Lên Ðồng

Tác giả:

Thằng Tú thấy trong người rờn rợn lạnh mỗi khi đi ngang cái am, nhưng chẳng còn đường nào khác mỗi lần bị mẹ sai lên xóm đạo mua đậu hủ, dù là ban ngày ban mặt nhưng Tú không dám liếc vào trong am bao giờ cả, chân bước như chạy không hiểu sao mỗi lần đến gần am thì các chuyện ma quỷ mà cái bọn thằng Út mập hay kể lại hiện ra trong đầu, nhất là những ngày mùa mưa vào buổi chiều mà bị sai đi mua đậu hủ về để chiên lên ăn cơm thì thật là cực hình, những lần như thế thì thế nào Tú cũng kỳ nèo để mẹ bắt thêm thằng Tài, em kế đi theo mới được. Hai anh em khoác áo mưa, buổi chiều âm u vắng người qua lại càng làm con đường đi qua cái am thêm rùng rợn, gió thổi rít qua các lá thông nghe như tiếng hú của những oan hồn trong ngôi nhà ma mà nó từng được nghe kể. Hai anh em bước lầm lũi thật nhanh cho đến khi xuống hẳn nửa dốc mới dám chậm chân lại thở mệt. Mà cứ lạ là vừa xuống đến chân dốc ngay cây thông bên này cái cầu nhỏ bắc ngang qua con mương lớn dưới chân đồi là Tú phải ghé vào đái, có lẽ vì sợ nhiều hơn là trời lạnh.

Cái am nằm ngay trên đỉnh đồi, trước mặt là con đường mòn chạy ngoằn ngoèo từ Ấp Nam Thiên, khu của những người bắc di cư công giáo nối dài xuống chân đồi là con hẻm hãng cưa, những giàn cưa gỗ nằm trong những khu nhà tôn lớn chạy dài trống lốc bốn bề, máy móc chính không còn nữa vì của người Pháp đã bỏ lại, trơ các khung sắt rỉ sét và các đống mạt cưa trộn lẫn dầu nhớt không ai thèm đem về nấu nướng vì chỉ tổ khói đen bốc um lên mà thôi.

Cả một xóm thuộc hai bên hẻm hãng cưa là những người bên lương và một số ở lẫn lộn quanh con đường lên am chung với những người công giáo, cuộc sống chòm xóm láng giềng rất thân thiện, không một cuộc xung đột nào xẩy ra vì lý do tín ngưỡng, những va chạm, lục đục thông thường vẫn xẩy ra như mọi nơi chẳng hạn là mất con gà, hoặc chó hàng xóm cứ sang làm bậy vài bãi trước cửa nhà. Thông thường thì cứ thiếu tí mắm hay tí muối họ vẫn nhờ vả đến nhau và nhất là những ngày Tết mời nhau, những câu nói vồn vã khách sáo chúc tụng cứ vang lên cả xóm đều nghe.

Am do một số người chung quanh lo đèn nhang hàng ngày, không có ai ở hẳn bên trong mặc dù nó lớn gần bằng căn nhà ở, cửa chánh điện ít khi được mở ra, chỉ những lúc có lễ lớn hoặc những buổi lên đồng mới được mở lớn, còn thường chỉ ra vào hai bên cửa hông, ngoài đường nhìn từ xa theo cửa hông người ta ai cũng thấy bên trong ánh sáng đỏ chập chờn của những tấm màn đỏ, ánh nến lung linh, những đốm nhang cháy lập lòe của những người buôn bán đi ngang qua ghé vào cầu khẩn để được một ngày buôn may bán đắt.

Cả đám con nít trong xóm hãng cưa truyền miệng nhau là đang có lên đồng, rủ nhau lên xem, tuy sợ nhưng đứa nào cũng thích vì thế nào cũng có tý gì gọi là lộc Thánh ban phát, đi đông như thế Tú không thấy sợ nữa vả lại làm vào buổi trưa sáng sủa cả đám kéo nhau đi có đứa còn bồng bế em bé tý bên hông nữa. Các cửa quanh am chật ních những người là người, bọn con nít chen luồn dưới chân các người lớn một lúc rồi thì đứa nào cũng ngồi đầy choán các cửa ra vào, thường thì cũng chả có ai ra vào làm gì vì tất cả con đồng cũng như ban hát Cung văn ngồi hết cả bên trong

– Có bà Tá nữa, chúng mày ơi.

Có đứa đằng trước xì xào, Tú nghển cổ vào nhìn thấy ba bốn bà ngồi với nhau một góc, phấn son bôi giống như những người hát bội ở đình, trông lạ hẳn nhưng vẫn còn nhận được nét quen thuộc ở cái nụ cười mất một cái răng cửa ở hàm trên. Gì chứ cái răng này cả xóm ai mà chẳng biết cái nguyên nhân thì cũng do lão Tá đánh chứ còn ai làm bây giờ. Lão Tá say sưa chè chén suốt buổi, hở một tí là thượng cẳng tay, hạ cẳng chân, có lần lão say về gây sự và vác nguyên cái cuốc đuổi, bà Tá chạy thế nào lại đâm ngay vào cái cột điện xi măng, lăn quay ra máu chảy đầm đìa ở mặt, hàng xóm xúm nhau lại dìu bà vào nhà bà Tư ngay trước mặt để lau chùi máu và cho ngậm nước muối, còn các ông thì giằng lấy cái cuốc trên tay lão Tá và đẩy về nhà. Từ ngày ấy bà Tá mất một cái răng cửa, nụ cười của bà trông cũng ngồ ngộ, nhưng chỉ lúc đầu thôi về sau ai thấy cũng quen mắt đi. 

Nhưng bà Tá hôm nay ngồi trong đám con đồng cũng lạ đấy, vì đây là lần đầu cái đám trẻ con mới biết. Bà Mười là con đồng thường xuyên ở đây, dáng người phốp pháp có cái quán bán tạp hóa sập sùi chỉ đủ các thứ cần thiết cho các bà trong lúc nấu ăn bị thiếu một cách bất ngờ. Bà chỉ có một cô con gái cũng to lớn như bà, chưa chồng trông coi cửa hàng mỗi lần bà lên đồng, chồng bà đi lính ở xa nghe nói cũng có vợ hai, vợ ba gì đó, bà biết được lên tận nơi bắt tận tay và bà trở về nhà tuyệt giao với người chồng, từ đấy trở đi bà thường vào am khấn vái hình như cốt trù ếm, cầu xin đấng thiêng liêng trừng phạt cái con người bạc tình và cái con đĩ lộn giống mà bà thường rủa và rồi bà trở thành con đồng từ lúc nào chả ai biết rõ, nhưng sau này mỗi buổi đồng là đều có mặt bà, lần nào bà cũng đều được nhập bởi bà Chúa Ba, truyền thuyết về bà chúa Ba thì mỗi người thêm thắt một chút, bà Chúa Ba trở thành người có đầy quyền phép vô song, bà bao giờ cũng đi ngựa, kiếm giắt lưng, cầm roi quất vun vút, những lục lạc bà giắt dưới chân reo vang theo nhịp nhảy ngựa của bà vang tận ra bên ngoài làm đám trẻ nhồn nháo xô đẩy tranh nhau vào nhìn. Hôm nay bà Tá ngồi đồng chung, ăn mặc giáp vàng cũng đeo kiếm, cũng cầm chiếc roi ngựa và chân cũng có giắt lục lạc,cả hai thắp nhang lạy xong ngồi xếp bằng, phủ khăn đỏ lên đầu, tiếng đàn và hát của nhóm cung văn bắt đầu trỗi lên, một lúc sau thấy hai cái đầu của bà Mười và bà Tá quay đều và nhanh dần, đột nhiên bà Mười hét vang rồi vùng dậy nhẩy vòng quanh, bà Tá cũng nhẩy theo sau bà Chúa Ba, tiếng lục lạc, tiếng đàn và hát vang át cả tiếng đứa bé con giật mình vì tiếng hét đã khóc thét lên trong vòng tay của con chị nó đang rung rung dỗ dành. Mọi người ngồi chung quanh chắp tay xì xà xì xụp vừa vái vừa khen 

– Bà Chúa hôm nay có cô Năm hộ tống trông oai phong quá.

– Lạy Bà và cô Năm, hôm nay ban ơn mưa móc cho chúng con hậu hĩ với.

– Bà Chúa và cô Năm đẹp như Tiên giáng thế ấy.

Bà Mười nhẩy không được lâu vì dáng người to béo, chỉ vài vòng đã thấy mồ hôi bà rịn ra trán, những sợi tóc lòa xòa bên ngoài cái khăn cột đầu đã ướt bệt vào nhau và dính chặt vào hai bên trán, mồ hôi theo đấy chẩy giọt xuống đôi mắt nơi lông mày bà tô phấn đen xếch lên bây giờ nó lại vòng xuống thành hai vệt đen dài xuống dần bên má, bọn trẻ con thầm thì với nhau hinh hích cười, trông bà như anh hề sau vài lần bà lấy tay áo lau mồ hôi, các màu phấn tô đã nhạt nhòe trên mặt và trộn lẫn nhau theo từng vệt áo chùi. Bà Tá thì đỡ hơn không đến nỗi, có lẽ bà không phi ngựa nhanh như chủ tướng. Bà Mười vừa thở vừa nói tiếng một, lấy giọng the thé trong cổ ra để ban phát lộc thánh, bà chỉ cái con gà ra dấu cho bà Tá.

– Cô Năm… chia… cho quân… hừ… để chúng… hừ… trung thành… mãi mãi… hừ… bên ta… nghe chưa 

Bà Tá nhét cái roi vào thắt lưng, tiến lên bàn thờ bưng đĩa gà luộc nguyên con cái đầu gà còn ngậm quả ớt thái tỉa thành cái hoa đỏ thẫm, thằng Tú chen người sát vào bên trong, đẩy hẳn con bé Hoa ra đằng sau, nó hy vọng bà Tá nhìn thấy nó mà chia cho tí gì chăng, nó thèm thuồng nhìn con gà vàng ngậy nằm trên đĩa mà nuốt nước bọt. Bà Mười dùng tay xé toạc hai cái đùi ra để lại trên đĩa, còn phần đầu và mình trơ xương đưa cho nhóm cung văn hát chầu 

– Bà thưởng phần… nhớ đàn hay… hát giỏi… hừ… bà sẽ hậu thưởng…
– Dạ, tạ ơn Bà Chúa Ba ạ ạ a…

Bà Mười chỉ cái mâm đựng đủ các thứ nào là kẹo bánh rẻ tiền bọc trong giấy bóng xanh đỏ vàng, mấy củ khoai luộc, đậu phọng luộc ra dấu cho bà Tá để phát lộc cho đám trẻ, cả bọn con nít bắt đầu chen lấn nhau để cốt đứng ngay đầu, cửa chánh điện nhốn nháo cả lên ngay cả cái cửa bên hông cũng chật cứng, hầu như con nít cả xóm có mặt đầy đủ cả, bà Tá vừa phát vừa trợn mắt ra oai, 

– Bà Tá, con nè, cho con đi

– Bà Tá, bà Tá. . .

Bọn con nít không biết bà là cô Năm, bà cứ phải nhắc chừng 

– Ðừng chen lấn để cô Năm phát lộc.

Kể ra thì bà cũng phát khắp lượt, cái mâm sạch hẳn và đứa nào cũng có hoặc củ khoai, hoặc nắm đậu phọng luộc hay vài viên kẹo. Thằng Tú được cái bánh in màu đỏ đang ngắm nghía định bóc ra ăn bỗng nghe thấy tiếng ồm ồm quen thuộc phía ngoài, nó nhìn ra thấy lão Tá chân thấp chân cao tay cầm cái cán chổi lè nhè:

– Cái con mẹ Tá đâu rồi, ông… ông mà tóm được… nhừ đòn với tay ông… đồng với đì nào.

Thằng Tú thấy chuyện chẳng lành, nó biết tánh của lão Tá, còn lạ gì nữa rượu vào rồi thì chẳng coi ai ra gì nữa huống chi bà Tá, nạn nhân của lão hàng ngày, nó vội hét tướng vào trong báo động cho bà Tá.

– Ông Tá vác gậy đến kìa, bà Tá ơi chạy nhanh đi.

Tiếng đàn hát im bặt, mọi người nhốn nháo, bóng bà Tá vụt nhanh qua phía cửa hông, đám con nít ngã bổ nhào ra phía ngoài, đứa khóc, đứa sợ hãi hét vang lên, bà Tá bỏ chạy, hớt hải đạp bừa qua đám trẻ con ngồi bên cửa hông, rơi cả roi với khăn ở ngoài sân, phóng mất dạng. 

Thằng Tú vòng từ cửa trước ra bên hông, nhìn thấy đám con nít vẫn mếu máo, có đứa vừa phủi đất bám vào quần vừa lấy tay quẹt mũi, có đứa vẫn hinh hích vừa khóc vừa lồm cồm nhặt mấy hột đậu phọng rơi vãi, dầu gì thì lộc Thánh của đứa nào vẫn còn nằm chắc trong tay đứa nấy chả mất đi đâu được.


Mắc Cạn 


Thảo luận cho bài: "Lên Ðồng"