Lược khảo Thơ Mới Và Thơ Tự Do

Tác giả:

1.


Sau khi đăng bài Lược Khảo NGUỒN GỐC THƠ MỚI, có một bạn thơ gửi đến bài “Góp Ý Về Thơ Mới” ký tên Thất Trí Lang «xin mạn phép đóng góp vài ý kiến mọn riêng của một kẻ yêu thơ».

HLN nghĩ âu cũng là một điều hay vì vô hình chung bài “góp ý” lại góp phần thú vị không nhỏ cho dự định viết tiếp về Thơ Mới và Thơ Tự Do của mình, do đó xin được dẫn nhập bằng sự góp ý của người bạn thơ, chưa quen biết. Bạn Thất Trí Lang viết:

«Trong lời chú giải về hai chữ “Thơ Mới”, HLN phân biệt Thơ Mới và Thơ Tự Do và ghi rõ rằng “Thơ Tự Do xuất hiện sau Thơ Mới tức là còn “mới ” hơn Thơ Mới nữa .

Theo thiển ý, tỉnh từ “mới” chỉ có nghĩa trong một khoảng thời gian nào đó nhất định, hoặc khi mang tính cách so sánh. Thí dụ: Cái áo mới may hồi năm ngoái, song vẫn còn mới so với cái áo may ba năm về trước.

Hơn nữa, từ ngữ “Thơ Mới” quá bao quát, được đặt ra trong khuôn khổ của một cuộc đấu trí giữa những nhà thơ bảo thủ và những thi sĩ chủ tiến. Ngay đến lý do của sự xung đột “Thơ Mới – Thơ Cũ”, mặc dù khía cạnh nội dung của một bài thơ được đề cập đến, cái khía cạnh hình thức, lề luật, niêm vận hầu như là đề tài chính yếu.

Thoát khỏi khoảng thời gian 1932 – 1941 của chín năm bút chiến, từ ngữ Thơ Mới trở nên trống rỗng và phải chăng do đó mới xuất hiện các từ ngữ thay thế: Thơ Buông, Thơ Giải Phóng, Thơ Tự Do.

Từ ngữ Thơ Buông do Nguyễn Hiến Lê đặt ra còn mang tính cách so sánh với các thể thơ cũ, chưa vượt được bức tường thời gian. Từ ngữ Thơ Giải Phóng thì lại mang một đặc tính liên quan đến một quá khứ rất gần mà người Việt tha hương khó lòng chấp nhận, dù hai chữ “giải phóng” bao hàm sự tự do mà chúng ta đòi hỏi.

Còn lại từ ngữ Thơ Tự Do, có thể thuận tai, thuận ý phần nào hơn, lại không mang ảnh hưởng thời gian và bao gồm được sự khác biệt đối với các thể thơ trước.

Do đó cần được định nghĩa rằng “Thơ Tự Do” bao gồm tất cả các “thể” thơ không nhất định và không mang hình thức của các thể thơ cũ, nghĩa là dưới khía cạnh luật lệ, thơ Tự Do rất là … tự do. Cái sự tự do trong hình thức và niêm luật ấy tất nhiên dễ dãi hoá việc sáng tác một bài thơ. Song nếu ta xét sâu hơn, chính sự tự do ấy, chính cái sự dễ dãi ấy biến thành cái khó khăn trong việc sáng tạo để một bài thơ Tự Do được khác biệt với một bài văn xuôi. Làn ranh giữa thơ Tự Do và văn xuôi tựa như kẽ tóc.

Tự do trong hình thể để phần nội dung được bộc khởi một cách sâu đậm hơn, để cái ý cảnh được kết tạo với đầy đủ ý nghĩa và phát biểu được nội tâm của tác giả, có nghĩa là vứt bỏ đi những gò bó khắt khe của các thể thơ xưa.

Song, dù có chấp nhận các mức tự do trong việc sáng tác đến độ bỏ các vần đi nữa, ta có thể nghĩ rằng một bài thơ Tự Do ít ra phải còn âm điệu. Chính cái âm điệu ấy là làn ranh cỏn con giữa văn xuôi và thơ Tự Do, vì một câu hay cả một đoạn văn xuôi có thể mang âm điệu rất “nên thơ”.

Âm điệu là vết son cuối cùng mà ta không thể xoá đi, để một bài thơ còn có thể được gọi là Thơ.

Cái khó trong việc sáng tạo một bài thơ Tự Do, dưới cái nhìn của nhà thơ, phải chăng là việc phải tự mình đúc kết niêm luật đặc biệt cho từng bài thơ được sáng tác, để cho hình thể và âm điệu của bài thơ hoà hợp với nội dung hầu gợi được cái ý cảnh một cách linh động hơn.

Một tuyệt tác thi văn là một bài thơ mang sự hoà hợp giữa linh hồn của bài thơ cùng lớp võ bên ngoài.

Ta nhận thấy thể Thất Ngôn Bát Cú hoà hợp với ý thơ châm biếm chua cay, diễu cợt và các thể Lục Bát, Ca Dao lại rất đặc sắc để tả cảnh, tả tình. Ý thơ hùng hồn thường được biểu lộ qua thể thơ Tám Chữ.

Sáng tạo một bài thơ không thể là một cuộc ghép chữ, ghép vần theo niêm luật hay không.

Sáng tạo một bài thơ là tìm cách phát biểu cái chiều sâu của tâm hồn qua lời thơ được kết dựng theo hình thức và âm điệu hoà hợp với ý tưởng.

Ta có thể nghĩ rằng, ngày xưa hình thức, niêm luật, âm điệu do một người hay một nhóm người đặt chế ra cho từng thể thơ. Ngày nay, nhà thơ hưởng trọn quyền đúc kết, vừa phần hồn, vừa phần xác của bài thơ vậy.

Thơ Tự Do, chẳng qua là bước tiến tự nhiên của mỗi nền thi văn để vượt khỏi những sự gò bó, áp bức hủ thời.

Trên đây là ý kiến eo hẹp của một kẻ yêu chuộng thi văn. Nếu có điều chi sơ xuất xin đa tạ những lời chỉ giáo. ».

(Thất Trí Lang)

Cho đến ngày nay, nền thi ca Việt Nam vẫn tạm được chia ra làm hai loại rõ ràng: Thi Ca Bình Dân và Thi Ca Bác Học. Thi Ca Bình Dân là danh xưng chung cho các văn vần như Ca Dao, Tục Ngữ hay Ngạn Ngữ, Thành Ngữ, Phong Dao … Thi Ca Bác Học là tụ điểm của các loại văn vần như Lục Bát, Song Thất Lục Bát (và các biến thể của hai thể thơ này), Thơ Đường-Luật, Thơ Mới và Thơ Tự Do. Trong loại Thi Ca Bác Học lại được phân giới làm hai phần: Phần quốc túy gồm Lục bát, Song Thất Lục Bát … (xuất xứ từ Ca dao, Tục Ngữ …) và phần vay mượn gồm các thể thơ Đường-Luật (ảnh hưởng Thơ Tàu), Thơ Mới và Thơ Tự Do (ảnh hưởng Âu Tây).

Tại sao lại có sự phân biệt như vậy?

Xin thưa là để chúng ta có được cái nhìn dễ dàng, mạch lạc về Thi Ca Việt Nam nói chung, Thi Ca Bác Học nói riêng, trong tiến trình lịch sử hình thành nó. Bài Lược Khảo NGUỒN GỐC THƠ MỚI, bài “Góp Ý “của Thất Trí Lang mà bài nầy rút ý nằm trong một phần của nền Thi Ca Bác Học:

THƠ MỚI là THƠ TỰ DO hay THƠ MỚI và THƠ TỰ DO?

Trong mấy hàng đầu của bài “Góp Ý”, Thất Trí Lang đã tách chữ MỚI trong từ ngữ THƠ MỚI ra thành tỉnh từ và cho nó một giá trị “một khoảng thời gian nào nhất định, hoặc khi mang tính cách so sánh. Thí dụ: cái áo mới may năm ngoái, song vẫn còn mới so với cái áo may ba năm về trước ». Sự tách rời đó, thiết nghĩ đã tạo nên sự hiểu lầm về hai tiếng Thơ Mới. Ấy vì, kinh qua 9 năm tranh đấu để thành một thực tại trên thi đàn, theo thiển ý, chữ Mới trong Thơ Mới đã chuyển từ tỉnh từ sang danh từ và trở thành hợp danh khi đứng cạnh chữ Thơ trong Thơ Mới, cùng lúc mất đi tính chất “thời gian nhất định “trong “cái áo mới”. Thí dụ: Xóm Mới, Chợ Mới, Cầu Mới. Trong ba cái tên nầy, chữ Mới có còn là tỉnh từ hay không? hay ba cái tên nầy đã trở thành hợp danh cho mỗi địa danh mà ngưới ta không thể tách rời, cắt bỏ một trong hai chữ, nếu như người ta không muốn những chữ nầy chỉ còn lại cái nghĩa phổ thông. Tóm lại, theo tôi, khi nói tới Thơ Mới ta phải hiểu như khi ta nhắc đến Đồng Nai, Sóc Trăng, Vũng Tàu … hay Côte d’ Ivoire, Ile de Réuni-on …

Kế đó, để lót đường cho phần “góp ý “còn lại, thi hữu Thất Trí Lang (TTL) viết:”… Ngay lý do của cuộc xung đột Thơ Mới – Thơ Cũ mặc dù khía cạnh nội dung của một bài thơ được đề cập đến, cái khía cạnh hình thức, lề luật, niêm vận hầu như là đề tài chính yếu ». Không hiểu vô tình hay cố ý, TTL đã không dẫn chứng cho những khía cạnh nêu trên. Thành thử sự kiện đó có phần nào “quá bao quát “- lời của TTL – và phiến diện chăng? vậy để vấn đề được thêm minh bạch, chúng ta thử cùng xét sơ qua ba tâm điểm là Nội Dung, Hình Thức và Niêm Luật (ba yếu tố không thể thiếu của Thơ) của cuộc biến động Thơ Mới – Thơ Cũ.

Ai ai đều công nhân rằng, trước ngày Thơ Mới xuất hiện, nội dung (tư tưởng) của Thơ Cũ không thoát vòng Tam Giáo (Nho, Phật, Lão); hình thức quanh quẩn trong vòng Cổ Phong, Thất Ngôn và Ngũ Ngôn, Tứ Tuyệt và Bát Cú; niêm luật thì ép xác trong Bằng, Trắc, Điển, Đối, Phá, Thừa, Thực, Luận, Kết của Đường-Luật. Cho đến ngày Thơ Mới ra đời và gây xáo trộn thế nào thì chúng ta đã biết qua bài Lược Khảo Nguồn Gốc Thơ Mới (LKNGTM), tuy nhiên, trong LKNGTM tôi chưa đào sâu chi tiết tác động nên sự khước từ cái cũ của lớp người “Thơ Mới “, chịu chiều gió tư tưởng đến từ phương Tây; để người đọc nhận chân được cơn biến động Thơ Mới – Thơ Cũ không thuần là một “cuộc đấu trí nặng phần hình thức, lề luật và niêm vận “mà là một biến cố văn hóa phát nguyên từ những ray rứt nội tâm. Vậy nhân đây, xin được bàn thêm:

Có người đã nói “từ ngày có cái cối xay bột là có một chế độ về Chủ và Thợ ». Rút từ ý đó, ta có thể đồng ý với tác giả Nhà Văn Hiện Đại, Vũ Ngọc Phan, khi ông viết. «từ ngày người việt nam biết dùng ngòi bút sắt, biết cắt tóc, để răng trắng và biết dùng các thứ của phương Tây là ngày nền Thi Ca Việt Nam có những nguồn mới, những từ mới. Sinh hoạt thay đổi, nguồn hứng và sự diễn tả cùng tính tình cũng thay đổi theo». Cho nên khi buồn, người đàn ông, anh con trai không còn uống rượu với ả đào:

Tửu với sầu như mã với ngưu,
Trong lai láng biết tránh đâu cho khỏi.
Càng tài tử càng nhiều tình trái,
Mối sầu kia theo tình ấy mà ta.
Mua sầu tại kẻ tài ba.
(Nguyễn Công Trứ, 1778 – 1858)

Mà lang thanh thơ thẩn, mơ mộng viễn vông:

Chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm,
Gió trăng ơi, nay còn nhớ người chăng?
Hơn một lần chàng đã gửi cho trăng
Nỗi hiu quạnh của hồn buồn vô cớ.
(Huy Cận,; 1919 – 2005)

Trước kia nhớ bạn bè đồng hội, đồng sàng thì người ta:

… nhắn hỏi bác Châu Cầu,
Lụt lội năm nay bác ở đâu?
Mấy ổ lợn con rày lớn bé,
Vài gian nếp cái ngập nông sâu.
(Nguyễn Khuyến, 1835 – 1909)

Hay nhắc Lý Bạch, nhớ Đỗ Phủ …

Nay, cũng tâm trạng đó nhưng:

Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men.
Say thơ xa lạ mê tình bạn,
Khinh rẽ khuôn mòn bỏ lối quen.
(Xuân Diệu, 1916 – 1985)

Xưa, phẩn hận tình duyên bất như ý, người đàn bà thường than vãn trong vòng cương thường đạo lý:

Tay tạo hoá cớ sao mà độc?
Buộc người vào kim ốc mà chơi!
Chống tay ngồi gẫm sự đời,
Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm.
(Nguyễn Gia Thiều, 1741 – 1798)

Hay phóng khoáng lắm thì cũng chỉ nghiến răng:

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
Năm thì mười họa hay chăng chớ,
Một tháng đôi lần có cũng không.
(Hồ Xuân Hương?)

Nay (thời Thơ Mới), người đàn bà đường hoàng lên tiếng:

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi.
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng một người!
(T.T.KH.) (1)

Để tỏ nỗi nhớ nước nhớ quê, người xưa hạ bút:

Đoái trông muôn dặm tử phần,
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.
(Nguyễn Du, 1766 – 1820)

Người nay diễn đạt:

Lòng quê dờn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(Huy Cận, 1919 – 2005)

Và đến tâm hồn người đàn bà, cô con gái cũng bị làn gió Tây phương xâm nhập, mơn trớn. Người con gái không còn nguyện ước:

Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bỏ công trang điểm má hồng, răng đen.
(Ca dao)

Và sự biến chuyển nội tâm tổng quát đã được tác giả Tiếng Thu con nai vàng ngơ ngác (Thế Lữ) vạch rõ: “các cụ ta ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt …; các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi; cái tình trong giây lát, cái tình ngàn thu ».

Nói tóm lại, trào lưu tư tưởng Tây phương đã mãnh liệt khuấy động nội tâm (nếu không muốn nói là đã “lột xác “tâm hồn) người Việt đến biến thành Thơ Mới.

Chỉ bàn về nội dung trong phần nầy, không có nghĩa người viết lấy đó làm nặng nhẹ so với hình thức và niêm vận, mà người viết muốn dành hai phần chứng minh Thơ Mới và Thơ Tự Do không phải là hai đứa con song sinh. Bởi lẽ “thơ là tinh túy của nghệ thuật, mà nghệ thuật luôn luôn hướng về Chân, Thiện, Mỹ. Cho nên thơ có nội dung làm Chân, có niêm vận làm Thiện, có hình thức làm Mỹ “.

LĐ – Hàn Lệ Nhân
(Còn tiếp)

Chú thích:
(1) Năm 2001, nxb Văn Hóa Thông Tin có tái bản & phát hành cuốn T.T.KH. Nàng là Ai? (xb từ 1994) của tác giả Thế Nhật, trong đó tác giả cho biết; T.T.KH tên thật là; Vân Nương Trần Thị Vân Chung sinh 25-8-1919, hiện sống ở Sarlat-la-Canéda – Pháp, trang 40. Chú thích trong tinh thần thông tin với tất cả sự dè dặt.

 

Thảo luận cho bài: "Lược khảo Thơ Mới Và Thơ Tự Do"