Má Đào

Tác giả:

Vào đầu thế kỷ, khi việc hôn nhân của con cái thường do cha mẹ sắp đặt, thì cô Dịu đã biết yêu, biết sống và hy sinh cho sự lựa chọn của mình. Qua hai đời chồng không giấy hôn thú, tự mình nuôi những đứa con khôn lớn, về già, cô lại cô đơn. Nhưng cô là người đàn bà biết chủ động đón nhận cả niềm hạnh phúc, nỗi đau một cách bình thản. 


Trong số họ hàng bên ngoại tôi yêu nhất cô Dịu. Ông ngoại tôi và cụ thân sinh ra cô là anh em ruột. Mẹ tôi và cô Dịu thân nhau từ thời con gái cho mãi tới năm mẹ tôi mất, một tình bạn kéo dài non nửa thế kỷ. Vì họ có cùng một cảnh ngộ. " Cô Dịu tiếng thế mà cũng khổ như tao" , ấy là niềm an ủi lớn nhất của mẹ tôi, vì bà thua kém cô em họ về đủ mọi phương diện. Cô tôi rất đẹp, là cái nhan sắc lộng lẫy của thời bây giờ nên hơi lạ trong những năm đầu thế kỷ. Những người con gái đẹp của thời ấy mặt phải tròn, mắt phải dài, răng đen hạt na, lông mày kẻ nhỏ. Và phải có da có thịt. Lại phải đi đứng khoan thai, nói cười ý tứ, có tướng bà, lợi chồng lợi con. Cái đẹp của cô Dịu hoàn toàn khác hẳn. Cô đẹp như đầm lai. Mắt hơi sâu với hàng mi dài, mũi cao, miệng nhỏ. Cô lại để răng trắng và búi tóc chứ không vấn khăn. Mái tóc của cô rất dài, mềm mướt như tơ chuốt và quăn tự nhiên như người uốn. Mẹ tôi bảo, đàn bà có mái tóc quăn là vất vả lắm, nằm trên tiền vẫn cứ vất vả. Tất nhiên là vất vả về đường chồng con. Cô Dịu không chỉ có sắc mà còn có tài. Tài nấu ăn và may vá thì khỏi nói nhưng còn có tài kiếm ra tiền bằng nghề nặn con giống và làm hoa giấy. Mỗi dịp Tết Trung thu cô lại từ Hưng Yên lên Hà Nội mang theo những bồ đựng con giống và hoa giấy bán cho các cửa hàng quen ở Hà Nội. Mãi về sau này khi cô đã già cô vẫn làm hoa giấy, cánh lá mầu sắc phải sờ tay mới biết là giả, bán cho các cơ quan trong tỉnh đã đặt trước. Còn thêm một nghề phụ nữa, là bán thuốc viên chữa các bệnh đường ruột, thuốc gia truyền, vì ông chú tôi có cửa hiệu bán thuốc bắc ở thị xã. Con gái tỉnh lẻ nhưng mỗi lần lên Hà Nội cô ăn mặc rực rỡ như bà hoàng: quần áo đồng mầu, phấn son của Pháp và đeo nhiều đồ nữ trang kiểu dáng rất lạ, nhưng cô lại bảo, đồ giả cả, là vàng mỹ ký cả, nhưng nhìn qua thì không thể biết. Mỗi lần cô Dịu lên Hà Nội đưa hàng, tối nào cả mấy mẹ con tôi cũng phải thức quá nửa đêm để nghe cô kể chuyện. Cô kể chuyện rất có duyên và chuyện của cô bao giờ cũng buồn cười. Cười đến tắc thở. ở thị xã Hưng Yên ngày ấy có bốn anh nhà giàu, gọi là tứ kiệt: Tín Mỹ, Sùng Long, Ðức Phong, Ðức Hợp. Một nhà bán thuốc Bắc, hai nhà bán tạp hóa và một nhà sửa đồng hồ. Cửa hàng vặt, hàng lề đường ở Hà Nội, vốn liếng vài ngàn bạc mà cũng thành nhân vật tai mắt của thị xã. Và còn ngũ hung nữa: Phán Tường, Phán Thịnh, Nghị Ðịnh, Ðình Ban, Lãnh Sáu. Phán Tường mở sòng bạc. Phán Thịnh làm ở dinh quan tuần, chuyên ăn của đút, lại có môn bài mở ty rượu và bán thuốc phiện, có treo bảng RA và RO. Nghị Ðịnh là nghị viên hàng tỉnh, có cổ phần ở sòng bạc, bạn làm ăn với cẩm Aréttô, sòng bạc có cẩm tây đỡ đầu là an toàn nhất. Ðình Ban là bác sĩ, các con bệnh sẵn sàng chịu mất nhiều tiền để được cái danh đã đến phòng khám của đốc tờ Ban. Và Lãnh Sáu vừa là lãnh binh vừa làm mật thám. Một thị xã bé bằng cái bàn tay có những chín hung tinh nhưng chỉ có một Hằng Nga là cô Dịu nên cô quen biết cả chín gia đình và đều được họ chiều chuộng. Một bàn tiệc, dầu là bàn tiệc còm ở tỉnh lẻ cũng rất cần có một người đẹp cùng ngồi. Hơn nữa lại là một người đẹp biết nói chuyện, biết gây cười. Nhưng bà ngoại tôi, tức là bác dâu của cô Dịu, thì có ý chê. Mẹ tôi cười thì cười nhưng cũng không thích lắm. Cách sống của cô hình như đã vượt khỏi khuôn khổ một gia đình nho giáo. Con gái ngày ấy không được ra đường một mình, đi đâu phải có bố mẹ hay anh chị đi kèm. Nhà có cửa hàng, người con gái chỉ được phép trả lời những câu khách hỏi về thứ hàng họ muốn mua. Không được nói thêm, không được nói nhiều, và nhất là không được cười với cái nhìn lúng liếng. Có một lần cô kể một câu chuyện vui có cả bà ngoại tôi cùng ngồi nghe. ở thị xã có một địa điểm đẹp và rất nổi tiếng, đó là hồ bán nguyệt. Một bên hồ là con đê nhìn ra sông Hồng, còn một bên là đền Mẫu, đền thờ đức Thánh Trần. Một con đường chạy giữa rợp bóng cây và rất vắng lặng, nghe rõ tiếng lá cọ trên mặt đường vào mùa đông và tiếng ve kêu inh ỏi vào những ngày hè. Mới đây, cô Dịu kể, thị xã xây một cái cầu bắc qua một góc hồ, từ dinh quan tuần đến cổng sau dinh quan công sứ, nghe nói để bà tuần còn trẻ và đẹp tiện sang thăm người có quyền nhất trong một tỉnh. Ông công sứ tên là Vanhtrơbe, góa vợ, lại nghiện, trước làm công sứ ở Bắc Ninh thì ông Lê… là án sát Bắc Ninh. Về sau ông công sứ được đổi về Hưng Yên liền kéo theo ông quan Nam triều, bạn nối khố, cùng về một tỉnh. Người Pháp rất quý những ông quan ta biết làm việc, nhưng dân chúng lại tán là bà tuần gần như là vợ không chính thức của quan công sứ. Tất nhiên là chồng phải biết. Biết thì biết nhưng người vợ làm thế cũng là vì công việc của chồng, không tính công thì thôi chứ kể tội thì oan. Bà tôi bảo ngay: " Chuyện trai gái nghe đâu bỏ đó, đừng có nói lại. Mình là con gái phải biết giữ ý" . Cô tôi quay mặt về phía mẹ tôi, thè lưỡi ra rồi lảng sang chuyện khác. 

Cô Dịu là người đẹp của một thị xã nhỏ, lại là con nhà tử tế nên những gia đình có con trai lớn từ lâu đã có ý ngấp nghé. Chỉ ngấp nghé chứ chưa dám chính thức ngỏ lời. Vì cô Dịu đẹp quá, tài hoa quá, lại sắc sảo nữa. Nên họ sợ. Xưa kia các cụ chọn vợ cho con trai thường lấy cái đức làm đầu, sau mới đến tài sắc. Thích Thúy Vân hơn Thúy Kiều. Người đàn bà đẹp từ cổ chí kim thường hay gây họa, cho chồng và cho gia đình nhà chồng. Cô Dịu đã hăm mốt hăm hai tuổi vẫn chưa có nhà nào nhờ mối tới đánh tiếng chính thức. Còn cô, cô cũng có cách chọn người tình của riêng mình. Năm ấy, tức là những năm 30, những cô gái tân tiến đã biết ghét những chàng công tử bột, những thư sinh mặt trắng, những con ông cháu cha. Các cô mơ mộng những chàng trai có học nhưng từng trải và có gương mặt phong trần. Lại có nụ cười buồn và biết nói bóng gió, úp mở về non sông, về nòi giống. Là người có lý tưởng, lý tưởng gì thì các cô không biết, đại khái là có ấp ủ một cái gì cao hơn, xa hơn cuộc đời anh viên chức sáng vác ô đi tối vác về. Cô Dịu đã chọn được người tình trong mộng năm cô 23 tuổi. Ông này là thông phán tòa sứ, bạn của anh ruột, đã có vợ và một con đang sống ở Hà Nội, chưa tới 30 tuổi. Khi mẹ tôi hỏi vì sao cô lại chọn yêu một người đàn ông đã có vợ, cô trả lời với lối nghĩ hài hước vốn có: " Chị ơi, cỗ lớn đâu đến phần mình, đành phải ăn thừa thôi" . Thời ấy, con gái chỉ thư từ cho trai nếu người ngoài biết chuyện cũng đã tai tiếng lắm, bố mẹ đã khó nhìn thẳng mặt người hàng phố. Huống chi cô tôi lại có mang với người tình và cùng người tình trốn về Hà Nội để sinh con. Cô có vốn liếng riêng, lại có nghề làm hoa giấy và con giống nên sống tự lập được, không gặp khó khăn gì nhiều. Nhưng còn dư luận thì sao? Cô là con mồi mong đợi những cái mồm rỗi chuyện ở tỉnh lẻ muốn cắn xé từ lâu rồi. Vì cô đẹp hơn họ, thông minh hơn họ và lại hay đem họ ra làm trò cười nay gặp hoạn nạn đời nào họ tha. Tha hồ mà bịa đặt. Và sự bịa đặt dầu vô lý đến đâu cũng vẫn có lý. Vì con người ấy là rất đáng ghét. Nó rất đáng ghét vì nó dám coi thường những điều cấm kị mà trong thâm tâm họ cũng muốn phá. Họ không dám làm chỉ vì họ nhát mà thôi. Cái táo bạo của kẻ khác khiến họ thèm muốn và vì thế mà kẻ kia lại càng đáng giận, càng đáng ghét. Mặc dầu cô Dịu sống ở Hà Nội nhưng phải một năm sau cô mới tới thăm mẹ tôi. Cô mập ra và đẹp rực rỡ. Trời đã cuối thu nên cô mặc áo nhung tím, đi hài cũng bằng nhung tím, cổ tay đeo cái vòng chạm, nơi cổ quấn hai vòng hạt trai nhỏ. Cô vừa cười vừa bảo, hạt trai là giả nhưng vòng vàng là thật. Cô khoe đã sinh con trai, nặng 3 ký. Cô làm hoa giấy và thêu khăn chầu áo ngự nên rất có tiền. Vẫn đẹp như xưa, vui như xưa và cô kể lại những chuyện người ta đồn đại về cô ở tỉnh nhà như chuyện của một người đàn bà bất hạnh nào khác. Chả buồn một tí nào. Vì cô đã được sống theo sự lựa chọn của chính mình. Chứ không sống theo sự lựa chọn của bố mẹ hay của người hàng phố.


Cô Dịu sống trong hạnh phúc của mối tình đầu được hai năm thì phải chia tay với người tình. Không phải cái dư luận độc ác đã làm cô nản chí mà, tội nghiệp thay, lại do chính người đàn ông cô yêu đã tỏ ra quá mệt mỏi, quá nhút nhát khi phải đa mang một mối tình thêm và một đứa con thêm. Nghĩ là tượng đá chẳng dè là bột nặn, gặp mưa gió lập tức biến đổi hình thù, biến đổi từng ngày khiến cô không muốn chứng kiến cái sự rữa ra của đống bột thiu. Cô chia tay với ông chồng hờ rất nhẹ nhõm, rất dịu dàng, không đòi hỏi gì, không trách móc gì. Anh đã mệt quá thì anh nên nghỉ, còn tôi, tôi vẫn đủ sức nuôi tôi và nuôi con cho tới ngày nó khôn lớn. Khi trò chuyện với mẹ tôi về sự chia tay của hai người, cô không hối tiếc một chút nào. Cô đã dám yêu, đã được yêu và có con với người mình yêu. Thế là quá đủ! Tất nhiên là mẹ tôi không thể hiểu được lý lẽ của cô. Vì cụ chưa bao giờ được biết mùi vị của tình yêu. Mẹ tôi có hai đời chồng nhưng cả hai lần đều do bà ngoại và bác trai tôi quyết định. Là con gái thời phải đi lấy chồng. Lấy lần đầu không thành, tuổi còn trẻ, thì lấy lần thứ hai. Gia đình bảo thế, phố phường nói thế, xưa nay là thế, thì làm theo thế. Khi đứa con trai cô Dịu đã lên năm, cô mới đi bước nữa. Năm ấy cô mới 28 tuổi. Vẫn rất đẹp, cái đẹp mặn mà, ấm áp của một người đẹp đã có một đứa con. Ông này góa vợ, có ba con riêng tuổi xấp xỉ với tôi, là nhà kinh doanh có tên tuổi và cũng là tay ăn chơi khét tiếng của đất kinh thành. Ông giống một chàng Từ Hải tân thời còn cô Dịu như nàng Kiều muốn nương mình nơi bóng cả. Một ông Từ Hải tiêu tiền như nước, nói năng huênh hoang, táo tợn. Nhưng Từ Hải không đánh nàng Kiều còn chú tôi lại hay đánh vợ. Vì ông vẫn không bỏ được cái tật trai gái. Mà cô tôi thì cả ghen. Có lần hai mẹ con tôi lại thăm cô, cô từ trong màn bước ra, hai mắt và một bên má tím bầm vì đòn chồng. Mẹ tôi thì khóc nhưng cô vẫn cười nói như không. Cả hai người đàn ông đều do cô tự chọn, có nhờ người khác chọn hộ đâu mà than vãn. 

Nhiều năm về sau mỗi lần nói về cô mẹ tôi lại thở ngắn than dài. Rằng cô tài sắc hơn người, lấy những hai đời chồng mà không một lần được mặc áo cưới, được ngồi xe cưới, họ hàng cũng không được ăn miếng trầu mừng. Toàn lấy theo thôi. Mà cả hai người đàn ông nào có ra gì. Chỉ được cái mẽ ngoài. Ông trước là bột nặn, ông sau là giấy bồi. Vỏ cả. Một ông thì sợ sự đàm tiếu của thiên hạ mà phải bỏ người mình yêu. Một ông thì đúc ra một loạt con rồi để các con cho vợ nuôi, vợ dậy còn ông thì đi công tác, lúc ở Bộ, lúc ở tỉnh, quen đủ mọi cấp, bàn đủ mọi chuyện nhưng thực ra ông đang làm việc gì thì đến vợ cũng không thể biết.. 

Năm 50, tôi từ khu Ba vào Thanh Hóa thăm cô Dịu và các em ở thị trấn Hậu Hiền. Cô không già đi bao nhiêu, vẫn vui vẻ, duyên dáng như ngày còn trẻ. Cô nuôi các con bằng nghề làm thuốc viên chữa các bệnh đường ruột. Nhiều người bệnh viện đã bỏ về uống thuốc của cô lại khỏi. Thuốc gia truyền mà. Rồi thêu cờ thi đua và làm hoa thi đua cho cả tỉnh. Rồi dạy bình dân học vụ và hoạt động văn nghệ ở xã. Là một người quen thuộc ở thị trấn, bà lang Dịu, cô giáo Dịu, bà Dịu văn nghệ, bà Dịu thêu, ai cũng biết. Tôi hỏi thăm chú tôi, cô nói, chú vẫn đi công tác, lâu lâu tạt về thăm vợ con một lần, ở lại nhà khoảng mươi ngày để vợ con hầu hạ, nuôi nấng, vá quần áo cũ, may thêm bộ mới và lúc đi lại cầm theo một gói tiền. Cô nói: " Chú anh vẫn thế, ông ấy chả chịu khổ một ngày nào" . Ðàn ông lắm người cũng tốt số nhỉ? 

Cô tôi hiện vẫn còn khỏe, mặc dầu đã sang tuổi 79. Nếu mẹ tôi còn sống thì cụ đã ở tuổi 91. Chị em hơn kém nhau một giáp. Chị ở Mão trên, em ở Mão dưới. Ðàn bà tuổi Mão thường vất vả về đường chồng con. Nếu lấy chồng sớm không mấy ai thoát khỏi qua hai lần đò. Nhưng cô Dịu không bao giờ tự xem là người đàn bà bất hạnh. Cô đã lấy những người đàn ông cô yêu, tự nguyện hy sinh vì họ, dầu họ chỉ là những người chồng tầm thường, có nhiều khuyết tật. Năm 70, chú tôi mất, con cháu đông đủ, đám ma rất to vì chú tôi là ủy viên mặt trận của thị xã. Cô lên Hà Nội ở với con trai là giáo viên trường nghệ thuật sân khấu trong một căn hộ tập thể. Con trai chưa vợ nên người mẹ phải làm mọi việc tạp vặt của một gia đình. Cô vẫn làm thuốc gia truyền và làm hoa giấy, bán cũng có, cho cũng có, làm cho vui, làm cho có bạn. Cô tôi luôn luôn có nhiều bạn đủ mọi lứa tuổi và họ đều mê say được nghe cô nói chuyện. Ðủ thứ chuyện, chuyện thời xưa, chuyện bây giờ, toàn chuyện vui thôi, chuyện để cười thôi. Cô không chỉ nói chuyện cho vui mà còn dạy nữa. Dạy các cô giáo, các bà chủ gia đình cách nấu một bữa cỗ, may thêu quần áo, cả cách ăn ở với mẹ chồng, với họ hàng nhà chồng và với chồng. Cách xử sự của cô là: không đòi hỏi gì ở người đàn ông cả, mình cứ làm hết bổn phận. Nếu là người biết nghĩ thì họ sẽ tự sửa đổi, do họ muốn sửa đổi chứ không phải do người đàn bà đã buộc họ phải sửa đổi. Ðàn ông họ sợ nhất sự bắt buộc. Với những ông chồng có tính phóng đãng, cô khuyên các bà vợ, nếu muốn buộc chân họ thì nên dùng dây dài chớ dùng dây ngắn mà hỏng. Cô lại nói, tốt nhất là đừng buộc gì cả, cho họ tự do hoàn toàn, còn mình phải tạo ra một gia đình thật ấm áp, là nơi trú ngụ tin cậy nhất của các ông chồng sau mọi thất bại. Về nhà là về với sự yên tĩnh, sự thoải mái, để lấy lại những thứ mà họ đã đánh mất ở nơi này hay nơi kia. Cô khuyên người những điều mà cô đã một đời làm theo, còn kết quả ra sao thì không dám chắc. Với cô thì hết sức buồn. Chồng buồn đằng chồng, con buồn đằng con. Năm người con của hai đời chồng đều là những người tử tế, hiền lành nhưng vất vả. Vì họ quá vất vả nên họ không có thì giờ và tiền bạc để quan tâm tới mẹ. Họ chỉ nghĩ tới mẹ khi họ cần có bà ở cạnh để dựa cậy. Một con trai bị lao phổi phải nằm bệnh viện, vợ lại bỏ, không có người hầu hạ liền nghĩ đến mẹ. Một con trai khác lúi húi làm giàu quên mất mẹ, tới lúc bị ung thư gan nằm chờ chết bỗng thấy sợ hãi đủ mọi thứ mới gọi mẹ tới. Con gái bỏ chồng chưa biết đi đâu về đâu làm gì lại kêu cứu mẹ. Và mỗi lần con cái gọi là người mẹ lập tức lao đến. Sự có mặt của bà có làm chúng dễ thở hơn thật, bình tâm hơn thật. Phép lạ của bà rất đơn giản: không một ai tránh được những tai họa này nọ ở đời. Nhưng cách nhận nó như thế nào lại thuộc quyền của mình. Nhận nó bằng nụ cười vẫn dễ chịu hơn, nhẹ nhõm hơn là tiếng rên la. 

Cách đây hai năm khi cô tôi đã 77 tuổi, bất đồ bà bị ném từ trên võng mắc cao xuống nền nhà vì dây cột võng bị tuột. Trai tráng bị cái ném ấy cũng ê ẩm người huống hồ một bà già. Rất có thể bà cụ sẽ bị liệt cho đến chết. Tôi đến thăm cô, bà nằm trên giường mặt mũi lợt lạt nhưng vẫn móm mém cười, bảo tôi: 

– Từ trẻ đến già chả có cái khổ nào mà tôi không được nếm qua. Ðã nghĩ ông Trời tha cho lúc tuổi già, nào ngờ Ông vẫn nhớ. 

Nói xong lại cười, cười lào phào. Cái khổ lúc còn con gái, lúc đi lấy chồng, lúc có con cái. Mỗi đoạn đời có bao nhiêu cái khổ cô tôi đều có cái phần của mình cả. Ðã mừng lúc tuổi già cô tôi vẫn khỏe mạnh, tỉnh táo cũng là có sự đền bù. Nào ngờ cái số đã khổ thì mọi tuổi mọi khổ, không thoát được. Mươi ngày sau tôi lại thăm thì bà đã vịn giường vịn ghế ngồi được vào bàn ăn cháo. Bà bảo: " Tuổi già không để con cái phải hầu những việc bẩn thỉu là phúc to rồi. Tôi không dám mong khỏe được như ngày xưa" . Một tháng sau bà đã đi lại không phải chống gậy, rồi lại đi chợ, rồi bảo con đèo sang nhà tôi chơi. Lại trò chuyện, cười đùa với các cháu, và dự tính giáp Tết sẽ ra Hà Nội ăn lại một cái Tết ngoài bắc dối già. Như chả có chuyện gì đã xẩy ra cả. Nghe vợ tôi nhăn nhó than thở về những bệnh tật có thật và tưởng tượng, cô tôi vừa cười vừa bảo: 

– Ai mà chả phải chết, đừng có chết vặt bằng những lo lắng lẩm cẩm mà thiệt. 

Vợ chồng tôi cũng phải phì cười. Cái cười không mất tiền mua mà sao con người ta lại khắt khe với mình đến thế! 

(Hết)

 

Thảo luận cho bài: "Má Đào"