Luỹ tre làng trong ký ức tuổi thơ.

Tác giả:

Đã là người Việt, dù ở đâu và làm gì, ai cũng mang trong mình một bóng tre của quê hương, xứ sở. Sau luỹ tre làng, đó là nơi hội ngộ buồn vui của cả một cộng đồng, của hàng bao thế hệ. … Tre thuỷ chung một mối tình vĩnh cửu với người. Tre lặng lẽ dâng hiến và hy sinh tất cả.

Tre gắn bó với cuộc sống của người dân quê 

trelangx

Tre gắn bó với người làng quê

Trong cuộc sống hàng ngày, gần như trăm thứ tre đều “có mặt”. Từ cái nhỏ nhất là que tăm, đôi đũa, cái chổi tre đến cán dao, rựa, cuốc, gầu tát nước, cho đến ngôi nhà tranh tre, chiếc chõng tre trưa hè…

Cùng với mái đình, cây đa, bến nước, con đò… luỹ tre xanh quanh làng đã trở thành hình ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ Bắc bộ. Đó là những hình ảnh tiêu biểu, thân thuộc ở mỗi làng quê Việt Nam. Nói tới làng mà không nhắc đến hình ảnh lũy tre thì thật là thiếu xót.

Làng tôi xanh bóng tre từng tiếng chuông ban chiều.

Tiếng chuông nhà thờ rung”.

(Văn Cao)

Luỹ tre xanh ấy, gắn bó với người làng quê trong thanh bình. Khi đất nước có chiến tranh, luỹ tre đã trở thành những “pháo đài xanh” chống xâm lược, chống đồng hoá. Trong hành trình dâng hiến của mình, tre dâng tặng con người âm thanh từ máu thịt của nó. Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà.

“… Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc…”

(Nguyễn Khoa Điềm)

Tre đã trở thành chiến luỹ cho các cuộc chiến tranh nhân dân lâu dài và anh dũng của dân tộc. Tre là bạn của ta, tre vì ta mà đánh giặc. Vẫn là cây tre ấy với sức mạnh của Thánh Gióng, nhổ cả bụi tre ngà đánh đuổi giặc Ân cứu nước đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược.

Sâu lắng trong ký ức tuổi thơ

Tuổi thơ tôi có nhiều kỷ niệm sâu lắng về lũy tre làng. Đi xa, mỗi lần về thăm quê, nhìn thấy lũy tre làng lại thấy lòng bồn chồn, rạo rực. Những thảm xanh vươn lên trời mây, sừng sững, bề thế, vững chãi và rất gần gũi.

Cho tới bây giờ tôi vẫn nhớ như in hình ảnh hai bà cháu nằm trên chõng tre đặt dưới lùm tre, kĩu kịt buổi trưa hè. Gió từ đồng xa thổi về mát lộng. Tiếng gió xạc xào trên lũy tre cứ đi dần vào giấc ngủ, êm đềm như lời ru.

Chộn rộn nhất là thời khắc hoàng hôn buông xuống, khi những áng mây chiều chuyển màu vàng đậm hoặc hồng tươi, sắc tím hoàng hôn như từ lũy tre làng ùa ra, hòa vào ngọn gió cũng là lúc những đàn cò trắng bay về tổ. Tôi thích ngắm những đàn cò trắng bay về lũy tre làng, dưới mặt đất khói lam chiều, cơm nhà ai đang thổi, ấm áp làm sao!

Tôi cũng không thể nào quên được những mầm măng tre vừa nhú lên khỏi mặt đất sau mưa. Những búp măng nhọn hoắt, đầu xanh, bẹ vàng, thân trắng, như ẩn chứa những sức mạnh thần kỳ, sức vươn mạnh mẽ.


Mà sao nên lũy nên thành tre ơi
Thân gầy guộc lá mong manh

Có manh áo cộc tre nhường cho măng

Măng non là búp măng non

Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre…”

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

Không như hầu hết các loại cây chỉ đứng riêng lẻ một mình, tre luôn mọc thành bụi, gốc liền gốc, rễ đan rễ, thể hiện tính quần tụ, kết đoàn, tạo thành sức mạnh khó lay chuyển. Lũy tre làng cứ theo năm tháng to lớn dần, nối dài, bề thế vòm xanh, trong lành ngọn gió, chở che bão giông cho cả làng.

Da diết nỗi nhớ luỹ tre làng

Đã là người Việt, dù ở đâu và làm gì, ai cũng mang trong mình một bóng tre của quê hương, xứ sở. Sau luỹ tre làng, đó là nơi hội ngộ buồn vui của cả một cộng đồng, của hàng bao thế hệ. … Tre thuỷ chung một mối tình vĩnh cửu với người. Tre lặng lẽ dâng hiến và hy sinh tất cả.

Thế nhưng, giờ đây, mỗi lần về quê tôi cứ thấy thiếu vắng một cái gì đó. Trong nỗi nhớ da diết thời thơ ấu có nỗi nhớ lũy tre làng.

Lũy tre tự bao đời bao bọc, chở che cho làng tôi giờ đây chỉ còn trong ký ức. Lớp trẻ sau này ở quê tôi lớn lên chắc không thể nào hình dung ra lũy tre làng. Về quê bây giờ từ phía xa nhìn không còn thấy lũy tre bề thế vòm xanh nữa. Người ta chặt tre để có đất thay đổi cây trồng, làm ao nuôi thủy sản, phát triển kinh tế gia đình. Người ta chặt tre, lấp cát, đắp nền bán đất. Làng tôi nay đã dần dần đô thị hóa. Người ta chặt hết các bụi tre để xây dựng nhà mới. Thay vào nhà ngói năm gian khiêm tốn dưới lũy tre là những nhà cao tầng, nhà mái bằng đổ tấm bê tông. Lũy tre làng thân thương và gắn bó, nay còn đâu?…
lang tre

Trong tiềm thức, tre trúc được xem như biểu tượng khí phách của người quân tử, cho tinh thần bất khuất và sức sống mãnh liệt của người Việt. Cứng mà mềm mại, đổ mà không gãy, biểu trưng cho tinh thần và khí độ an thiên tự tại. Tre, trúc hiển lộ tính cách của một dân tộc có tiết tháo, phẩm hạnh và kiêu hùng, ngoan cường nhưng hiếu hoà, độ lượng. Tre trúc đi vào đời sống tâm linh như một nét văn hoá. Bâng khuâng thả hồn nghĩ đến lời người xưa “Bất biến tuỳ duyên, tuỳ duyên bất biến”, tâm của con người không thay đổi, nhưng để thực hiện bất cứ một việc gì cũng phải tuỳ theo thời cơ mà ứng biến. Như cây tre uốn theo chiều gió để không đổ ngã. Sau cơn bão táp, cây tre luôn luôn trở lại với tư thế và bản chất “thanh tâm quân tử” của mình. Con người ta cũng vậy. Nhân phẩm của mình không hề biến đổi, hành động phải thuận theo thời thế, nắm bắt cơ hội, nhưng bản chất trong sáng không hề đổi thay.

Tre không sang trọng mà dân dã. Hình ảnh luỹ tre làng gắn với ký ức của nhiều thế hệ. Nhưng người con xa xứ trở về chắc hẳn khó quên tiếng võng tre kẽo kẹt, tiếng gió tre xào xạc, lẫn trong lời mẹ ru khắc khoải trưa hè. Cây tre, cây trúc từ lâu đã gắn liền với hình ảnh con người Việt Nam chịu thương chịu khó.Từ những câu hát, câu thơ như xâu chuỗi tâm hồn dân tộc. Nhạc của trúc của tre là khúc nhạc đồng quê, của những buổi chiều thu gió lộng, xao xuyến bâng khuâng man mác một cuộc sống thanh bình.

– See more at: http://vanhoa.gov.vn/articledetail.aspx?articleid=6661&sitepageid=423#sthash.lT04xxwS.dpuf

Thảo luận cho bài: "Luỹ tre làng trong ký ức tuổi thơ."