khi dư giả như vậy, chiều chiều người ta thường thấy lão mang thức ăn ra chia xẻ bớt cho những người ăn xin tụ tập trước ngôi chùa gần đó. 


Tôi vẫn còn nhớ có một lần tôi và mấy đứa bạn trong xóm xem lão tẩn liệm một người chết được đưa từ nhà xác về nhà chôn cất. Chân tay người chết cứng đơ ở một tư thế khuỳnh ra, cong cong trông rất quái dị… Trước đó có mấy tay nhà quàn do chủ nhà mời đến nhưng không ai làm cách nào đặt người chết vào quan tài nằm ngay ngắn được… Có ai đó nhắc tới lão Năm Đạo Tỳ. Thế là người ta túa ra khắp nơi tìm thỉnh lão về. Đến nơi, dù trong người còn bốc mùi rượu, nhưng lão vẫn lè nhè hỏi gia chủ đưa thêm rượu cho lão uống tiếp mấy ngụm. Sau đó lão đứng cúi đầu trước người chết, điệu bộ chợt trở nên nghiêm trang một cách khác thường rồi thành khẩn khấn vái lầm rầm gì đó… Kế tiếp lão phun rượu phèo phèo lên tay chân người chết, xong xuôi nhảy lên bộ ván người chết đang nằm, xoa nắn một hồi rồi duỗi được tay chân người chết ngay ngắn như một người đang nằm chấp tay trên ngực ngủ. Lạ một điều là trước đó, mấy tay nhà quàn kia cũng khấn vái, cũng phun rượu ì xèo mà làm không được. Việc tẩn liệm cho người chết sau đó không còn trở ngại nữa. 


Một lần khác, có một người đàn bà buồn tình chuyện gì không biết, đâm đầu vào xe lửa đang chạy ngang qua khu cổng xe lửa số 6, khúc đường Nguyễn Huỳnh Đức tự tử. Ôi thôi! Máu thịt tung toé khắp nơi. Ai trông thấy cảnh đó cũng hãi hùng! Dân chúng và người đi đường đứng coi đông nghẹt. Bọn nhóc chúng tôi cũng dễ gì bỏ qua dịp này. Ngay sau khi có người loan truyền tin ra, chúng tôi đứa này chạy kiếm đứa kia rủ nhau kéo đến chỗ xảy ra tai nạn, len lỏi vào tận nơi coi cho bằng được. Người đứng coi thì đông nhưng không thấy ai dám thu nhặt đống máu thịt bầy nhầy vương vãi đó. 

Dân chúng bàn tán lung tung, gần như ai nấy cũng đều nhắc đến lão Năm Đạo Tỳ và đồng ý chỉ có một mình lão là có thể cáng đáng chuyện này mà thôi. Người ta chạy đi kiếm lão khắp nơi nhưng không thấy lão đâu cả. Kiếm ở những nơi quen thuộc mà lão thường hay lui tới cũng đều không gặp. Cảnh sát phong tỏa nguyên khu Nguyễn Huỳnh Đức và đã báo cho nhà xác bệnh viện thành phố nhưng mãi vẫn không thấy ai tới. Cảnh sát cũng có cho tìm những tay nhà quàn khác tới, nhưng mấy tay đó sau khi nghe chuyện đều thối thoát né tránh hết. Trời đã chiều lắm rồi, trong khi mọi người còn đang bối rối, thì lão Năm Đạo Tỳ bỗng từ đâu khật khưỡng đi tới. 

Mọi người reo lên khi thấy dáng lão xuất hiện từ xa và mừng rỡ chạy tới săn đón lão như thể đang đón mời một nhân vật quan trọng nào đó không thể thiếu được. Thế rồi, mặc cho bà con chung quanh chỉ trỏ bàn tán xí xô xí xào, lão vẫn ung dung như không có chuyện gì xảy ra, lên tiếng kêu ai đó chạy đi mua cho lão một lít rượu đế và dặn dò những người khác đi kiếm ngay cho lão một vài thứ lão cần, sau đó lão cứ việc ngồi đốt thuốc hút chờ người ta mang những vật cần thiết tới. 

Trước khi bắt tay vào việc, gương mặt lão bỗng đổi sang nghiêm trang, thành khẩn vô cùng. Nét khật-khà khật-khưỡng cố hữu của lão chợt biến mất. Lão đốt mấy nén hương, chấp tay khấn vái 4 phương 8 hướng một cách thật trịnh trọng, sau đó phun rượu vào hai cánh tay ướt nhẹp, rồi phun rượu vào một thùng gỗ dài có lót sẵn giấy tiền vàng bạc và giấy súc mà người ta đã mang đến cho lão… Sau đó lão bắt đầu nhặt nhạnh các mảnh thịt xương vương vãi chung quanh hiện trường, cứ hể nhặt một mảnh xương thịt nào lên, lão lại ngắm nghía, cẩn thận chùi đất cát dính trên đó trước rồi mới đặt nhẹ nhàng vào thùng gỗ, như có ý muốn lắp đặt lại đúng vị trí phần xương thịt đó cho phù hợp với những bộ phận trong cơ thể. Lão làm chuyện này một cách tỉ mỉ, thành thạo như một đồ tể chuyên nghiệp đang sắp xếp bày biện lại các bộ phận của con vật sau khi đã rã thịt nó ra vậy. 


Kể từ khi chứng kiến hai cảnh đó, mặc dù là một bọn chuyên môn phá phách, nghịch ngợm như quỉ sứ, chúng tôi đứa nào đứa nấy cảm thấy sợ lão Năm Đạo Tỳ lắm. Không đứa nào dám đến gần lão. Ngay cả bẵng đi mấy năm sau, khi chúng tôi được mười mấy tuổi, bọn tôi cũng vẫn còn e dè lão… cho dù thỉnh thoảng có a dua theo mấy tay lớn hơn chọc ghẹo khi thấy lão say, nhưng gặp lúc chỉ có một mình tôi nhìn thấy lão từ đàng xa, không khi nào tôi dám lại gần. Hình như trong người lão toát ra một cái gì đó, gây cho tôi một cảm giác bất an rờn rợn không diễn tả được. 



*****

***** *****

***** 



Đám trẻ chúng tôi hồi đó chiều chiều hay vào khu nghĩa địa Phong Thần chơi. Một mặt vì khu này gần nhà chúng tôi ở và có một khoảng đất trống phía trước đủ rộng để chúng tôi chạy nhảy chơi đùa thoải mái, mặt khác chơi đùa ở đây không động chạm đến ai nên không bị đuổi hoặc bị la rầy, trừ một người: Đó là lão Năm Đạo Tỳ. Thỉnh thoảng trong khi chúng tôi chạy nhảy la hét ồn ào quá, lão từ trong căn nhà lụp xụp bước ra hoặc đi đâu về thấy, lão quơ tay xua đuổi, giọng lè nhè khàn đặc: 

– Tụi bay đi chổ khác chơi hết đi. Cứ la ó ầm ỉ hoài. Đến mấy người chết rồi cũng nằm không yên với tụi bây nữa. 

Những lần như vậy, chúng tôi lại ù té chạy. Chỉ có lão mới có thể khiến chúng tôi đang chơi phải dẹp bỏ đi chổ khác ngay mà thôi. Tuy không nói ra nhưng cả bọn, đứa nào đứa nấy cũng ngán lão Năm Đạo Tỳ này, dù ông ta không có làm gì chúng tôi cả. 


Khu nghĩa địa Phong Thần này là giang sơn của người đã chết, ngoài ra còn là giang sơn của lão Năm Đạo Tỳ và của cả bọn trẻ chúng tôi nữa. Ngay góc ngả ba Trương Minh Giảng, Nguyễn Huỳnh Đức rẽ vào đường Thiệu Trị, đi tới một chút về phía tay trái là thấy khu nghĩa địa, nơi chúng tôi đến chơi thả diều, chạy nhảy hầu như mỗi chiều. Đây là một nghĩa địa nhỏ cũ kỷ có từ lâu đời rồi. Bên trong có một cái tháp được xây bằng xi măng gọi là tháp Phong Thần. Cái tên nghĩa địa Phong Thần cũng từ đó mà ra. Cái tháp này theo tháng năm đã bị bể tróc, gãy sụp nhiều nơi… trông không còn hình thù nguyên vẹn của một cái tháp nữa. 

Tương truyền vào thời vua Tự Đức, có một vị quan lại địa phương rất thanh liêm, được dân chúng thương yêu, kính nể vô cùng… sau khi ông quan này chết, đã được chôn cất tại đây và được vua Tự Đức tuyên dương công trạng phong làm thần, cho lập tháp để dân chúng địa phương lể bái thờ phượng. Truyền thuyết đó không biết có đúng hay không? Nhưng kể từ khi có sự hiểu biết đến nay thì ấn tượng của tôi về tháp phong thần này, chỉ là một nơi hoang tàn đổ nát, u ám, chẳng thấy có một ai đến tưởng nhớ cúng kiến, hương khói thờ phượng… như lời của mấy ông già bà cả kể về vị quan thanh liêm xa xưa nào đó… Ngoại trừ vào những dịp Thanh Minh, Tết nhất… người ta đi dẩy mả, thăm mộ thân nhân còn dư nhang, theo phong tục ai nấy đều cắm nhang khắp chung quanh, kể cả các ngôi mộ vô thừa nhận và nhờ thế dưới chân tháp phong thần này mới thấy được chút hương khói ăn theo. 


Ở phía bên dưới tháp có một cái hố khá sâu. Nghe mấy người lớn tuổi kể lại rằng: Trước đây nơi này là nơi dùng để thiêu xác người chết, nhưng sau đó không biết vì lý do gì, việc thiêu xác không còn nữa. Đổi lại, người ta đào một cái hố dưới chân tháp và dùng làm nơi vứt bỏ những mảnh gổ vụn nát của ván hòm còn sót lại sau khi có người hốt cốt thân nhân xong. Nghe đồn ở dưới hố có cả xương người và một con rắn thật to, mà có người cho là "rắn thần", nằm canh giữ bên dưới. Chính những điều này kích thích lòng hiếu kỳ của bọn trẻ chúng tôi. Thỉnh thoảng sau khi chạy nhảy, chơi đùa chán chê, chúng tôi vào ngồi dưới bệ xi măng của tháp phong thần nghỉ mệt, gió thổi lộng vào dưới chân tháp đổ nát nghe mát rượi. Cũng có đôi lúc chúng tôi theo đám đông đi xem lão Năm Đạo Tỳ hốt cốt người chết, hoặc xem lão đào huyệt… Nói chung tuổi trẻ chúng tôi lúc bấy giờ đối với khu nghĩa địa Phong Thần này là một nơi cho chúng tôi đến chơi đùa thoả thích. Dù đôi khi cũng thấy hơi sợ sợ mỗi khi có ai đề cập tới chuyện ma quỉ, nhưng sau đó chính những điều này lại khơi dậy lòng tò mò của tuổi trẻ nhiều hơn về thế giới vô hình của người chết và vì thế chúng tôi lại càng muốn tìm hiểu xem sao. 


Tôi không nhớ ai là người đã đề xướng và chỉ cho chúng tôi biết cách cầu cơ. Lại còn nói là muốn cơ giáng lên nhanh thì ra nghĩa địa cầu vào lúc đêm khuya, sẽ linh hiển hơn lúc cầu cơ ở nhà. Dù sợ hải nhưng cuối cùng bọn tôi cũng bàn với nhau và nhất định thực hiện điều đó cho bằng được. Thế là đợi đến đêm khuya, cả đám rủ nhau vào dưới tháp Phong Thần cầu cơ. Quả nhiên cơ giáng về nhanh hơn khi chúng tôi cầu cơ ở nhà thật! Tôi còn nhớ cái cảm giác rờn rợn khi cơ giáng về di động mảnh ván hòm mài thành hình quả tim hoặc những lúc cả bọn thay phiên nhau đọc bài kệ bắt đầu bằng câu: 


"Hồn nay ở chốn non bồng,

Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi 

…………………………………….." 


Chúng tôi tiếp tục đọc hoài cho đến khi do ngẩu nhiên hay sao đó, bỗng cảm thấy gió mát lạnh giữa đêm khuya phát ra những tiếng rít nghe quái lạ… rồi thình lình cơ giáng về… gây cho chúng tôi cảm giác vừa sợ, vừa kích thích. Đôi khi chỉ mới bắt đầu đọc là cơ giáng về liền. Riết rồi chúng tôi hết cái cảm giác sợ hải của những lần đầu và trò chơi cầu cơ từ từ không còn làm chúng tôi thích thú nữa. 

Cho đến một đêm, trong lúc cơ đang lên, thằng Phước bạn tôi bỗng nhiên la lên một tiếng rồi buông ngón tay khỏi con cơ ù té chạy, mấy đứa còn lại không biết chuyện gì xảy ra, cũng hoảng hồn la lớn lên rồi bương chạy theo thằng Phước, bỏ luôn bàn cầu cơ và cây đèn bão mà thằng Trí lén lấy của ba nó đem theo. Trong bụng chúng tôi nghĩ thằng Phước chắc thấy ma nên sợ quá la lớn và bỏ chạy như vậy, nhưng sau khi đuổi kịp nó ra tới miếng đất trống trước nghĩa địa thì nó vừa cười vừa cho biết là nó chỉ muốn hù cho tụi tôi sợ chơi thôi chứ không có gì hết. Mấy đứa chúng tôi "giũa" thằng Phước quá trời, sau đó bắt nó phải đi vào lấy lại cây đèn bão cho thằng Trí đem về trả cho ba nó… lần này không đứa nào còn can đảm đi trở vào lấy lại cây đèn và bộ đồ nghề cầu cơ cả. 

Trong lúc chúng tôi còn đang cãi nhau thì bỗng lão Năm Đạo Tỳ từ đâu xuất hiện, trên tay cầm cây đèn bão của thằng Trí và bàn cầu cơ. Sự xuất hiện thình lình của lão làm chúng tôi sợ điếng hồn vì tưởng là ma. Ngay cả sau khi nhận ra lão, chúng tôi cũng vẫn chưa hết sợ. Thoạt tiên chúng tôi thấy có một ngọn đèn di động từ phía trong nghĩa địa đi ra, sau đó xuất hiện dáng đi khật khưỡng của lão Năm. Đang cãi cọ, cả bọn điếng người lại như bị á khẩu. Sự xuất hiện của lão Năm Đạo Tỳ vào lúc này quả y như một bóng ma, làm sao mà không sợ cho được! Chúng tôi đã dợm bỏ chạy, nhưng lão cất tiếng gọi lại và la mắng chúng tôi:

– Tụi bây chạy bỏ lại đèn đuốc và cái này phải không? Nửa đêm không ở nhà ngủ, ra đây la lối om xòm không cho ai ngủ nghê gì hết. Tao nói tụi bây nhiều lần rồi, kiếm chổ khác chơi, cứ nhè chổ này mà ra phá hoài, đúng là tụi bây còn phá hơn quỉ sứ nữa. Người chết rồi nằm cũng không yên với tụi bây. Bữa nào tao phải tới mắng vốn ba má tụi bây đập cho một trận mới được. Con cái nhà ai mà phá quá… 


Lẽ ra chúng tôi đã bỏ chạy hết rồi, nhưng thấy thằng Trí còn dùng dằng không dám chạy vì sợ bỏ mất ngọn đèn bão nó lấy trộm của ba nó, nên cả bọn đành ở lại với nó, mặc dù chúng tôi thấy lão Năm Đạo Tỳ vào lúc này thì sợ dữ lắm. Thằng Thành lên tiếng năn nỉ, giọng nó dẽo đeo:

– Ông Năm ơi, tụi cháu còn nhỏ ham vui, có làm phiền ông Năm thì ông Năm bỏ lỗi cho đi nha. Chứ hồi nào tới giờ, ông Năm thấy tụi cháu cũng đâu có làm mích lòng ai trong khu này đâu. 

– Tụi bây phá như quỉ vậy, ban ngày la lối om xòm còn châm chước đi, ngay cả ban đêm tụi bây cũng cãi nhau rùm trời không cho ai ngủ nghê gì hết, ai mà chịu được tụi bây chứ? 

Sau khi la mắng tụi tôi một hồi, hình như lão cũng nguôi ngoai dần. Thằng Trí xin lại ngọn đèn bão lão còn cầm trên tay. Ánh sánh vàng vọt yếu ớt của cột đèn đường xa xa, cộng với ánh sáng lung linh của ngọn đèn bão soi bóng lão Năm và bọn chúng tôi thành những nền đen lay động trên mặt đất, giữa đêm khuya trông thật quái dị. Cuối cùng lão cũng trả lại cho chúng tôi ngọn đèn bão và bộ bàn cầu cơ, sau khi không quên răn đe chúng tôi thêm một lần nữa. Sau đó, vẫn dáng đi khập khiễng quen thuộc, lão chầm chậm trở về hướng căn nhà lụp xụp bên ngoài nghĩa địa. Trên đường về nhà chúng tôi còn cự nự thằng Phước không ngừng. 


Hai hôm sau trong khi đang chơi đá cầu trước bãi đất trống, lão Năm Đạo Tỳ từ trong nhà bước ra giơ tay ngoắc chúng tôi lại gần. Chúng tôi ngỡ lão sắp sửa la mắng như những lần trước, nên định bỏ đi chổ khác. Nhưng lão vẫn ngoắc tay ra dấu bảo chúng tôi tới với một vẻ thân thiện hơn mọi hôm. Cuối cùng chúng tôi bảo nhau tới gần xem lão ta nói gì. Thằng Trí lên tiếng thăm dò:

– Có gì không ông Năm?

– Mấy đứa bây làm gì mà nửa đêm còn đi vào nghĩa địa? Bộ không sợ ma sao? –Lão nhắc lại chuyện đêm hôm trước.

-Tụi cháu cầu cơ thôi chớ đâu có làm gì đâu. 

-Tụi bây gan quá há? Có đứa nào thấy ma chưa?

Cả bọn lắc đầu.

Lão ngúc ngoắc cái đầu, nhấp nháy mắt rồi hỏi chúng tôi bằng một giọng lè nhè, pha một chút hóm hỉnh hiếm khi thấy:

-Vậy tụi bây có muốn thấy ma không?

Cả đám chúng tôi nhìn nhau một lúc chưa đứa nào dám lên tiếng. Cuối cùng thấy không đứa nào trả lời, tôi rụt rè hỏi:

-Làm sao mà thấy ma được, ông Năm? 

Lão nheo nheo đôi mắt nhìn tôi một cách bí mật:

-Mà tụi bây có sợ không cái đã? Nếu không sợ thì tao chỉ cho cách thấy ma. Nhưng mà tao nói trước… khi thấy rồi là không được la đó nghe chưa? 

Nhìn cả bọn chúng tôi còn đang ngơ ngác, lão cười cười nói thêm:

-Tụi bây phá quá, đến mấy người chết ở đây cũng chịu hết nổi với tụi bây luôn.

Chúng tôi nhìn nhau, cảm thấy dạn dỉ hơn với lão Năm Đạo Tỳ, vì đây là lần đầu tiên lão nói chuyện với chúng tôi nhiều và thân thiện như vậy. Lại còn cười nữa chứ! Thằng Phước hỏi tới:

– Có ma thiệt không dzậy ông Năm? Cháu nghe nhiều người kể, cũng tin lắm, nhưng chưa bao giờ thấy ma cả. Mấy lần cầu cơ lên. Cháu biết là có ma thiệt. Tụi cháu tuy cũng sợ, nhưng má cháu thường nói: Mình không có làm gì động chạm tới "người ta" thì "người ta" phá mình làm chi! Cháu nghĩ cũng đúng. Tụi cháu chỉ chơi đùa, chứ đâu dám chọc ghẹo ai.

– Vậy chứ tại sao tụi bây không rủ nhau đi chơi chổ nào khác mà cứ nhè chổ này chạy nhảy la hét um sùm vậy, làm sao mấy người chết nằm yên cho được?

– Tụi cháu chơi đùa vậy thôi chứ đâu có phá mồ mả gì của "họ" đâu?

Tôi bỗng hỏi trớ:

– Vậy chớ ông Năm có thấy ma lần nào chưa?

Lão Năm nhìn tôi cười cười:

– Tao sống nhờ ma, mà không thấy ma sao được mậy? 

Thằng Thành nôn nóng hỏi tiếp liền:

– Vậy ma có làm gì ông không? Ông không sợ sao? 

– Tao đâu có làm gì mà phải sợ. Tụi bây phá người ta hoài thì liệu hồn đó, tụi bây "chưa thấy quan tài chưa đổ lệ" mà. 

Rồi ông hỏi lại câu hỏi lúc nảy:

– Tụi bây muốn thấy ma không? Tao chỉ cho một cách là thấy liền chứ gì. 

Cả đám chúng tôi nhìn nhau thăm dò, tôi rụt rè hỏi:

– Ông có thể chỉ cho tất cả tụi cháu thấy cùng một lúc được không? 

– Được chứ, tụi bây muốn thấy phải không? Khi thấy rồi là không được la lớn nghe chưa? Cũng không được nói cho ba má tụi bây biết để họ mắng vốn tao là không được đó nghen.

Cả đám tụi tôi nhao nhao lên:

– Không có đâu ông Năm, tụi cháu không nói cho ai biết đâu. Bây giờ ông chỉ cho tụi cháu đi 

Lão Năm Đạo Tỳ nheo mắt, im lặng nhìn chúng tôi một lúc lâu, như để thu hút hết sự chú ý của chúng tôi trước khi lão bật mí:

– Tụi bây đứa nào muốn thấy ma thì lấy vôi ăn trầu thoa lên hết mấy đầu ngón tay ngón chân, đợi nửa đêm ra ngồi canh ngoài nghĩa địa này thì sẽ thấy ma liền.

Chúng tôi ngạc nhiên ra mặt. Như vậy thì đâu có gì là khó. Thằng Phước hỏi lại cho chắc chắn:

– Thoa vôi ăn trầu lên tất cả mười đầu ngón tay, mười đầu ngón chân luôn hả ông Năm?

– Ừ! Ngón nào cũng thoa lên hết.

Nói xong không nói thêm tiếng nào, lão khật khưỡng đi ra hướng Nguyễn Huỳnh Đức, chắc là lại đi mua rượu uống. 


Còn lại 6 thằng: Thành, Trí, Phước, Sơn, Bảo và tôi. Chúng tôi không còn tha thiết chơi đùa gì nữa. Lời lão Năm Đạo Tỳ nói làm chúng tôi nửa hoang mang, nửa khơi dậy lòng tò mò. Trước đây, chúng tôi đã mấy lần giữa đêm khuya vào nghĩa địa cầu cơ, tuy đứa nào cũng sợ… cả bọn cũng nghĩ là mình có thể sẽ gặp ma, nhưng cuối cùng cũng chẳng thấy con ma nào hết, ngoài việc cơ giáng lên và cơ chạy, nên từ từ chúng tôi cũng bớt thấy sợ. Nhưng lần này, lời nói có vẻ chắc chắn của lão Năm là chúng tôi sẽ thấy ma, nếu làm đúng theo như lão đã chỉ dẫn … Điều này làm cả bọn có cảm giác sợ thiệt sự, chứ không như mấy lúc trước. Sau một hồi bàn tán, chúng tôi quyết định làm thử theo lời lão Năm đã nói. Vả lại chúng tôi nghĩ đi cả bọn thì cũng không có gì phải sợ, cùng lắm là bỏ chạy thôi. 


Thế là cả bọn 6 đứa đi về, nôn nóng chờ tới giờ đã hẹn sẵn. Chúng tôi kiếm vôi ăn trầu không khó khăn chút nào cả. Bà Ngoại của thằng Trí ăn trầu cho nên nó lấy dễ dàng. Khuya đêm đó, cả bọn hẹn nhau ở trước nhà tôi trên đường Trương Minh Giảng. Gần 12 giờ khuya, nhưng lai rai cũng còn một vài quán xá mở cửa, trên đường vẫn còn xe cộ qua lại… Chúng tôi cùng nhau đi băng qua đường Nguyễn Huỳnh Đức, rẽ vào ngỏ Thiệu Trị, rồi đi tới ngọn đèn đường gần khu nghĩa địa. Chúng tôi dừng ở đây, chia vôi ăn trầu ra thoa lên khắp mấy đầu ngón tay ngón chân. Xong xuôi cả bọn hồi hộp bước vào khu nghĩa địa, mới chợt nhớ là lần này không đứa nào mang theo đèn đóm gì hết, ngay cả khi bàn bạc hồi chiều cũng không đứa nào nhớ ra vấn đề này. 

Nghĩa địa này chỉ là một nghĩa địa nhỏ của đa số dân nghèo vì thế các mồ mả ở đây cũng không được xây cất khang trang gì cho lắm. Phần nhiều là các ngôi mộ được đắp bằng đất, lâu ngày bị mưa nắng làm sạt lở. Phải đợi vào những dịp Thanh Minh hoặc ngày giổ của người chết, thân nhân hoặc tự mình làm, hoặc mướn lão Năm Đạo Tỳ đắp thêm đất lên cao ráo trở lại. Một số mả xưa xây bằng đá vôi, chỉ một số ít được xây bằng xi măng đàng hoàng. Bọn 6 đứa chúng tôi ban đầu định vào dưới chân tháp Phong Thần núp chờ nhưng lại thấy sợ, rủi có gì xảy ra thì từ đó chạy ra bên ngoài xa quá. Cuối cùng chúng tôi quyết định rủ nhau đi đến một ngôi mộ xây bằng xi măng khá lớn nằm bên tay phải, cách lối vào nghĩa địa độ 15, 20 thước gì đó. Chúng tôi ngồi chùm nhum trước mộ bia hồi hộp chờ đợi. Đêm hôm đó không có trăng, nhưng sao đầy trời nên chúng tôi vẫn thấy lờ mờ cảnh vật bên trong nghĩa địa. Từ những bụi cỏ chung quanh các ngôi mộ, đom đóm bay chập chờn khiến cho cảnh vật thêm phần kỳ bí và làm cho chúng tôi càng hồi hộp thêm… Chổ chúng tôi núp nhìn ra đường Thiệu Trị không xa lắm nhưng tôi có cảm tưởng như nó quá xa đối với chúng tôi lúc bấy giờ. Mấy lần trước đêm khuya vào nơi này, tôi chưa từng có cảm giác bất an như lần này. Tôi nhìn xéo qua phía căn nhà lụp xụp của lão Năm Đạo Tỳ chỉ thấy tối thui, có lẽ ông ta đã ngủ rồi. Chúng tôi ngồi đợi như thế một hồi, đứa nào đứa nấy thấy sao quá lâu, thằng Sơn thì thào vào tai tôi, giọng run run:

– Mày có thấy gì không? Sao lâu quá vậy, chắc là không có gì đâu. Thôi bỏ về cho rồi.

Trong bụng tôi sự thật muốn đi về lắm, nhưng cũng làm bộ cứng:

– Ráng chờ chút nữa đi. Công trình chuẩn bị ra tới đây, không lẽ về lẹ vậy sao.

Ngồi thêm được chừng khoảng 5,10 phút nữa, bỗng nghe có tiếng con nít cười khúc khích rất rõ ràng ở phía trước làm tất cả chúng tôi giật mình. Gai ốc mọc cùng người. Tôi cảm thấy ớn lạnh chạy dọc theo xương sống. Theo một phản ứng tự nhiên, đứa nào đứa nấy bỗng tự động rụt người lại nép sát xuống. Đợi một chút không nghe thấy gì nữa, chúng tôi rón rén nhìn quanh quất xem tiếng con nít cười từ đâu tới. Nhưng không thấy gì cả, ngoài mấy con đom đóm chập chờn chung quanh trên mấy bụi cỏ. Thình lình tiếng cười khúc khích lại cất lên, lần này hình như ở một hướng khác. Thằng Phước bỗng níu lấy cánh tay tôi giật giật. Tôi quay về phía sau ngôi mộ nơi chúng tôi đang núp. Qua ánh sáng lờ mờ tôi thấy dáng một đứa bé đang đi lững thững, thỉnh thoảng lại cúi xuống nhặt một vật gì đó dưới đất ném đi, rồi lại cười khúc khích… hình như nó thích thú với trò chơi này lắm vậy. 


Không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là ma rồi!! Con nít giờ này đi đâu một mình trong này? Vả lại hồi nảy tới giờ đâu có thấy gì đâu! Chúng tôi còn đang nín thở nhìn thằng bé, hình như nó mãi nghịch ngợm với món đồ chơi gì đó ở dưới đất không để ý tới chung quanh. Tuy nhìn thấy cảnh vật lờ mờ qua đóm sáng của các tinh tú trên trời nhưng tôi không thể đoán chắc đứa bé khoảng mấy tuổi. Tôi cũng không nhìn rõ gương mặt, nhưng với chiều cao và tiếng cười khúc khích đầy tính trẻ con, có lẽ đứa bé chừng 5, 6 tuổi. Tôi chợt nhớ người ta hay nói ma đi hổng mặt đất, nên cố nhìn dưới chân đứa bé xem có đúng vậy không? Nhưng tôi không thể thấy được phía dưới chân đứa bé vì bị các ngôi mộ và bụi cỏ trước mặt che khuất tầm mắt. 


Cả bọn vẫn còn bàng hoàng chưa bình tĩnh lại được, thì thằng Phước bỗng níu chặt cánh tay tôi. Nó là thằng nổi tiếng gan dạ nhất trong bọn, vậy mà giờ này tôi cảm nhận được cánh tay nó run lên không ngớt. Nó chỉ về phía trước mặt thằng bé. Không biết từ hồi nào đã xuất hiện một dáng người đàn bà đang đứng. Trông dáng thì quả đúng là đàn bà rồi, có điều tôi không thể thấy mặt được. Người đàn bà đứng ở phía trước đứa con nít đang giơ tay vẩy vẩy nó. Đứa bé vừa cười khúc khích vừa đi tới phía người đàn bà rồi thình lình ném mạnh vật gì vào bà ta, sau đó quay ngược trở lại vừa chạy vừa cười khúc khích như trước. Tôi nép sát vào người thằng Trí, hình như muốn tựa hết vào nó để được an toàn hơn. Đứa bé bỗng dưng biến đâu mất tiêu sau chòm mả không nhìn thấy nữa. Tôi len lén nhìn lại phía người đàn bà đang đứng khi nảy, thì cũng không thấy bà ta đâu. Chúng tôi sợ đến ríu cả người, phát giác cả bọn đang ôm choàng vào lẩn nhau hồi nào không hay. Không đứa nào dám hó hé một tiếng. Một lúc lâu sau, không thấy gì lạ xảy ra nữa, từ từ hoàn hồn lại, chúng tôi bấm tay nhau ra hiệu đi về. 


Ngay khi chúng tôi vừa đứng lên, quay mình lại định bước ra con đường đất trước ngôi mộ xi măng đang núp nảy giờ, bỗng thấy hình dáng một người đang đứng lù lù ngay sau lưng chúng tôi hồi nào không biết. Dù đêm tối, tôi vẫn thấy đó là dáng một người đàn ông đội khăn đống, mặc áo thụng dài kiểu của mấy người già mặc vào những dịp quan trọng hoặc lễ lạc, đang đứng nhìn chúng tôi với một dáng vẻ hết sức kỳ quái. Thằng Phước là thằng đứng gần như sát vào ông ta, còn tôi và mấy đứa còn lại thì cũng đang chùm nhum ngay đó, nên tất cả đều thấy rất rõ ràng. 

Trong một trạng thái bất thình lình như vậy, tất cả đều khựng lại khoảng mấy giây chưa kịp có phản ứng gì. Bỗng người đó giơ tay lên mặt thằng Phước, nói lắp bắp mấy tiếng nghe rất yếu ớt, trong đêm yên vắng giọng nói nghe thật quái lạ:

– Đi đi… đi đi.

Thằng Phước hét lên một tiếng thất thanh. Nó lùi ngược lại xô nhào chúng tôi ra và bương chạy bọc lại phía sau bất kể gì nữa. Diễn tả thì lâu, nhưng sự việc lúc đó xảy ra rất là nhanh. Mấy đứa còn lại đang sợ đến cứng người, chưa kịp có phản ứng gì, bỗng nghe thằng Phước la thất thanh như vậy rồi ngay sau đó nó quay lùi lại xô chúng tôi để thoát chạy, làm chúng tôi té ngã bổ nhào lên ngôi mộ đắp bằng đất nằm ngay cạnh đó. Cả bọn không còn chút hồn vía nào nữa, mạnh đứa nào đứa nấy choàng dậy bương lên mả mồ, gai góc, vấp té lên té xuống… vừa la vừa chạy trối chết ra hướng ngoài đường Thiệu Trị. Thằng Trí đang chạy ngay trước tôi, bỗng dưng đứng khựng lại làm tôi mất đà va ngay vào nó, hai đứa té chúi nhủi về phía trước. Tôi lồm cồm ngồi dậy thì thằng Trí níu vai tôi lại, lấy tay chỉ về phía trước mặt. Giọng nó như muốn khóc, lắp bắp những gì nghe không rõ còn người thì run lẩy bẩy, nó cứ níu lấy vai tôi cứng ngắc không chịu buông. Tôi ngước nhìn lên, thì thấy phía trước chúng tôi, đứa bé lúc nảy đang đứng lẩn trong chòm mả bên tay trái, tay phe phẩy vật gì bay bay giống như một miếng vải dài…


Trong đời tôi, kể cả mãi tới bây giờ, đã trãi qua nhiều biến cố nguy hiểm, nhưng có thể nói lần này là lần tôi sợ nhất trong đời. Tôi cố gắng lôi thằng Trí dậy, rồi chạy đại trên một dãy mộ đắp bằng đất, qua con đường đất nhỏ phía bên kia để tránh chạy ngang đứa bé, rồi cứ thế nhắm hướng đèn sáng ngoài đường Thiệu Trị mà chạy thục mạng, bên tai vẫn còn nghe tiếng cười khúc khích của trẻ nít. Thằng Trí do một động lực nào đó cũng bương chạy ngay theo tôi. Mấy đứa khác Sơn, Bảo, Thành không biết chạy đi hướng nào. Riêng thằng Phước lúc đó đã chắc đã chạy ra bên ngoài xa lắm rồi, tuy nhiên chúng tôi vẫn còn nghe tiếng la hãi hùng của nó vẳng lại. Chúng tôi cứ thế cắm đầu cắm cổ chạy, khi ngang qua trước nhà lão Năm Đạo Tỳ, tôi thấy hình như đèn trong nhà vừa được thắp lên… 


Khi ra tới đường Trương Minh Giảng, xe cộ vẫn còn lai rai và vẫn còn người ta đi lại trên đường, lúc bấy giờ tôi mới hoàng hồn được đôi chút, nhìn quanh thì thấy Thành, Sơn, Bảo đã chạy ra trước đây rồi, Trí cũng vừa tới ngay sau tôi. Chúng tôi ngó dáo dát kiếm thằng Phước nhưng không thấy nó đâu nữa. Kiểm điểm lại quần áo thì mới phát giác chúng tôi bị gai góc móc rách toạc mấy chổ. Riêng hai đầu gối tôi bị trầy trụa, rướm máu rát rạt. Chúng tôi chia tay nhau đi về nhà. Đêm đó tôi thức sáng đêm không tài nào ngủ được, đầu óc cứ bị ám ảnh hoài chuyện vừa qua ở nghĩa địa, hể nhắm mắt lại là thấy dáng của đứa bé ma đang cười khúc khích và dáng con ma mặc áo dài thụng, khăn đống đang đứng nhìn tôi với dáng vẻ kỳ quái!

Qua hôm sau chúng tôi nghe tin thằng Phước bị bệnh nằm liệt giường, chúng tôi có tới thăm nó, nhưng không đứa nào dám kể cho gia đình nó nghe chuyện gì đã xảy ra đêm hôm trước. Tôi còn nhớ lần đó thằng Phước bệnh thật lâu mới hồi phục được. Riêng tôi cũng bị ám ảnh chuyện này một thời gian dài. Từ đó chúng tôi không dám bén mảng tới khu nghĩa địa Phong Thần chơi đùa nữa. Thỉnh thoảng nhìn thấy lão Năm Đạo Tỳ khật khưỡng từ xa đi tới, nhưng lần nào chúng tôi cũng tự động tránh ra chỗ khác không dám chạm mặt lão. 


*****

***** *****

***** 


Trải qua những năm tháng tuổi thơ, nhiều điều bây giờ tôi không còn nhớ rõ được nữa. Nhưng khu đất trống nghĩa địa Phong Thần này và lão Năm Đạo Tỳ vẫn còn để lại trong ký ức tôi nhiều ấn tượng rất đậm nét, nhất là chuyện gặp ma do lão Năm Đạo Tỳ chỉ cách. Chúng tôi lớn dần theo thời gian, vì điều kiện học hành hoặc hoàn cảnh gia đình nên tản mác khắp nơi. Bọn 6 thằng chúng tôi ngày xưa nay chỉ còn lại 4, thỉnh thoảng gặp lại hoặc nói chuyện trên điện thoại, đôi lúc chúng tôi có nhắc qua chuyện cũ, đứa nào đứa nấy cũng sôi nổi kể lại vanh vách như chuyện vừa mới xảy ra hôm qua, đủ biết ấn tượng đó ăn sâu vào tâm trí mỗi đứa chúng tôi như thế nào!!

Sau 1975 khu nghĩa địa Phong Thần đã bị san bằng, thay vào đó là một ngôi chợ nhỏ, ngôi chợ ở phía trong khu Kiến Thiết cũng đã được dời ra và nhập chung vào khu chợ mới này luôn. 

Còn lão Năm Đạo Tỳ?? 

Trong một dịp ghé lại quán hủ tiếu mì con Dùng, tôi có hỏi thăm thì không ai rỏ lão đã chết hay bỏ đi đâu mất kể từ khi khu nghĩa địa không còn nữa. Lần cuối cùng có người gặp, thì lão đã già lắm rồi, trí nhớ đã bị lú lẫn, cứ lảm nhảm một mình những gì không ai rõ, chân đi vẫn khập khiễng nhưng yếu ớt lắm và đặc biệt người lão vẫn còn phảng phất mùi rượu. 

Về chuyện gặp ma mà tôi vừa kể?? Đôi lúc có người hỏi:

– Có ma thiệt không? 

Tôi liên tưởng ngay tới dáng lão Năm Đạo Tỳ đang ngúc ngoắc cái đầu, nheo nheo mắt nhìn chúng tôi ngày trước. Sau đó tôi hỏi lại người đã hỏi câu đó, giống y như trước đây lão Năm đã hỏi chúng tôi:

– Có muốn thấy ma không? Tôi chỉ cho một cách là thấy ma liền chứ gì! Nhưng mà tôi nói trước, khi thấy rồi thì đừng có la đó nghe chưa.

Nếu thấy người đó khích động lên:

– Thiệt không? Làm sao thấy được ma? 

Tôi sẽ trả lời y như lão Năm Đạo Tỳ đã chỉ cho chúng tôi ngày xưa:

– Lấy vôi ăn trầu thoa lên hết mấy đầu ngón tay, ngón chân rồi canh nửa đêm ra nghĩa địa ngồi chờ thì sẽ thấy ma ngay… 

…Và nếu như người đó còn nghi ngờ hỏi tiếp… Tôi sẽ nghẹo nghẹo cổ, nheo nheo mắt, vừa cười vừa bí mật trả lời:

– Cứ thử đi rồi biết liền chớ gì! 




Vĩnh Khanh 

Phố Đá Tròn, tháng 9 năm 2005 

Thảo luận cho bài: "Lão Năm Đạo Tỳ"