Lược Khảo Nguồn Gốc Thơ Mới

Tác giả:

1.


Lời nói đầu:
Từ trước tới nay, tôi vẫn tự nhận là học trò của cụ Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) mặc dù chưa được may mắn học cụ lấy 1 giờ mà chỉ qua sách của cụ. Ở đây, noi gương cụ, tôi mạo muội viết bài nầy trong tinh thần tập viết để tự học – trong sách cụ Nguyễn vẫn tâm niệm vậy – cho nên những gì đúng trong bài, hoàn toàn nhờ sách, còn những gì sai hay chưa đúng, hoàn toàn là lỗi tại tôi, tôi xin chịu trách nhiệm. Mong bạn đọc xa gần niệm tình bỏ quá và vui lòng chỉ giáo. Xin cám ơn trước. (HLN)

Khi một quốc gia nhược tiểu bị một quốc gia hùng cường từ vật chất (kinh tế, quân sự …) đến tinh thần (văn hoá) xâm lăng thì cái hậu quả đầu tiên mà quốc gia nhược tiểu phải hứng chịu là sự xáo trộn trong nền văn hoá của họ. Và trong cơn xáo trộn văn hoá đó, thi ca thường bị ảnh hưởng rõ rệt nhất. Ấy vì thi ca, một hình thức cao nhất của văn học, là tấm gương phản chiếu đầy đủ và đứng đắn nếp sinh hoạt tinh thần lẫn vật chất của dân tộc.

Cho nên ta có thể nói rằng nền văn học Việt Nam, đặc biệt thơ, là một nền văn học hội nhiều góc cạnh phối hợp đặc thù và ẩn tàng nhiều chất liệu tranh đấu mà ít nền văn hoá nào khác được vậy.

Suốt gần 5.000 năm dựng nước, triền miên điêu đứng với "một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây“dân tộc Việt Nam đã lần lượt hấp thụ hai nền văn hoá phong kiến Tàu và thực dân Tây mà không hề làm mất bản chất, sắc thái riêng biệt của dân tộc:

* Sau một thời gian xâm nhập Việt Nam, chữ Hán liền bị biến thể thành chữ Nôm (1), Hàn Thuyên (2), một người việt đã can đảm khởi xướng phong trào làm thi phú quốc âm việt bằng chữ Nôm với những luật tự biến chế phỏng theo Đường Luật (luật nầy sau gọi là Hàn luật). Chữ Nôm đã cho ta những tác phẩm bất hủ, tuy nội dung vay mượn của Tàu, như Kim Vân Kiều của Nguyễn Du; Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu …
Tóm lại chữ Hán đã đem một phần hùn lớn cho ta. Ngày nay đọc hay nói những chữ khái niệm, xã hội, quá khứ, quốc gia, độc lập …v.v… ta không còn thấy sượng sùng, xa lạ nữa.

Thời Pháp-thuộc cũng vậy, những chữ Pháp nào lọt vào Việt Nam đều bị “nung nấu”việt hoá cả. Ví dụ: cái bù-loong (boulon), cái tách (tasse), trái banh (balle) … Và cao hơn nữa trong địa hạt văn chương, thi ca Việt Nam bị ảnh hưởng thi ca Pháp nhiều. Có thể nói “hình ảnh Thơ Mới trong thi ca VN là hình ảnh thi ca Pháp thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20 thu hẹp lại”. Thu hẹp ở đây xin hiểu là gạn lọc, thích nghi. Thật vậy, tuy bắt chước thi ca Pháp rất nhiều nhưng các thi nhân việt nam đã đào thải không tiếc nuối những lối thơ định thể như Ode, Ballade, Rondeau … vả ngay như lối thơ Alexandrin (thể thơ 12 chân) cùng lối Octosyllabique (thể thơ 10 chân) cũng đã chết yểu ở Việt Nam (3).

Vết tích rõ rệt còn lại của thực dân Pháp trong tâm hồn người việt chúng ta ngày nay, tựu trung, là Thơ Mới.

Nhà phê bình thi ca Hoài Thanh có nói: « Cái ngày người lái buôn phương tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng hàng hoá phương tây cái mầm sau nầy sẽ nảy thành Thơ Mới ». Câu nói đó tưởng viễn vông như hạc nội mây ngàn, nhưng xét kỹ lại thì thật là thông suốt và khám phá biết bao ! Song những người đi trước đã đồng ý lấy năm 1913 làm cái mốc lịch sử Thơ Mới, cho nên để tránh sự rườm rà, chẻ sợi tóc làm bốn, chúng ta cũng lấy năm 1913 làm bằng cớ và chỉ thêm năm 1932 là năm Thơ Mới được thể hiện trong thi ca Việt Nam.

Năm 1913, trong Đông Dương tạp chí số 40, người ta thấy xuất hiện lần đầu tiên bài thơ CON VE SẦU và CON KIẾN do ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ bài thơ ngụ ngôn LA CIGALE et LA FOURMI của J. De Lafontaine: 

Con ve sầu
Kêu ve ve
Suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối
………
Ve rằng: “Luôn đêm ngày
Tôi hát, thiệt gì bác ?”
Kiến rằng: “Xưa chú hát
Nay thử múa coi đây”.

Trong mấy đoạn đầu bài thơ nầy, số chữ của năm câu đầu thoát khỏi quy luật dùng chữ của Thơ Đường và trong đoạn năm chữ sau, vần là vần ôm: Vần bình ôm vần trắc, là thứ vần chưa hề được dùng cho đến lúc đó (1913).

Bốn năm sau, Phạm Quỳnh, một học giả có tiếng bảo thủ, lên tiếng đả kích Thơ Đường. Họ Phạm cho Thơ Đường là lối thơ « bắt thi nhân không được tùy cái sống ngổn ngang ở trong lòng mà khi cao, khi thấp ; khi ngắn, khi dài » tức « làm mất cái giọng tự nhiên đi ít nhiều ». Kế đó ông phê bình bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan: « Rằng hay thì thật là hay. Nhưng hay quá, khéo quá phần nhân công nhiều mà vẻ tự nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vậy ».

Mãi đến năm 1932 (như đã nói trên), Phan Khôi, một nho sĩ có tây-học, đem vấn đề Thơ Mới ra bàn trong báo Phụ Nữ Tân Văn số 122:

Phan Khôi tự giới thiệu: « Trước kia, ít ra trong một năm tôi cũng có năm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm ; mà năm bảy bài của tôi, không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được » (4). Ông kết án Thơ Cũ vì «bị câu thúc quá nên mất chơn» và ông bày ra một lối thơ « đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết và tạm mệnh danh là Thơ Mới ».; Và cho đăng kèm bài Tình Già:

Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa …
Dưới ngọn đèn mờ,
Trong gian nhà nhỏ
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở:
Ôi ! Đôi ta, tình thương nhau thì rất nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng!
Để đến nổi tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!
Hay, nói mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy …
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng
Mà tính chuyện thủy chung?

Hai mươi bốn năm sau,
Tình cờ đất khách gặp nhau,
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi,
Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi …

Không bao lâu sau, bài Tình Già được dịch ra tiếng Pháp:

Ancien Amour 

Vingt quatre années avant 
Une nuit de pluie et de vent 
A la lueur blafarde d'une lampe 
Sous un toit étroit 
Deux jeunes chevelures tête à tête doucement se lamentaient : 
Hélas ! Nous deux, profond est notre amour 
Mais impossible est notre uni-on. 
L'infidélité succèdera bientôt à l'affection, 
Il vaut mieux nous séparer dès maintenant! 
– Quoi donc ingrat? 
Comment souffrons-nous de nous abandonner? 
Aimons-nous tant que nous pourrons, 
Dieu l'a ainsi décidé, le sort en est jeté… 
Nous ne sommes pas époux mais amants, 
Pourquoi donc parler de fidélité et d'éternité? 

Vingt quatre années après 
Rencontre forfuite en un lieu étranger 
Deux têtes déjà d'un même argent. 
Si l'on ne s'était pas bien connu auparavant 
Comment arriverait-on à se reconnaître! 
Juste pour se remémorer leur amour d'antan, 
Regards furtifs en coin 
Dans des yeux en fuseau…


;(Nguyễn Trần Huân);
(trích Nhớ cha tôi: Phan Khôi, của Phan Thị Mỹ Khanh, 2001 – HLN có tùy tiện sửa vài lỗi chính tả tiếng Pháp trong sách do sự bất cẩn của biên tập viên nxb Đà Nẵng)

(Còn tiếp)

CHÚ THÍCH

(*) Không kể Thơ Tự Do vì thể thơ nầy xuất hiện sau Thơ Mới tức còn mới hơn Thơ Mới nữa. 
(1);;Chữ Nôm là một thứ chữ, hoặc dùng nguyên hình chữ Nho, hoặc lấy 2,3 chữ Nho ghép lại để viết thành chữ Việt mà người Tàu khi nhìn vào không đọc và hiểu được.
(2);;Hàn Thuyên chính là Nguyễn Thuyên. Theo sử chép, năm 1282 ông làm bài văn tế đuổi được cá sấu như việc làm của ông Hàn Dủ bên Tàu nên vua Trần Nhân Tôn mới đổi họ ông ra họ Hàn.
(3);;Bài nầy không bàn tới Thơ Tự Do. Ông Mộng Sơn đã thí nghiệm lối thơ 12 chữ và đã thất bại. Thể thơ 10 chữ Nguyễn Văn Khen mượn cũng không tồn tại:

Chiều thu. Sau rặng tre xa, mặt trời khuất bóng
Ánh vàng còn rải rác trên cánh đồng xanh rộng
Đám mây chiều trắng xám đã nổi ở chân trời
Từ xa lại, gió thu làm man mác lòng người. 

(4);;Những bài nói chuyện về thơ của Phan Khôi đăng trên Nam Phong, Đông Pháp, Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, Trung Lập sau được đóng thành tập, xb lấy tên là Chương Dân Thi Thoại. Và mới đây, 2001, nxb Đà Nẳng có phát hành cuốn Nhớ Cha Tôi : Phan Khôi, của con gái ông là bà Phan Thị Mỹ Khanh.


Thảo luận cho bài: "Lược Khảo Nguồn Gốc Thơ Mới"