Lược Khảo Nguồn Gốc Thơ Mới

Tác giả:

2. 



Rồi từ đó, các báo chí, nhất là tờ Phong Hoá, tiếp tục ấn hành những bài thơ mới, gây thành phong trào.
 
Bài thơ Tình Già là một " biến cố văn học " ; một cuộc cách mạng phá đổ toà thành thơ Đường vốn đã phong tkín tâm hồn dân tộc việt non ngàn năm, và kéo theo cuộc bút chiến kỳ thú suốt chín năm trường ( 1932 – 1941 ).
 
Thế chiến được giàn thành hai mặt:
 
-Mặt trận bảo thủ thơ cũ ( Thơ Đường ) gồm có: Hùynh Thúc Kháng, Tùng Thành, Nguyễn Văn Hanh, Thái Phỉ, Tùng Lâm, Lê Cường Phụng.
 
-Mặt trận theo Thơ Mới tráng kiện và hùng hậu hơn : " chủ soái " Phan Khôi, " diễn giả " Nguyễn Thị Khiêm (Nguyễn Thị Manh Manh), " lao công " Thế Lữ cùng phe cánh: Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên, Đỗ Đình Vượng, Trương Tửu, Lê Tràng Kiều …
 
Xin trích lục ra đây vài bài thơ " pháo thủ " của đôi bên:


Trách bác Phan Khôi khéo rắc rối,
Noi gương Hồ Thích làm thơ mới ;
Câu dài, câu ngắn chẳng ra sao,
Vần đụp, vần đơn nghe thật thối.
Hăng hái, Thị Khiêm diễn thuyết khen,
Nhiệt thành, Thế Lữ lao công mãi.
Phải chăng muốn diễn ý tân kỳ
Hay tại làm thơ cũ kém giỏi ?
(Tùng Thành)

Vũ Đình Liên không trả lời thẳng nhưng thâm trầm đưa ra hình ảnh đáng thương hại của thời nho mạt trong bài Ông Đồ Già:


Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
" Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay ".

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu.

Ông đồ vẫn ngồi đây
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay.

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn giờ đâu bây giờ ?
(Vũ Đình Liên)

Thi sĩ ngông Tản Đà cũng chẳng tha Thơ Mới:


Đờn là đờn
Thơ là thơ
Thơ thời có chữ, đờn có tơ.
Nếu không phá cách vật điều luật,
Khó cho thiên hạ đến bao giờ?
Bá Nha xa,
Lý Bạch khuất,
Thơ có họ Phan, đờn họ Quách!
Thơ có chữ
Đờn có tơ,
Đờn thời ngớ ngẩn, thơ vẩn vơ.
Tài tử giai nhân những rứa rứa,
Bút huê ngao ngán bạn đề thơ.
(Tản Đà)

Và ngay cả Khái Hưng, nhà văn tiền phong trong cuộc cách mạng văn hoá đả phá nếp sống luân lý phong kiến khắt khe, cũng mĩa mai những nhà thơ theo lối Thơ Mới. Ông viết:

Vì thế kỳ báo này
Tôi lại
Viết một câu văn vui, đại khái
Cũng bằng thơ mới
Nói thơ tự do có lẽ phải hơn, vì cứ mỗi lần
Gặp vần là tôi tự do xuống dòng, bất kỳ câu ngắn
Hay dài, từ một đến mười hai chữ.
Như thế hẳn
Chẳng khó khăn gì
Mà bổng mình trở nên một thi

Rồi các nhà phê bình sẽ
Tìm ra cái hay của mình và có lẽ
Tôn bừa mình lên bực thi hào
Thì mình cũng đành nhận chứ biết sao.
( Khái Hưng )

Cùng dăm luận điệu quá khích của song phương:

Nhà cách mạng tiền phong phá đổ thành trì Thơ Cũ (Phan Khôi) cho rằng « thơ chẳng những là một câu nói có vần, có điệu mà còn có ý cảnh nữa. Cái ý cảnh có nên thơ thì mới là thơ. Ý cảnh nghĩa là cái cảnh tạo ra bởi cái ý của tác giả. Nó chiếm hết 9 phần 10 trong câu thơ. Không có nó, chỉ có vần và điệu thì thơ không thành». Thâm ý của Phan Khôi được giải bày rõ là « thơ cũ chỉ là một loại văn ứng dụng thông thường » vì thơ cũ « chỉ cốt ở sự hiểu, hể hiểu là được ». Theo ông thì đã gọi là thơ, một loại văn " văn học " thì « chẳng những để hiểu mà cốt ở sự đẹp, có đẹp mới cảm người ». Và ông kết luận: «Những câu nói chỉ theo đúng điệu mà không có ý cảnh nên thơ, thì phải gọi là gì chứ không được gọi là thơ ».
 
Phái theo Thơ Mới còn cho các nhơ thơ theo lối cũ chỉ biết nô lệ mù quáng người Tàu mà không tự sáng tác, sáng tạo nên ý sáo, lời sáo. Vì phải gò ép trong những ước thúc luật lệ nên mất tự nhiên, như vậy là phản lại bản chất của thơ vốn để diễn tả tiếng lòng thiên nhiên của con người.
 
Họ còn mỉa mai thơ cũ là một trò " trói voi bỏ rọ " vì đem bao nhiêu cảm nghĩ phóng khoáng gói ghém vào trong một cái khuôn nhỏ hẹp 56 chữ ( thất ngôn bát cú). Tóm lại phái Thơ Mới cho những nhà thơ phái cũ là những thi công ( thợ thơ ) chứ không phải là thi sĩ: Vì ai cũng có thể học làm thơ được, song không học làm thi sĩ được. Thi sĩ là một đặc ân thiên phú.

Phái Thơ Cũ đáp lại:

« Thơ Mới bắt chước Thơ Tự Do của Pháp mà chỉ được cái vỏ ngoài nên thành ngớ ngẩn». Hay « muốn làm thơ mà không chịu theo luật lệ của nghệ thuật hoặc vì khinh thường hay dốt nát thì sao không viết ngay văn xuôi ? ».
 
Có người còn đi xa quá mức, nặng lời bảo các nhà thơ phái mới chọn thể Thơ Mới vì «không vận dụng nổi thơ luật Đường ».
 
Song song cuộc tranh luận và bút chiến trên, người ta còn ghi nhận những lời " tiên tri " của những nhà " thần bốc " như ông Lương Đức Thiệp đã khẳng đoán « Thơ Mới không đứng được lâu dài, có lẽ một phần do tính cách việt ngữ, một loại độc âm ». Ngược lại, ông Nguyễn Tường Bách lại quyết tín « Thơ Mới chắc sẽ đưa văn nghệ nước nhà đến con đường tương lai rục rỡ vì hiện nay (1942) đã sản xuất được nhiều tác phẩm giá trị ». Ý họ Nguyễn Tường muốn nói đến Mấy Vần Thơ của Thế Lữ ; Gửi Hương Cho Gió của Xuân Diệu; Cô Gái Xuân của Đông Hồ; Tiếng Thu của Thế Lữ; Lửa Thiêng của Huy Cận; Thơ Say của Vũ Hoàng Chương …
 
Cuộc tranh luận Cũ-Mới được bế mạc vào năm 1941 giữa Huỳnh Thúc Kháng và Phan Khôi trên tờ Dân Báo và Tiếng Dân với sự thắng thế của phái Thơ Mới. Tức thì nhiều người trong văn giới lúc bấy giờ đã vội vàng, bồng bột khoác chiếc áo chiến thắng lên Thơ Mới và cùng lúc sắm ngay chiếc áo quan cho Thơ Cũ vì theo họ, Thơ Cũ và Thơ Mới là 2 đối thủ không đội trời chung.(1)
 
Quan niệm ấu trỉ và điên khùng đó, may thay, đã không được phổ cập vì cho tới nay, Thơ Cũ và Thơ Mới vẫn cọng tồn song hành. Mỗi lối thơ đều có địa vị xứng đáng trong văn đàn của dân tộc. Sự kiện đó là lẽ tự nhiên vì Thơ Cũ hay Thơ Mới, mỗi bộ môn văn nghệ như bao bộ môn khác, đều là sản phẩm kết tinh bởi sinh hoạt tinh thần và vật chất trong xã hội.
 
Những người quá khích, say men chiến thắng, không nhận chân tính cách tiếp nối trong văn nghệ … nên đã vội quay lưng về dĩ vãng, phủ nhận xương máu của những gì khác mình, cắt dòng lịch sử ra từng đoạn nhỏ. Thậm chí men chiến thắng đã, một thời, nẻ ra quan niệm "đỉnh cao": Yêu Thi Ca là (phải ) Yêu Thơ Mới ! Họ quên rằng muốn xây dựng một hình thức (tôi nói hình thức) văn nghệ nào hay gì gì đi nữa, trước khi mở cửa hướng về bốn phương trời, chúng ta cần quay về cái di sản văn nghệ của dân tộc (dù thế nào Thơ Cũ cũng mãi mãi là di sản của một phần con dân nước Việt ). Quay về di sản đâu có nghĩa là phục hưng, bảo tồn một cách duy ý chí đến hồ đồ tất cả những gì của Thơ Cũ. Và còn tùy (văn chương là một nghệ thuật của chữ Tùy) mức độ nghệ cảm, sự thẩm thức của quần chúng độc giả vốn đã có, nghe nói, non 5.000 năm văn hiến.  Nếu không, mồ hôi, máu xương và công lao Cách Mạng Thơ Mới sẽ như muối đổ đại dương hoặc bàn dân thiên hạ sẽ ngao ngán nhận ra rằng phái Thơ Mới làm cách mạng là làm riêng cho băng họ để được lên làm thống soái văn đàn trên đất nước cũng vốn đã quá mệt mỏi với chuyện triều đại mới xoay vần xổ toẹt triều đại cũ kiểu thời phong kiến bên Trung Quốc.
 
Nhìn lại quá trình sáng tác của một vài thi tài lỗi lạc việt nam như Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương, v.v… thì sự kiện nêu trên càng được sáng tỏ. Cả hai nhà thơ nầy, trước khi theo con đường Thơ Mới, đều đã " nhập thân Đường Luật ":
 
 


Vội vàng chi lắm nhạn tung mây,
Chầm chậm cho mình gửi mối giây
Về đến Thần Kinh khoan nghỉ đã,
Ghé miền Gia-Hội tỏ tình ngây.
Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi,
Chỉ một lòng son muốn giải bày.
Này nhạn, ta còn quên chút nữa:
Con tim non nớt tặng nàng đây !
(Hàn Mặc Tử, hoạ bài thơ của Mộng Châu)
 
Sống giữa chiêm bao vạn cuộc đời,
Trắng tay sầu ngất tám phương trời.
Thanh gươm quyết tử mài chưa bén,
Ngọn bút mưu sinh giá cũng hời.
Dâu bể hoang mang lòng Phật khóc,
Gối chăn lạnh lẻo tiếng Ma hời.
Bên sông từ đấy hoa mai nở,
Không chút cuồng si tưởng bóng người.
(trích bài Ngẫu Cảm, Vũ Hoàng Chương)

Và ai đã đọc thơ, theo dõi thơ hẳn cũng nhận ra ngay, có những nhà thơ, một đời, sáng tác hàng ngàn bài thơ, song đến nay, nhắc tới họ, người ta chỉ nhớ, thuộc, ngâm nga một vài bài thơ mới rất cũ của họ.
 
Ngược lại, kẻ nào bài xích triệt để dòng tiến hoá trong văn nghệ, không nhìn về phía trước mặt cũng có tội với quốc dân độc giả. Cái thành trì Đường Luật già cỗi đã không đủ kích thước chất chứa những đổi thay nội tâm, những khát khao, những rạt rào của con người đang ở ngưỡng cửa một cuộc đổi mới thì tại sao lại cản trở cho " tức nước vỡ bờ ", để bị kết án là " phản động ", " phản tiến hoá ", là " lạc hậu " ? Trong khi Thơ Cũ hay Thơ Mới, thành thật mà nói, đều vay mượn của thiên hạ, và cả hai, thử hỏi có món nợ nào không phải trả bằng máu của con dân nước Việt?
 
Tóm lại, vấn đề cốt tủy của thơ nói chung không chết trên hai từ Cũ, Mới. Cốt tủy của thơ tiềm tàng ở phần hồn thơ Việt Nam, phần sáng tạo của thi nhân ( sáng tạo không phải lập dị ). Hơn nữa, trong khuôn viên bát ngát hương cũ – mới, ai dám chắc rằng không có những loài cỏ dại? Mà Cũ thì sao, Mới thì sao ; Trắng thì sao, Đen thì sao ? Cái chính là Hay ; là Bắt Được … Thơ.
 
Hàn Lệ Nhân
( bài tới : THƠ MỚI và THƠ TỰ DO )

CHÚ THÍCH
.
(1)   Hoàng Đạo trong Mười Điều Tâm Niệm có viết: «… phái thủ cựu đã đi vào nỗi tiêu diệt như đêm tối tan đi trước ánh sáng của vầng thái dương ».
 
 
SÁCH THAM KHẢO & TRÍCH LỤC
– VN văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm
– Thi Nhân VN của Nguyễn Văn Còn
-Thi Nhân VN Hiện Đại của Phạm Thanh
-Những Khuynh Hướng trong Thi Ca VN của Minh Huy
-Luyện Văn của Nguyễn Hiến Lê
-Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh & Hoài Chân

 


Thảo luận cho bài: "Lược Khảo Nguồn Gốc Thơ Mới"