Lễ hội tất niên làng He

Tác giả:

Dân gian truyền rằng, cách đây đã “hàng nghìn năm”, lễ hội làng He liền kề chân dãy Hy Cương (tỉnh Phú Thọ) nổi lên như một hội làng danh tiếng của vùng đất bán sơn địa linh thiêng.

Không phải ngẫu nhiên, mà khi so sánh sự hấp dẫn và náo nhiệt của các hội làng kéo dọc – dài quanh đồng đất do dòng sông Lô, sông Thao, sông Đà tạo nên, người dân còn truyền mãi câu ca:

Sơn Tây vui nhất chùa Thầy

Vui thì vui vậy chẳng tầy hội He

c5d85cdcf2f45bb1088a1bb64f2e8dc3

Hội He là hội của làng He, một cái tên rất cổ. Tương truyền, vào cuối thời Hùng Vương, có một ông nghè He vốn là tướng của vua Hùng, về đất này dựng làng, lập nghiệp. Khi quan mất đi, dân làng tưởng nhớ và lập đền thờ phụng ông làm thành hoàng.


Lễ hội làng He xưa kia được coi là lớn nhất vùng, kéo dài gần nửa tháng. Các bậc cao niên trong 2 làng Trẹo – Vi còn nhớ, hàng năm, cứ vào đầu tháng Chạp, dân làng đã tất bật chuẩn bị lo tổ chức lễ hội. Vào ngày 25 tháng Chạp, hai làng Trẹo – Vi cử người theo hai ông từ lên Nghĩa Lĩnh làm lễ mở cửa đền Trung và đền Hạ, dâng sớ mời vua về làng ăn Tết. Sau đó, dân làng trang trọng rước kiệu có bài vị vua về làng, tập trung ở đình Cả tế lễ, đón xuân và tổ chức hàng loạt hình thức tế lễ, vui chơi kéo dài đến tận mùng Tám tháng Giêng mới tiễn vua về Nghĩa Lĩnh an tọa.Trải qua nhiều năm, đất nước thái bình, dân cư thịnh vượng, sinh sôi nảy nở, làng He được tách ra thành 3 làng: Làng Cả, làng Trẹo, làng Vi. Dưới thời phong kiến, khi nhà nước có chủ trương xây lập khu thờ tự các vua Hùng tại đất Nghĩa Lĩnh, làng Cả mang danh là Cổ Tích, đứng ra lập đền Thượng và xây Lăng, Chùa; làng Trẹo đứng ra xây lập đền Trung và làng Vi được phân công đứng ra xây lập đền Hạ cùng đền Giếng. Từ đấy về sau, chỉ có 3 làng này mới được cắt cử 3 người hàng năm lên Nghĩa Lĩnh làm thủ nhang cho 3 đền thờ vua Hùng, đồng thời 2 làng Trẹo – Vi luôn luôn cùng nhau tổ chức hội làng, làm lễ hội tất niên đón vua Hùng về ăn Tết và lễ rước Chúa gái vào những ngày cuối tháng Chạp.

Những năm gần đây, do điều kiện khách quan và chủ quan, lễ hội 2 làng Trẹo – Vi giản lược nhiều. Sau khi đình Cả đã bị hủy hoại, hai làng dựng riêng cho mình hai ngôi đình, riêng làng Trẹo đã hạ giải đền Thượng đưa về dựng đền Trẹo (trên nền đình cũ) như ngày nay. Ngay từ tháng Chín, hoặc chậm nhất là giữa tháng Mười lịch trăng, dân hai làng đã nhộn nhịp chuẩn bị họp bàn chọn người nuôi lợn, nuôi gà, đan voi, đan ngựa, sửa kiệu, sắm cờ và thành lập ban khánh tiết phục vụ cho ngày khai hội.

Đến ngày 22 hoặc 23 tháng Chạp, dân 2 làng làm lễ ở đình và tụ tập dân làng cùng nhau chọn chúa Gái, theo các tiêu chí người xưa truyền lại. Sang ngày 24, dân chúng từng làng tổ chức rước kiệu làng mình về hội nhập để tế lễ tại nền đất đình Cả, nơi có đàn tế được dựng ra một cách trang trọng, linh thiêng. Riêng làng Vi được thêm kiệu để rước Chúa Gái ra cùng làm lễ. Đồng thời, tại cánh đồng giữa hai làng, tổ chức lễ săn lợn, còn gọi là lễ “chạy địch”, và trò chơi cướp cờ.

Bên các ban thờ, dân làng tiến hành lễ sóc trình voi ngựa. Ngoài sân đền và các khoảnh đất rộng của làng Trẹo, các hội đoàn và dân chúng các nơi kéo về tổ chức, tham gia các trò chơi đánh vật, kéo co, chọi gà và sôi nổi nhất là trò bách nghệ khôi hài, diễn lại trò “tùng rí” (vốn là trò chơi mang tính đùa vui trai gái, được sáng tạo ra từ xa xưa, tương truyền làm theo tích cũ thời vua Hùng) cho Chúa Gái xem. Chập tối, dân làng cùng kéo nhau đến nhà văn hóa tổ chức diễn xướng hát Xoan, hát ghẹo đông vui, đầm ấm. Và chờ đến nửa đêm, hai làng lập chung một đoàn mang gà, chiêng trống cùng đồ tế lễ ra cây hương cạnh đình Cả để “lấy tiếng hú”, theo tín ngưỡng tìm Chúa Gái, cầu may.

Ngày 25 tháng Chạp được coi là ngày hội chính. Ngay từ sáng sớm, dân hai làng đã cử đại diện theo hai thủ nhang dâng lễ lên đền Trung và đền Hạ tế cáo và rước vua Hùng về làng ăn Tết.

Cùng lúc đó, ngay tại bãi rước đầu làng Trẹo, dân chúng đã tề tựu, tập kết kiệu rước, lễ vật đón vua và cờ quạt rợp trời, hồi hộp nghênh đón bài vị Đức Vua từ Nghĩa Lĩnh. Khi rước bài vị Đức Vua về đến bãi rước, nếu gió chưa đổi chiều, tất cả phải “án binh” chờ đợi. Chỉ khi nào, gió quanh bãi rước đổi hướng, các lá cờ tung bay theo chiều ngược lại, tất cả dân làng mới được đồng loạt hò reo, khua rộn cồng chiêng, náo nhiệt cùng rước vua về nơi thờ tự của từng làng. Từ đấy, các cuộc tế lễ được diễn ra tại hai đình, mọi gia đình, dòng họ theo nhau vào dâng lễ Thánh.

Cuộc hội tạm đi vào hồi kết khi dân hai làng tập trung tại sân đình, đền cùng nhau thụ lộc Thánh, hy vọng một năm mới tốt lành, bình an. Đến ngày mùng Bốn (xưa kia phải đến mùng Tám) tháng Giêng, dân làng lại náo nức cùng nhau quây quần, dâng lễ cúng Vua và lưu luyến tiễn Đức Ngài về Nghĩa Lĩnh “ngự lãm”, chính thức kết thúc một kỳ lễ hội độc đáo, có một không hai ở Việt Nam.

Thảo luận cho bài: "Lễ hội tất niên làng He"