Mở Làng

Tác giả:

Những tưởng làng Xa Đôi này không bao giờ khấm khá lên được thế mà năm nay được mùa to, tiếng cười nói ra rả khắp đầu làng cuối xóm. Cánh đồng còn ghệp ghề mà lúa trổ vàng ươm, từng xe cải tiến kĩu kịt kéo lúa về sân nhà. Thế mới hả lòng hả dạ vất vả bấy lâu nay, đúng là trời không phụ lòng người. Bụng no thì tính tình cũng khác, ai cũng cười nói rộn ràng, hỏi chuyện gần xa chứ không còn cái thuở gặp ai mặt cũng đăm đăm méo xệch méo xoạc vì đói. Được như ngày hôm nay mới thấm cái thuở hàn vi, hơn một năm trước chứ đâu xa. Đó cũng là cái ngày lập làng khi bà con tứ xứ kéo về đây, thôi thì khắp mọi nơi, rừng có, biển có, đồng bằng cũng có. Từng đoàn từng đoàn người gần như tay trắng tụ lại cái đất này, chung trí định cư lâu dài, làng như thế là lập ra. Ngày đó là đất hoang, rồi thì nhà cửa, ruộng đồng cứ thế mà theo tay người sinh ra. Nhưng đời sống vẫn còn khó khăn lắm, ruộng thì cằn, trâu bò chỉ có một hai con kéo thuê cho cả làng, ai nấy đều làm cật lực mà gạo vẫn không đủ ăn, phải độn thêm sắn thêm khoai. 

Ấy thế mà mới hơn được một năm bây giờ mọi thứ đã tươm tất, đúng là giỏi, giỏi thật, không có bột mà gột được nên hồ. Được mùa to nhất phải nói đến ông Duân, nhà bây giờ có cả trâu cày, lại sửa nhà chính thêm nhà ngang to ngật ngưỡng nên cũng chả trách ông là người vênh váo nhất làng. Thật ra ông hả hê đến thế không phải chỉ vì ông có của, ông hơn cái ngày đói ăn. Nói là đói chứ thật ra ngày đấy có ai tự nhận mình là đói đâu. Hay thế đấy, dù trong nhà không còn hạt gạo nhưng ra đường thì ông Duân luôn ung dung, nhàn hạ như thể vừa đánh chén xong một bữa no nê. Con gà tức nhau tiếng gáy là thế, đói thì chịu được chứ thằng nào bảo mình đói thì không thể chịu nổi. Nên không phải cái chuyện đói no mà ông kể ra, mà ông muốn nói cái khác cơ, cái này liên quan đến cả làng, chuyện thế này:

Ba tháng kể từ ngày về làng, khi mỗi nhà cũng dựng tạm được cái nhà, ít thì cũng là cái lều để ở, người ta đã nghĩ ngay đến việc xây một ngôi đền làng thờ thần linh phù hộ. Khi trai tráng đào đất đóng cột thì đụng phải một tảng đá to, lật mặt dưới lên thấy khắc chữ: "Mạch nước thiêng – núi Đôi lấp – hoá kim cương". Dân làng xôn xao bàn tán: "Đây là đất thiêng, núi thì chỉ có một ngọn phía sau làng, đúng là núi Đôi rồi. Trong đó có kim cương, thật không, dân làng ta gặp đại phúc rồi". Khi đó ông Duân không hề tin, ông bảo: "Bà con lạ thật, sao lại tin những chuyện hão huyền như vậy. Cái cần làm bây giờ là nhà, là ruộng, là gạo mà ăn chứ không phải kim cương. Không có kim cưong thì chẳng chết ai, chứ không có gạo xem. Mà làm gì có kim cương, từ ngàn năm nay có ai thấy kim cương bao giờ đâu. Tôi đi xa tôi biết, đó là cái thứ của Tây, chỉ bên Tây mới có, đừng có mơ mộng hão huyền. Lo mà làm mà ăn đi không đến lúc đói dã họng ra thì lại kêu". Người ta bắt đầu quên đi chuyện này mà quay lại tu chí làm ăn, nhưng cũng được cái tên núi, rồi sinh luôn ra cái tên làng bằng cách thêm vào chữ Xa thành Xa Đôi, đúng là xa thật. 

Thế rồi mọi người hối hả vào vụ, ai cũng lo đói ăn nên ra sức mở rộng đất đai, đắp bờ ngăn ruộng, trồng màu nuôi lợn, vụ đầu tiên lúa chưa nhiều nhưng cũng tạm đủ. Dù gì thì mọi thứ cũng vẫn mới mẻ, làng mới lập ra cơ mà, nên có bữa cơm độn khoai thì cũng là chuyện thường tình. Nhưng cái tai ác là chuyện kim cương kia cơ. Cố dìm nó xuống thì nó lắng xuống, nhưng đến lúc nông nhàn thì đã có người xì xào to nhỏ. Quả thật cái gì càng lạ thì người ta càng tò mò muốn biết, tính người là vậy. Thế rồi dù cho ông Duân có kêu gào khản cổ vẫn có ba nhà quyết chí dọn ra sau núi để đào kim cương. Dân làng đa phần không thích, họ cũng nói ra nói vào chán chê nhưng được mấy tháng rồi cũng thôi, thân ai nấy lo. "Cứ đi mà đào xem có được gì không, rượu mời không uống lại thích uống rượu phạt". Đến hết vụ thứ hai rồi chưa thấy ai đào thấy cái gì. Nhà cửa ruộng đồng không còn sức chăm lo nên lại sa vào cái cảnh đói trệu trạo. Có người bảo: "Rõ khổ, tự nhiên lại mang hoạ vào thân. Cá không ăn muối cá ươn". 

Vụ sau khá hơn vụ đầu, mưa thuận gió hoà mà người cũng đã quen thổ quen sông nên thóc gạo đầy bồ. Khi mà nhà nhà đang hưởng cái chút no ấm đầu tiên thì tin sét đánh đổ về. Trẻ con chạy ầm khắp xóm gào la khản giọng: "Đào được kim cương rồi, tìm thấy kim cương rồi. Anh Thó đạo được mới giỏi!". Chưa bao giờ cả làng nhao nhác thế này. Khi mà mọi người còn đang hoang mang không biết sự tình ra sao, nhân lúc cả làng đang tụ tập giữa đình, ông Duân ôn tồn khuyên giải: "Đấy là chẳng may thôi, đời thường lắm chuyện tình cờ. Tôi đã bảo là may là có lý của nó, thằng Thó thì ai mà chả biết nó thế nào. Tính nó lười như hủi, có làm được cái gì bao giờ. Người thì oặt ẹo sống giở chết giở, sức nó mà đào được một mét thì tôi có mà đi đầu xuống đất. Trong khi đấy thì thằng Sung thằng Lực sức khoẻ như trâu, tính tình lại cần cù chịu khó, chúng nó đào quần quật mà có thấy cái gì đâu. Bà con đừng có mà theo rồi có lúc thân tàn ma dại". Thấy mọi người có vẻ gật gù, ông lại tiếp: "Mà đấy là đá trời rơi xuống chứ làm gì có chuyện ở dưới đất lên, đừng tin vào cải tảng đá quái gở kia. Nếu mà đúng thì kẻ nào khắc lên đó thì nó đã tự đi đào hết rồi, tôi nói có đúng không nào. Mà đã là đá trời thì đi đào cũng thế, không đi đào cũng vậy, nó rơi lúc nào ai mà biết". Đến lúc này thì ai cũng tin ông Duân, đúng là đi nhiều học rộng có khác. 

Thế nhưng cái vòng mê hoặc vẫn chưa buông tha làng Xa Đôi, nơi người dân đa phần thật thà chất phác, hiền lành như thửa đất khô. Sau cái ngày động trời, cứ đôi ba tháng lại có người khăn gói bỏ nhà lên núi tìm cơ may. Còn anh Thó thì khỏi nói, ở cái vị trí mà người ta bảo là có thể cười vào mũi thiên hạ. Chỉ riêng cái việc ngồi nhà ngắm viên kim cương đã đủ thoả mãn lắm rồi. Mặc cho người đời dè bỉu lườm nguýt, hay ông Duân dẫn hàng tiểu đội trẻ con đi thuyết giáo. "Ừ đấy, cứ đi mà nói. Cơm ư, gạo ư, rượu ư, quần áo đẹp ư, những cái đấy mà đòi so với kim cương à, ngu đến thế không biết. Cứ ngồi nhà mà không biết mở rộng tầm mắt ra thì chỉ đến thế thôi, bảo không cần à, có thể đấy vì các người đã bao giờ được chạm vào nó đâu. Thử xem có mà không bán nhà bán cửa đi tìm à". – Thó nghĩ bụng mà cười mãn nguyện. Anh ta chẳng hay khoe bởi biết làm thể chỉ tổ nhiều người ghen ghét rồi dóm ngó đánh trộm không chừng. Nhưng rồi người đời đâu phải cù lần hết, bao anh lẳng lặng bỏ nhà bỏ cửa quyết chí đi tìm. Họ bảo nhau: "Nó đã tìm được thì mình cũng phải tìm được, phải biết hy vọng chứ". Những người như thế, không nhiều trong cái làng này, cùng nhau bắt tay vào công việc gian nan chứ quyết không đi theo lối mòn mà cha ông họ đã bước cả bao đời. 

Trở lại chuyện năm nay được mùa, lần đầu tiên người làng đủ gạo ăn, không những thế mà còn có rau, có ngô rồi thì lợn, gà cũng đều sinh sôi nảy nở ào ào. Vụ này qua vụ khác mà cứ thế này thì đời sống chẳng mấy chốc lên tiên. Thế là sau mấy phen chao đảo thì những người bảo thủ nay lại được dịp phản công. Dĩ nhiên hể hả nhất là ông Duân, ông tâm sự với mọi người: "Đấy bà con xem, cứ nhìn trâu cày thẳng tắp bờ ruộng, nước theo mương ồng ộc chảy vào đồng là tôi đã sướng cái bụng rồi. Làm gì mà phải kim với chả cương, mà đánh đổi cả tính mạng không chừng". Lý của ông lúc nào cũng đúng, nhưng lần này thêm cả cái tình vào nữa thì ai cũng mủi lòng: "Thật ra, sống trên đời đừng ham hố nhiều, nhà ở một gian chứ bao nhiêu, ăn một bữa 5 bát là nhiều chứ gì, thế rồi thì còn đòi cái gì nữa. Đừng thấy thiên hạ có gì thì cũng đua nhau làm, mình có cái thế của mình chứ, phải không bà con". Thế là ai nấy cũng yên lòng, ông cha ta làm thế nào thì ta làm thế, việc gì mà phải theo người. Làng xóm lại quay lại cuộc sống thường nhật, tất tả cấy cày. Nắng chói chang mà vẫn không thiếu tiếng cười tiếng hát ngân nga. Chả trách được, trời đã phú cho làng cái tính hiền lành chăm chỉ quanh năm ruộng đồng mặc ai mua ngược bán xuôi. Nhưng đấy, trời phú hay trời đày để mà mang thêm cái tính đụt. Giờ thiên hạ đua nhau phất lên mà vẫn cứ cặm cụi bán mặt cho đất bán lưng cho giời. Ba bốn cái tin có người đào được kim cương ập về, người làng nhìn nhau nhăn nhó, không ít người lắc đầu. "Những người đó thì đã no ấm rồi, bao giờ đến lượt mình? " – người ta bụng bảo dạ. Đến ngay anh Thó ngày nào giờ đã nhà mái bằng khang trang, đúng là người đời thà chịu khổ chứ ít ai chịu học theo người khác. 

Ông Duân và mấy người cùng phe ngày một queo quắt vì cái nạn kim cương này. Thóc lúa giờ đầy bồ mà ông tức đến nỗi đến bữa không ăn nổi hai bát, không thể để thế được, kim cương thì mặc kim cương chứ mình phải giữ thế của mình, không thể để dân làng mê hoặc vì những cái không cần thiết như thế. Ngày ngày qua đi lại có thêm người đào được nhưng giờ không còn làm cho dân làng sốt sắng như trước. Ông Duân vẫn đi giảng giải đều đều nhưng số người nghe ông ngày càng ít đi, trong đó phải kể đến nhà anh Mường, người cũng quyết chí đi tìm kim cương. Thế rồi anh ta cũng đào được cái gì đấy mà tối hôm đó người ta nghe thấy anh la hét như phát điên lên trong nhà. Cả làng kéo đến đông đủ, lố nhố chen nhau xem cái cảnh anh ta lăn lộn giữa nhà, bên cạnh là một cái rương bằng đá còn dính đất, nó cũng giống loại đá đào được hôm xây đình. Rồi thì cũng có mấy người lấy nó ra xem sự tình thế nào, mở ra bên trong rỗng tuếch nhưng dưới mặt đáy có khắc dòng chữ: 

"Thương thay cho những kẻ đến sau, không nghe theo lời ta, thiếu tính tiến thủ. Giờ kim cương đã hết, tìm trong đời há chẳng phải là khó hơn ngay sau nhà sao. Khà khà khà."





Nhiều người la hét theo, có người không nói gì đành ngậm bồ hòn làm ngọt.

Bao năm đã qua, làng đã không còn nhưng người làng thì vẫn khối kẻ tiếc hùi hụi vì đã không đào được kim cương (hay đã không đi đào).

Kiểm đi kiểm lại, người ta thấy đã có đúng 13 viên kim cương.





********

Nguyễn Lê Quang


(Truyện viết tặng mười ba bạn gái lớp Đào Tạo Cử Nhân Khoa học Tài Năng khoá 2, DH Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội)

Thảo luận cho bài: "Mở Làng"