Lễ hội múa rắn – Lệ Mật

Tác giả:

Tôi đã được đi nhiều nơi, được dự nhiều lễ hội truyền thống, mỗi lễ hội đều có những nét văn hoá, bản sắc riêng khiến tôi phải nhớ và suy ngẫm. Nhưng trong suy nghĩ và sâu thẳm trái tim mình, tôi vẫn luôn tự hào về lễ hội làng Lệ Mật cùng điệu múa rắn rất riêng của quê hương, nơi tôi sinh ra và lớn lên.

images(2)

Lệ Mật quê tôi nay thuộc phường Việt Hưng, quận Long Biên, Hà Nội là một làng cổ nằm nép mình bên hai dòng sông Hồng và sông Đuống thơ mộng. Quê tôi nổi tiếng với nghề nuôi và bắt rắn cùng một huyền tích kể về người con trai họ Hoàng đã chinh phục được loài thuỷ quái mang hình tượng rắn khổng lồ. Chàng đã có công với dân làng và được thờ làm Thành hoàng.

Theo sử sách, Vua Lý Thái Tông (1028-1054) có nàng công chúa cả hay ngao du sông nước. Vào năm Quý Mùi (1043), được phép vua cha, nàng đi du thuyền về thăm quê ở Cổ Pháp. Thuyền vừa đến sông Thiên Đức (tức sông Đuống) gặp sóng to gió lớn, thuyền bị đắm. Công chúa bị dòng nước cuốn đi. Tục truyền, tại sông Thiên Đức có giảo long mai phục nên khi thấy thiếu nữ xinh đẹp đã quay dòng nước làm thuyền đắm để bắt công chúa về. Quan quân trong triều lặn mò cả một khúc sông dài vẫn không tìm thấy thi hài công chúa. Vua Lý Thái Tông rất buồn phiền, hứa phong thưởng hậu cho ai tìm được công chúa. Nhiều người cố lặn tìm xong đều thất bại vì dòng nước quẩn, xoáy tròn như chiếc phễu khổng lồ, rất nguy hiểm. Được tin, chàng trai họ Hoàng quê Lệ Mật sức vật nổi trâu, có tài bắt rắn tình nguyện xuống sông lặn tìm công chúa.

Người đã dũng cảm từ trên thuyền lao xuống dòng sông cuộn sóng, giao đấu với loài thuỷ tặc và đã tìm được thi hài công chúa đưa lên bờ. Vua Lý Thái Tông khen là bậc đại tài, giữ lời hứa, đức Vua thưởng 100 kg vàng, 100 tấm lụa và phong quan cho ông. Nghĩ đến dân ở bản trang còn nghèo khó, thiếu ruộng cày cấy, chàng trai Lệ Mật khước từ chức tước, tiền vàng, dâng sớ xin Vua Lý Thái Tông mảnh đất phía Tây thành Thăng Long, còn nhiều chỗ hoang hoá, đưa dân sang khai hoang vỡ hoá. Được Vua Lý Thái Tông đồng ý, chàng trai đã đưa dân bản trang đi khai hoang lập nên 13 làng trại phía tây Kinh thành, tạo thành một khu nông nghiệp trù phú. 13 làng trại khi xưa là các làng Cống Yên, Vạn Phúc, Thủ Lệ, Xuân Biểu, Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Hào Nam, Giảng Võ, Kim Mã, Vĩnh Phúc, Đại Yên, Liễu Giai, Cống Vị (sau này có thay đổi về địa chính nên thêm làng Ngọc Khánh).

Khi ông mất, dân các trại và dân bản quán rất thương tiếc nên cùng nghênh táng. Việc chưa xong đã thấy mối đùn thành mộ thiêng. Nhà Vua biết chuyện liền ban cho 300 quan tiền để xây lăng, dựng miếu tế tự (cúng tế) muôn đời. Sau qua các Vua triều Trần mở mang các kế hoạch lớn lao, cầu được gió mưa thuận hoà, ông được tặng phong Mỹ Tự Thượng Đẳng Phúc Thần. Đến triều Lê – Nguyễn, ông được 11 đạo sắc phong Thành Hoàng Uy Linh Hộ Quốc Khang Dân.
Và từ đó, người dân quê tôi được sinh sống ở hai nơi, phần đông ở quê gọi là “cựu quán”, một số sang lập cư ở kinh thành gọi là “kinh quán”. Hàng năm đến ngày huý của chàng trai họ Hoàng (Thành hoàng làng), ngày 23 tháng Ba Âm lịch, người dân quê tôi lại tổ chức lễ hội để tri ân với người đã có công với dân làng, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no.

Đến ngày hai ba tháng ba
Dân trại ta vượt nhị hà thăm quê
Kinh quán, cựu quán đề huề
Hồ Tây cá nhảy đi về trong mây.

Câu ca dao ấy luôn được người dân quê tôi và 13 làng trại truyền tụng và ghi nhớ. Với truyền thống uống nước nhớ nguồn và ý thức hướng về cội nguồn, về quê cha đất tổ, năm nào cũng vậy, bà con thập tam trại phía tây kinh thành Thăng Long luôn trở về quê cũ cùng dân bản quán tham dự lễ hội truyền thống của quê hương. Hội làng có diễn các trò vui, dân gian, trong đó có điệu “múa rắn”, kể lại chiến tích đánh giảo long cướp xác công chúa của Thành hoàng làng.
Từ sáng sớm ngày 23, đoàn rước lễ đại diện cho các trại lần lượt tiến vào đình làng dâng hương hoa, đặc sản của vùng lên Thành hoàng làng.

05-13-2010 9-48-54 AM

Lễ tế Thành hoàng diễn ra trang nghiêm tại đình làng theo nghi thức truyền thống. Khởi đầu là cuộc rước nước từ giếng đình cùng một con cá chép to phủ vải điều đỏ thắm, rước vào lễ Thánh. Tương truyền đó là cá từ Hồ Tây (nơi sinh sống của người dân 13 làng trại) bay về. Tại sân đình, trong khói hương nghi ngút, chủ tế dâng lễ vật lên Thánh và kể lại công đức của chàng dũng sĩ, trong tiếng nhạc của phường bát âm trầm bổng. Hội vui diễn điệu múa rắn được tiến hành trên một bãi đất rộng trước sân đình, với đông đảo người trẩy hội.
Múa rắn đã khai thác được nét đẹp dân gian và truyền thống dân tộc, khơi dậy lòng yêu con người, yêu quê hương đất nước của người Việt Nam nói chung, người dân quê tôi nói riêng. Múa rắn với nét độc đáo riêng, kết hợp với điệu múa bồng cùng dàn nhạc dân tộc theo điệu lưu thuỷ và ngũ đối. Trong điệu múa còn có võ thuật đánh rắn, có các động tác cấy lúa, trồng hoa và chèo thuyền kết hợp hài hoà trên cạn, dưới nước. Đặc biệt, lời dẫn chương trình bay bổng, khúc triết đã đưa khán giả ngược dòng thời gian tìm về quá khứ, thấy được Thành hoàng làng “kiệt xuất minh tâm” và  trang sử hào hùng của quê hương Lệ Mật.

Nay dù sống giữa thủ đô Paris hoa lệ của nước Pháp, hình ảnh mái đình, lễ hội quê hương luôn len vào trong nỗi nhớ của tôi. Nhớ ngày còn bé, tôi luôn mong chờ hội làng, để được mẹ mua cho quần áo đẹp, để được xúng xính đi trẩy hội, được cùng chúng bạn tham gia vào các trò chơi dân gian… Đặc biệt là được chen chân chọn chỗ đứng trên cùng để xem điệu múa rắn cổ truyền. Bây giờ dù không thường xuyên, nhưng tôi vẫn luôn cố gắng thu xếp công việc để được trở về, được hoà mình vào dòng người đi dự lễ hội, để như ngỡ mình đang sống giữa những ngày thơ…

Con trở về trong ngày hội quê ta
Nắng trải dài bóng con trên đất mẹ
Đi giữa dòng người lòng con xôn xao lạ
Thẳm sâu tâm hồn là tiếng vọng quê hương
….

Về với hội làng lòng con mênh mang
Khúc hát quê hương chẳng thể nào rơi mất
Giờ gặp lại những con người chân chất
Con ngỡ mình sống giữa những ngày thơ…

Là chiếc cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, lễ hội quê tôi đã giới thiệu được những nét văn hoá đặc trưng, vô cùng độc đáo và đã trở thành một phần bản sắc của dân tộc. Đồng thời, đây cũng là dịp để du khách thập phương, người dân trong làng cũng như con cháu đi khai hoang, đi làm ăn xa về hội ngộ, gặp gỡ và cùng nhau ôn lại những chiến tích của cha ông, để cùng tự hào và nguyện gìn giữ cho mãi mai sau.

Thảo luận cho bài: "Lễ hội múa rắn – Lệ Mật"