Một Đời Rồi Cũng Qua

Tác giả:

Sau mười lăm ngày trèo đèo, băng rừng, lội suối, Vinh và một nhóm đồng chí đã đặt chân đến một ngôi làng nhỏ của tỉnh Yên Bái. Họ ngồi bệt xuống sàn đất trong cái điếm canh đầu làng, xoa nắn những đôi bàn chân sưng vù và tê cóng vì lạnh.

Trời đã tối hẳn. Ngoài đường vắng tanh không một bóng người. Cành lá trên bụi tre cao chót vót truớc cửa điếm canh chạm vào nhau, phát ra những tiếng rì rào như tiếng than van ai oán của những oan hồn còn lẩn quất đâu đây. Từng luồng gió rét cứ thi nhau lùa vào qua tấm liếp bằng tre ọp ẹp khiến ai nấy đều run lập cập!
Em bé giao liên, một cậu bé chừng mười tuổi, bật diêm, châm ngọn đèn dầu lạc để trên cái bàn con kê ở góc buồng. Ngọn lửa leo lét cháy, tỏa ra một thứ ánh sáng lù mù nhưng cũng đủ để Vinh thấy vẻ mặt hốc hác, mệt mỏi của những người bạn đồng hành. Mọi người yên lặng như những pho tượng. Hình như họ cũng như Vinh, đang bị cái dạ dầy xẹp lép hành hạ và đang mơ tưởng đến một bát cơm ngô hay củ khoai, miếng sắn.
Em bé giao liên dặn dò:
– Các chú ở đây, em đi báo cáo với cấp trên nhé!
Một người trong bọn Vinh nhắc:
– Nhớ báo cáo khẩn là chúng tôi hết lương thực đã hai ngày rồi!
Trước khi lách mình ra khỏi tấm liếp và mất hút trong bóng đêm, em bé giao liên an ủi:
– Các chú yên chí! Lúc nữa vào nhà dân, thế nào họ cũng cho ăn mà!
Trong khi chờ đợi, không ai bảo ai, họ cùng trải manh chiếu cá nhân xuống sàn, nằm gối đầu lên ba lô, nghỉ mệt. Manh chiếu này là vật bất ly thân của họ. Sống thì nằm, chết thì được bó chiếu đem chôn vội vã ở bên vệ đường hay bìa rừng, vách núi.
Vinh đang thiu thiu, nửa thức nửa ngủ thì có tiếng chân đi bên ngoài. Rồi một người đàn ông trung niên đẩy cánh liếp bước vào, mang theo luồng gió lạnh buốt. Ánh sáng của chiếc đèn pin ông cầm nơi tay vô tình soi đúng vào mắt Vinh khiến chàng bừng tỉnh.
Người đàn ông đưa cho mỗi người một củ khoai lang nướng, hãy còn nóng hổi và nói:
– Tên tôi là Ba Ngà. Các đồng chí ăn tạm củ khoai này rồi tôi sẽ dẫn vào các nhà dân ngủ qua đêm, ngày mai nhận công tác mới.
Những đôi mắt lờ đờ bỗng sáng lên và những bàn tay gầy guộc giơ ra đón nhận củ khoai, đưa lên miệng nhai tóp tép.
Chỉ một thoáng, họ đã thanh toán xong củ khoai một cách rất là hạnh phúc, rồi họ rời điếm canh đi theo người dẫn đường vào sâu trong làng. Bước chân của họ và tiếng chó sủa vang lên trong đêm khuya. Bầu trời tối đen như mực, nếu không có cái đèn pin thì họ khó mà nhận định được phương hướng. Lần lượt, mỗi người được Ba Ngà gửi vào từng nhà một.
Vinh được đưa tới một ngôi nhà tranh bé nhỏ ở cuối làng. Ngôi nhà gồm có hai gian và một cái bếp là nơi trú ngụ của một bà già và cô con gái. Gọi là bà già nhưng bà Đồ chỉ khoảng năm mươi tuổi. Gọi là cô gái vì cô Bình chưa có chồng chứ thực ra cô cũng phải gần ba mươi tuổi. Gian giữa, kê một cái tủ gỗ mộc sơ sài dùng làm bàn thờ và một cái chõng tre đã có một vài thanh mây gẫy để lộ ra một hai lỗ hổng nhỏ. Gian bên trái, có một cái giường bằng tre, trải chiếc chiếu hoa đã bạc màu và hai cái gối mây. Dưới đất, ngay cạnh chân giường là một đống thóc giống ẩm ướt đã nảy mầm.
Sau lời giới thiệu của Ba Ngà, Vinh được hai người đàn bà tiếp đón rất niềm nở. Bà Đồ chỉ vào cái chõng tre và nói:
– Cháu ngủ ở đây nhá! Để bà lấy thêm cho cái chăn bông!
Dứt lời, bà mở cái tủ gỗ, lấy ra một cái chăn bông cũ kỹ, đã có nhiều vết vàng ố, đưa cho Vinh:
– Cái chăn này cũ nhưng ấm lắm cháu ạ! Bà ít dùng vì đây là kỷ niệm duy nhất mà bà giữ được từ ngày bỏ quê lên mạn ngược này!
Dưới ánh đèn dầu lù mù, Vinh thấy khuôn mặt của bà Đồ thoáng buồn. Chàng cảm động nói:
– Thưa bà, cháu đi rừng đi rú, chịu rét quen rồi, cháu không cần chăn đâu, bà cứ cất đi để mai khỏi phải giặt!
Bà Đồ trải cái chăn lên chõng, ân cần nói:
– Lúc nào cháu đi rừng đi rú hãy hay! Bây giờ ở đây với bà thì cứ đắp chăn cho ấm cái đã!
Cô Bình cũng nói:
– Đắp một đêm, mai cũng chẳng phải giặt đâu! Có nắng đem phơi là được rồi, lo gì!
Cảnh gia đình nghèo khó và tấm lòng nhân hậu của bà Đồ và cô Bình khiến Vinh vô cùng thương cảm. Chàng nghẹn ngào nói:
– Cảm ơn bà và cô! Mỗi khi đi công tác cực khổ mà được gặp những người có lòng như bà và cô, cháu thấy cũng được an ủi lắm!
Bà Đồ hỏi:
– Thế cháu đi bộ đội lâu chưa?
– Thưa bà, cháu cũng vào bộ đội được bốn năm rồi!
– Thế quê cháu ở đâu?
– Quê nội và quê ngoại cháu đều ở Hà nội, Nhưng cháu sinh ra ở Huế.
Vinh biết mình lỡ lời, sợ lộ tông tích, chàng đánh trống lảng:
– Thế quê bà ở đâu nhỉ?
Bà Đồ giọng xa xăm:
– Quê bà ở Bắc Ninh, bà lên ở mạn ngược này cũng được trên hai mươi năm rồi đấy!
Rồi như không muốn nhắc đến hoàn cảnh của mình, bà hỏi Vinh:
– Thế cháu họ gì nhỉ?
– Thưa bà, cháu họ Phạm!
Bà Đồ kể lể:
– Bà thì họ Lê, nhưng bà có một người chị lấy chồng họ Phạm, cháu có biết ông Phạm Quân làm báo không nhỉ?
Vinh giật mình, vì Phạm Quân chính là ông nội của chàng. Chàng không thể tin rằng bà nội lại là chị ruột của một bà cụ nhà quê và nghèo khổ như thế này. Có lẽ bà Đồ lầm chăng? Nghĩ vậy, chàng hỏi:
– Thế chị của bà tên là gì ạ? 
– Chị bà tên là Vân.
Vinh giật mình, vì Vân đúng là tên bà nội của chàng. Vinh vẫn nghĩ đây là một sự trùng hợp nên chàng nói:
– Lạ nhỉ, bà nội cháu cũng tên là Vân và ông nội cháu cũng tên là Phạm Quân!
Bà Đồ cũng nhìn Vinh sửng sốt:
– Thật vậy ư hả cháu? Thế bố mẹ cháu là ai?
– Bố cháu là Phạm Giang, và cháu là cháu đích tôn của ông bà cháu!
Bà Đồ bỗng òa khóc:
– Thế thì đúng bà cháu là chị ruột của bà rồi! Ông bà cháu và tất cả gia đình bây giờ ở đâu? Có mạnh khỏe cả không?
Thấy vẻ mặt ngơ ngác của Vinh, bà Đồ chợt hiểu là Vinh không thể tin được rằng một người cùng khó như bà mà lại có liên hệ ruột thịt với gia đình Vinh, một gia đình danh giá và nổi tiếng khắp nước này. Bà tủi thân khóc lớn hơn. Rồi khi cơn xúc động nguôi đi, bà ngồi bên Vinh và cô Bình, sụt sùi kể lể…

Sau khi chồng chết, bà Ký góa bụa nuôi ba cô con gái và cậu con trai út bằng lợi tức của mấy mẫu ruộng cho cấy rẽ và hoa màu trong một khu vườn nhỏ ở đầu làng.
Tuy sống ở nhà quê, nhưng bà Ký không biết làm ruộng vì thuở nhỏ bà sống ở Kinh thành Huế, chỉ quanh quẩn trong nhà giúp mẹ việc bếp núc. Những lúc rảnh rỗi, ông cụ thân sinh ra bà dạy cho bà chút ít chữ nho nên bà cũng biết đọc sách, làm thơ.
Đến khi theo chồng về Bắc Ninh thì bà Ký cũng chỉ biết hầu chồng, nuôi con bằng số lương công chức của ông và thóc lúa thu được từ những thửa ruộng cho dân làng cấy rẽ. Bởi thế, khi ông Ký mất đi, gia đình bà trở nên khó khăn vì thiếu hẳn khoản tiền lương của ông. Bà và ba cô con gái bắt đầu tập làm ruộng và tự tay chăm sóc vườn tược. Cả nhà chỉ có cô Nhớn là đặng đột hơn cả, cô khỏe mạnh lại chăm chỉ nên mọi việc trong nhà đều phải nhờ một tay cô quán xuyến. Cô Nhỡ thì cũng cố gắng nhưng chậm chạp, cô Con thì ốm đau luôn nên chẳng giúp gì được cho gia đình cả.
Mỗi khi thiếu hụt, bà Ký lại ra Hà-nội vay tạm người chị gái chờ đến ngày mùa thì lại mang trả.
Một lần bà Ký ra Hà-nội ăn giỗ, bà mang theo cô Nhớn. Chị bà thấy cô cháu xinh đẹp nên làm mối cho một người cháu chồng tên là Phạm Quân, lúc đó đã đậu đạt và có danh phận. Trai tài, gái sắc gặp nhau. Thế là họ nên duyên chồng vợ.
Cô Nhớn ra Hà-nội sống với chồng, đắm mình trong nhung lụa và hạnh phúc. Cuộc sống của bà Ký, cô Nhỡ, cô Con và cậu út có phần thay đổi đôi chút vì mỗi lần cô Nhớn về thăm lại mang quà cáp cho mẹ và các em. Sau khi gả được cô Nhớn, chị bà Ký lại tìm một người con trai Hà-nội cũng có ăn học để làm mối cho cô Nhỡ, hy vọng cô em cũng được sung sướng như cô chị. Nhưng cô Nhỡ nhất định từ chối vì lòng cô đã trao gửi cho một anh con trai làng bên. Thế là thảm trạng gia đình xảy ra không sao tránh khỏi. Bà Ký cho việc cô Nhỡ không vâng lời là một điều không thể chấp nhận được! Suốt ngày này tháng khác cô Nhỡ phải nghe những lời mắng nhiếc của mẹ và chị cũng như em. Cho tới một ngày, cô không thể chịu đựng được nữa, cô bỏ nhà ra đi với người cô yêu quý!

Đêm hôm ấy, một đêm rằm tháng tám, đình làng có hội hát trống quân. Cô Nhỡ xin phép mẹ được đi dự một mình vì cô Con lên cơn suyễn không đi được. Thay vì ra đình dự buổi hát thì cô Nhỡ lẻn ra phía bờ ao với một cái bị nhỏ đựng quần áo và mấy đồng bạc để gặp người tình, rồi hai người lặng lẽ bỏ làng ra đi theo tiếng gọi của tình yêu. Dưới ánh trăng sáng vằng vặc, cô Nhỡ thất thểu bước đi bên người tình, nước mắt như mưa! Cô biết, cuộc đời cô đã rẽ vào một khúc quanh mới. Khúc quanh đó sẽ đưa cô tới những cơn sóng gió đời mà cô không thể nào mường tượng ra được. Có nhiều lúc, đôi chân cô như muốn chùn bước và lòng cô tràn đầy hối hận! Ngày mai, mẹ cô sẽ phải khóc vì cô như bà đã từng khóc vì cô! Bà sẽ phải cúi gầm mặt xuống khi dân làng xầm xì:''Con bà Ký bỏ nhà theo giai!'' Ý nghĩ trở về cứ lởn vởn trong đầu cô.
Cuối cùng thì tình yêu đã thắng, vì tình yêu đang thật sự có mặt bên cô. Bàn tay cô đang run rẩy trong bàn tay vạm vỡ của người cô thương, đầu cô đang dựa vào vùng ngực ấm áp của chàng. Luân lý, xã hội, gia đình… ở xa cô quá, không giúp cô được, không đem cô trở về căn nhà ấm êm được! Cô nhìn lên bầu trời đầy sao và mặt trăng tròn tỏa sáng con đường cô đi, cô thầm thì: ''Chị Nhớn ơi! Em chúc chị muôn vàn hạnh phúc! Em Con và Chú bé ơi! Chị xin lỗi các em, chị đã không ở lại để săn sóc các em. Mẹ ơi! Xin mẹ tha cho con tội bất hiếu! Lạy mẹ, con đi!"
Với một số tiền nhỏ nhoi mà cô Nhỡ và người tình mang theo, hai người thật vất vả trong nếp sống lang thang. Họ đi hết nơi này đến nơi nọ! Hết tỉnh này tới tỉnh kia mà cũng không kiếm đủ miếng mà ăn! Cuối cùng họ dắt díu nhau lên Yên Bái, nơi rừng thiêng nước độc này và xa hẳn với quê nhà mến yêu.
Khi bà Ký mất ở Huế, cô Nhỡ tìm về Hà-nội xin chịu tang, nhưng hai em sợ dư luận chê cười nên nhất định không cho vào nhà! Cô Nhỡ lại nuốt lệ, lủi thủi ra đi. Cô không giận các em mà chỉ tủi cho phận mình. Vì suốt đời cô, cô vẫn luôn luôn cho rằng việc cô bỏ nhà theo giai là làm điếm nhục gia phong.. 
Cô Nhỡ sống nghèo khổ cùng chồng nhưng rất hòa thuận, được mười năm thì chồng cô qua đời vì bệnh sốt rét. Cô có ba người con gái, hai cô lớn, lấy chồng xa, hiện nay chỉ có người con gái út sống với cô trong căn nhà lá ọp ẹp này!
Cho đến cuối đời cô mới thấy quẻ bói của ông thầy Lợn ở Chợ Đường Cái năm xưa thật là đúng. Hồi ấy ba chị em cô, mỗi người mỗi vẻ, xinh đẹp nhất làng. Ai cũng nghĩ rằng đời các cô chắc sẽ được sung sướng lắm! Chỉ duy có ông Thầy Lợn ở chợ Đường Cái đoán rằng ''Cô Nhớn có tướng mệnh phụ phu nhân, sau này có chồng làm quan! Cô Nhỡ có số bần hàn, tha phương cầu thực, còn cô Con thì có căn tu, ngày sau thế nào cũng nương nhờ cửa phật!'

Bà Đồ đã kể xong câu chuyện đau thương của đời mình mà bà đã chôn dấu trong lòng từ bao năm nay nhưng nước mắt bà vẫn tuôn trào như suối chẩy. Vinh và cô Bình nhìn bà ngậm ngùi thương cảm. Khi nước mắt đã cạn khô, bà Đồ và cô Bình ngồi lắng nghe Vinh kể chuyện đời mình. Giọng Vinh nghẹn ngào trong đêm khuya… 

Vinh được sinh ra và sống những ngày ấu thơ thần tiên nơi Kinh thành Huế cổ kính và thơ mộng, mặc dù quê nội, quê ngoại của Vinh đều ở chốn Hà nội ngàn năm văn vật.
Hồi đó, ông nội Vinh vào Huế làm quan nên cả gia đình đi theo ông và sống tại ngôi biệt thư rộng mênh mông bên giòng sông An Cựu hiền hòa.
Vì là cháu đích tôn, Vinh được ông bà, bố mẹ và các cô chú hết mực yêu thương, chiều chuộng.
Đồ chơi đắt tiền, thức ăn ngon, quần áo đẹp, kẻ hầu, người hạ… Thôi thì Vinh chẳng thiếu một thứ gì!
Cuộc sống thần tiên ấy kéo dài tới khi Vinh lên mười tuổi. Một hôm, ông bà nội bảo chú tài xế lái ô tô, đưa mẹ con Vinh ra ga xe lửa để về Hà- nội sống với ông ngoại. Trước khi đi, ông bà còn cho anh em Vinh rất nhiều đồ chơi quý giá. Ông bảo:
– Các cháu ra hà Nội ở với ông ngoại phải ngoan và chăm học nhé! Thỉnh thoảng ông bà và bố sẽ ra thăm.
Trong cái trí óc non nớt của Vinh lúc ấy, Vinh không hiểu tại sao tự nhiên mẹ con Vinh lại phải về sống với ông ngoại? Nhưng vì thấy mẹ khóc và tất cả mọi người trong gia đình đều có bộ mặt nghiêm trọng nên Vinh không dám hỏi.
Lúc chiếc xe ra khỏi cổng biệt thự, Vinh òa khóc, quay nhìn ông bà nội và các cô chú còn đứng dơ tay vẫy vẫy trong sân.
Sau này Vinh mới hiểu, hồi đó bố đã có vợ khác và không muốn sống cùng với mẹ nữa nên mặc dù ông bà nội rất thương mẹ nhưng cũng đành phải để mẹ con Vinh ra Hà-nội.
Những năm tháng nương náu dưới mái nhà của ông ngoại trôi qua một cách lặng lẽ. Anh em Vinh được ông ngoại và mẹ chăm sóc từng li từng tí. Thỉnh thoảng ông nội lại từ Huế ra thăm và cho anh em Vinh thật nhiều đồ chơi. Vinh chỉ nhớ bố, vì mấy năm ở với ông ngoại, bố chỉ ra thăm vài ba lần trong chốc lát rồi lại đi ngay.
Bác An, anh của mẹ thì vắng nhà luôn, có khi cả tháng mới về. Vinh được biết, bác đi làm cách mạng. Mỗi lần về nhà, bác An mang theo một người bạn tên là Huy. Bác Huy thường mua kem và bánh kẹo cho anh em Vinh luôn.
Năm 1945, khi Vinh được mười ba tuổi thì nhiều biến cố trọng đại xảy ra cho đất nước Việt nam nói chung và gia đình Vinh nói riêng.
Tháng ba năm ấy, Vinh đã phải chứng kiến một thảm trạng đau thương nhất của dân tộc: hơn một triệu người chết đói! Hàng vạn người từ những tỉnh bị lũ lụt như Thái bình, Nam Định, tràn về thành phố xin ăn. Họ thất thểu đi như những bóng ma trên khắp các ngả đường, mong xin được miếng cơm, chén cháo để sống sót thêm được vài ba ngày hoặc năm mười giờ! Những người giầu và và có lòng nhân đạo, nấu những nồi cơm nồi cháo thật to mang ra cửa nhà để cứu đói. Nhưng làm sao cứu được một con số người đói khổng lồ như thế!
Xác chết nằm la liệt khắp nơi khắp chốn! Có những thây người được vùi vội vã bên đường còn lòi ra cánh tay hoặc dóng chân khẳng khiu! Mùi hôi thối xông lên nồng nặc.
Tháng ba với nỗi kinh hoàng của dân Hà Nội chưa nguôi thì Cách mạng tháng tám ào tới. Dân chúng hoang mang, sợ sệt! Vui buồn lẫn lộn. Mầm mống chiến tranh hừng hực khắp nơi! Hình như tai ương sẵn sàng đổ ập xuống đầu người dân Việt bất cứ lúc nào. 
Bác Huy từ Huế ra, báo tin là ông nội đã bị Cách mạng giết, còn bố thì bị Cách mạng bắt mang đi mất tích. Ông ngoại chết lặng người đi. Mẹ con Vinh khóc cạn cả nước mắt.
Vinh thương ông nội, thương bố và bắt đầu ghét Cách mạng, ghét bác An, và nhất là bác Huy.
Cuối năm 1946 cuộc Cách mạng Việt Pháp bùng nổ. Ông ngoại ở lại thành phố Hà-nội, bác Huy đưa mẹ con Vinh tản cư lên mạn ngược. Bà nội và các cô chú cũng tản cư về Nam Định nhưng sau bà cùng một số người trong gia đình hồi cư về Hà-nội trong lúc một số người kẹt lại ở hậu phương. Hình như mẹ bằng lòng làm vợ bé bác Huy vì bác Huy hứa sẽ bảo toàn tính mạng cho bố. Nhưng nhiều nguồn tin cho biết bố cũng đã bị thủ tiêu rồi.
Vinh vào bộ đội năm mười sáu tuổi vì chàng không còn sự chọn lựa nào khác. Cuộc sống của Vinh từ đó là súng đạn, là mìn, là dao găm, mã tấu, là máu, là nước mắt… Vinh nằm gai nếm mật trong rừng sâu, núi thẳm, chiến đấu chống Pháp như bao nhiêu người trai nước Việt. Nhưng trong đáy thẳm của lòng, việc Cách mạng giết ông nội và cha vẫn làm chàng vô cùng đau đớn và bất mãn. Mỗi lần thấy chú Huy quấn quít bên mẹ, mỗi lần hát những bài hát ca ngợi Bác Hồ là toàn thân Vinh như rướm máu.
Vinh dấu kín tông tích của mình và cố quên đi thời thơ ấu thần tiên, quẩn quanh bên ông bà nội, bố mẹ và các cô chú trong căn biệt thự êm đềm bên dòng sông An Cựu, nắng đục, mưa trong. Những ngày tháng mấy mẹ con Vinh nương náu dưới sự chở che của ông ngoại ở Hà Nội cũng mờ nhạt theo lớp bụi thời gian.

Vinh ngừng kể, đưa đôi mắt mệt mỏi nhìn nét mặt hiền hậu của bà Đồ. Khuôn mặt bà xương xương, hai gò má cao và nước da xạm nắng khác hẳn với khuôn mặt bầu bĩnh và làn da trắng nõn của bà nội. Nhưng đôi mắt sâu và sáng, ẩn dưới cặp lông mày hình vòng cung của bà Đồ thì giống y như đôi mắt của bà nội chàng. Vinh thầm nghĩ, ngày xưa chắc hai bà phải đẹp lắm! Và chàng thấy cuộc đời của hai bà như cuộc đời của Thúy Vân, Thúy Kiều vậy. Vinh bỗng cảm thương cuộc đời gian truân của bà Đồ vô hạn. Chàng nắm bàn tay gầy guộc của bà, giọng tràn đầy xúc động.
-Cháu không ngờ trong cuộc đời sương gió của cháu, cháu lại có cái may mắn gặp được bà. Khi nào cháu liên lạc được với gia đình, cháu sẽ báo cho cả họ biết buổi hội ngộ kỳ lạ này.
Bà Đồ đưa cánh tay áo lên quẹt nước mắt:
– Bà chẳng hy vọng mọi người trong họ nhìn nhận bà đâu! Ngày xưa thì bà mang tội bất hiếu, theo giai. Bây giờ thì bà nghèo rớt mồng tơi thế này, nhận bà làm gì cho thêm xấu hổ?
Vinh thở dài: 
– Chuyện cũ, xưa quá rồi bà ạ. Mà cháu thấy bà có tội lỗi gì đâu. Chẳng qua là hồi đó, xã hội mình còn phong kiến, lạc hậu quá nên bà mới phải chịu khổ cả đời đấy thôi!
Cô Bình từ nãy vẫn ngồi yên lặng, bây giờ mới lên tiếng:
– Cháu Vinh nói đúng đất mẹ ạ! Con nghĩ lúc mẹ mới bỏ nhà đi thì gia đình giận thật đấy. Nhưng sau thì bác Nhớn, cô Con và cậu Út có muốn tìm mẹ cũng không tìm được, vì mẹ đã đi tuốt lên mạn ngược này mà không nhắn tin về.

Những lời nói của Vinh và cô Bình như những giòng suối mát tưới đẫm vào cõi lòng cằn cỗi của bà Đồ.
Bà mỉm cười thả hồn về quá khứ với biết bao kỷ niệm ấm êm bên những người thân yêu ruột thịt trong căn nhà nhỏ ở làng Thọ Vực tại tỉnh Bắc Ninh xa xôi vạn dặm. Qua màn nước mắt, bà thấy cuộc đời bà trôi bồng bềnh theo năm tháng…
Lê Thị Nhị

 

Thảo luận cho bài: "Một Đời Rồi Cũng Qua"