Một Đời Thơ, Một Đời Thầy

Tác giả:

1. Nhập thế: 

Tôi đến trình diện nhận việc tại trường Trung-học Phan Châu Trinh Đà-Nẵng vào một ngày đầu tháng 9 năm 1958. Đó là một buổi sáng thứ hai đẹp trời.Trận mưa ban đêm kéo mây xám mùa thu đi hết, để lại một bầu trời xanh lơ, cao vòi vọi. Học sinh đang tập trung giữa sân trường, dự lễ chào cờ đầu tuần .Tiếng đồng ca nhịp nhàng, trầm bỗng theo gió bay xa, cuốn lấy tâm hồn tôi, một tâm hồn đang háo hức bởi sự mới lạ, đang say sưa trước ngưỡng cửa vào đời. Tôi chờ buổi lễ chấm dứt, tiếng hô "thôi" của vị giám thị vang lên, mới mở cổng đi vào. Con đường từ cổng trường đến bậc thềm chỉ một đoạn mà thấy dài vô tận. Đi giữa hai hàng áo trắng lung linh , những đôi mắt đen nhánh , những tiếng thì thầm, chân tôi như nhũn đi, như trôi trong một lớp sương khói bồng bền … 

Hiệu-trưởng lúc bấy giờ là thầy Nguyễn Đăng Ngọc, đẹp trai, khi đó còn rất trẻ .Đây là vị Hiệu trưởng chính thức đầu tiên của trường. Các vị hiệu trưởng tiền nhiệm thật ra chỉ là quyền hiệu trưởng thôi. Thầy nhận lời trình diện của tôi, hỏi qua về gia đình, về sức khoẻ và cho tôi biết phân công giảng dạy. Thầy dẫn tôi ra phòng Hội-đồng, giới thiệu với một số thầy cô có mặt hôm đó, đang ngồi chờ giờ lên lớp .Tôi gặp lại nhiều bạn cũ hồi Trung học. Trường Phan châu Trinh năm đó qui mô còn nhỏ , Hội đồng Sư Phạm chỉ có khoảng 20 vị. Khuôn viên trường Phan Châu Trinh hồi đó rộng bao la, trãi dài từ đường 
Thống Nhất đến tận hông trường Phan Thanh Giản (trường chuyên Lê Qúy Đôn ), giờ chơi học sinh tản ra bốn phía đùa vui thoải mái. Sân trường còn trải cát, chỗ cao chỗ thấp, bao quanh bằng một hàng kẽm gai quân đội thấp lè tè, đứng bên ngoài có thể nhìn thấy hết mọi sinh hoạt bên trong . 

Cây cối trên sân chính chỉ có mấy hàng dương liễu, hàng phượng mới trồng, lơ thơ, ẻo lả trước gió. Năm sau, các hàng cây này được nhổ bỏ đi, trường có kế hoạch trồng các cây sao, cây xà cừ thay vào, bây giờ lên cao vút. Thời gian này học trò chưa đông, thầy cô chưa nhiều, nên thầy trò gắn bó thương yêu nhau vô cùng. Sau này tôi vẫn nghĩ lại: chưa có thời gian nào tôi được sống giữa đồng nghiệp, giữa học sinh một cách thân tình, vô tư và trong sáng như vậy. 

2. Lớp Dạy Đầu Đời : 

Năm học 1958-1959 trường PCT được phép mở lớp Đệ nhị cấp (cấp3). Những năm học trước, xong lớp Đệ Tứ (lớp 9), đậu xong Trung học Đệ nhất cấp, muốn học lên nữa, học sinh phải khăn gói ra Huế, vào Sài-gòn, hoặc Nha-Trang.Các Lớp Đệ Nhị cấp đầu tiên của trường gồm 3 lớp: một Đệ Tam A( Khoa học Thực nghiệm), một Đệ Tam B (Toán), một Đệ Tam C (Văn Chương ). Tôi được phân công giảng dạy vừa Toán, vừa Lý, vừa Hoá tại cả ba lớp đó. .Trường phân công tôi làm Giáo sư Cố vấn (Chủ Nhiệm) lớp Đệ Tam B, lớp lớn nhất, lớp đầu đàn của trường. Lớp có khoảng 50 học sinh, toàn nam, chỉ có 2 nữ :Võ thị Thương, Phan thị Xuân Nguyệt. 
Đó là lớp dạy nhớ đời của tôi. Đó là lớp dạy để đời của tôi! Ngồi nhẩm lại, suốt 40 năm tại PCT, tôi đã dạy nhiều lớp học sinh rất giỏi , nhưng chưa lần nào tôi gặp một lớp như thế. Học sinh học giỏi đều, thông minh, hoang, nghịch nhưng dễ thương vô cùng. Đây là lớp tôi vừa dạy vừa học. Đây là lớp tôi vừa là thầy vừa là bạn. 

Tôi còn nhớ: Nguyễn Hữu Hùng, Lê Tự Hỷ, Mai Chánh Trí, Võ Thị Thương, Xuân Nguyệt, Tôn Thất Hải, Tôn Thất Tuấn, Bùi Văn Nam Sơn,Vĩnh Khôi, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thanh Thừa,Trương Công Nghệ, Ngô văn Mạnh , Nguyễn thu Giao, Bùi ngọc Tô, Phạm Văn Đồng, Hồ Công Lộ, Phan Bái, Chế văn Thức , Nguyễn hoàng Be, Đặng ngọc Khiết , Giang lý Đương, Tôn thất Chơn Tu,..người nào cũng xuất sắc. Lớp lại có lắm tài: đàn có Đỗ Toàn, trống có Vĩnh Lai, báo chí có Nguyễn Bá Trạc, Phan Nhật Nam, Hà Nguyên Thạch, Nguyễn Thu Giao…..Trưởng lớp là Võ Ý đẹp trai, ăn nói nhỏ nhẹ, Đỗ Viết Tính thơ hay vẽ đẹp, mỗi người mỗi vẻ, dễ mến vô cùng. Đến năm Đệ Nhị, lớp có thêm 3 nữ sinh từ Huế vào học, nâng tổng số nữ lên 5 .Tôi còn nhớ: Đoan-Trang, Mộng-Hiền, Kiều-Nữ . Ba cô nữ sinh mới này thuỳ mị, nhút nhát, nên bị chìm hẳn trong cái năng động ồn ào của lớp. Dầu vậy, có một nam sinh đa cảm của lớp đã ghép tên 3 người lại làm biệt hiệu của mình, ký dưới những bài thơ tình ướt át : Trang-Hiền-Nữ. 

Kỳ thi Tú Tài 1 năm 1960, lớp đỗ hết, nhiều em đỗ ở hạng cao.Thuở ấy kỳ thi Tú Tài 1 thường rất khó, 
còn khó hơn Tú Tài 2 nữa, tỷ lệ đỗ 20% hoặc 30% là nhiều. Năm học đó PCT chưa có Đệ Nhất ( lớp 12), tất cả phải khăn gói ra Huế học. Các em được chia đều vào 3 lớp Đệ Nhất của trường Quốc Học. 
Tại lớp nào các em từ PCT ra cũng đứng đầu cả : Nhất B1 thì Lê tự Hỷ, Nhất B2 thì Nguyễn Hữu Hùng, Võ Thị Thương, Nhất B3 thì Tôn Thất Hải, Tôn Thất Tuấn. 

Trường tổ chức một đêm Văn nghệ cuối năm để tiễn học sinh rời trường, lớp Đệ Nhị B của tôi có 
tham gia một vở kịch tự biên tự diễn, đặt tên là Bỏ trường mà đi. Những Võ Ý, Đỗ Viết Tính, Nguyễn Bá Trạc, Phan Nhật Nam, Đỗ Toàn…,lần lượt xuất hiện trên sân khấu, kéo theo sự cổ vũ nồng nhiệt của các lớp đàn em, kể cả của thầy cô giáo. 

Các em diễn tả tâm trạng của một học sinh , vì hoàn cảnh , phải rời bỏ ngôi trường thân yêu mình theo học từ thời thơ ấu mà ra đi…..Tôi ngồi bên dưới, nghe từng lời, nuốt từng chữ, theo từng cử động của các em, bâng khuâng, ngậm ngùi vô tả…Vở kịch thành công ngoài cả sự mong đợi. Tôi thấy thầy Ngọc mấy lần đưa tay lên chùi mắt, má cô Liệu, cô Đính, cô Ngọc Quỳnh ướt nhoè. Chẳng lạ gì: các em này sau đã trở thành những nhà văn, nhà thơ, nhà báo nổi tiếng một thời. Tôi ra về trong đêm, hồn vẫn trôi theo tiếng hát, tiếng ca, tiếng trống bập bềnh của các em: 

"Xa cô rồi cũng xa thầy 
Thầy ơi thầy! 
Tuy xa ngàn dặm nhưng lòng này không xa……" 

Lời ca nhại theo một bài hát thịnh hành hồi đó, nhưng tôi nghe tha thiết mặn nồng chi lạ! Đó là vở kịch duy nhất mà tôi theo dõi từ đầu đến cuối trong đời mình. Bây giờ các anh các chị đã thành danh thành tài. Kẻ tiến sĩ, kẻ bác sĩ, kỹ sư, công tác khắp năm châu bốn biển, lãnh trọng trách lớn tại các Trung tâm khoa học thế giới, giảng dạy tại các trường đại học danh tiếng trong, ngoài nước, nhưng hễ gặp nhau, ngồi lại với nhau là cứ nhắc lại kỷ niệm về những năm tháng học tại PCT, nhắc đến thầy cô với tất cả lòng trìu mến thiết tha. Nghe các Anh Chị tham dự về kể, tôi thấy lòng mình như ấm lại. Hiện giờ, năm nào các Anh Chị lớp đó cũng đều có tổ chức họp mặt , năm nào tôi cũng được mời tham dự. Nhìn các anh, các chị tóc muối tiêu, răng hom má hóp, nhưng vẫn nhỏ nhẹ "thưa thầy xưng em" với mình một cách lễ độ như xưa, lòng tôi bâng khuâng và xúc động vô tả. Bao nhiêu tủi hờn, nhọc nhằn, bạc bẽo trong nghề nghiệp như tan biến đi hết! Còn lại đó một tình thầy trò trong sáng, yêu thương, bền bĩ và cao vòi vọi . Tôi ru mình trong tình cảm ấy mỗi khi buồn phiền, hôm nay và mãi mãi….

3. Một Thời Để Nhớ: 

Trong đơn chọn nhiệm sở khi tốt nghiệp, tôi ghi 3 nguyện vọng: 1. Sài gòn, 2. Huế, 3. Nha Trang. Cả 3 đều không được đáp ứng, Bộ Giáo-Dục lại cử tôi về Đà Nẵng. Chắc là định mệnh. Âu là duyên số.Tôi vẫn đinh ninh : thôi thì ráng vài năm ở đây, sẽ tìm đất lành để đậu sau. Thế mà lần lữa tôi đã ở đó 40 năm đăng đẳng! Tôi lớn lên cùng ngôi trường PCT, tôi chứng kiến bao nhiêu thay đổi… Tôi đã vào dạy tại bao nhiêu lớp ? Tôi đã có bao nhiêu học sinh chính thức học với mình? Bao nhiêu học sinh của tôi đã ra trường, đã thành, đã bại ? Số học sinh "thành" rất nhiều nhưng số học sinh "bại " cũng không nhỏ. Người đời có thói quen chỉ nhắc đến những học sinh thành chẳng mấy khi nhắc đến những học sinh bại. Đó là một điều đáng trách! Các em diện này thường âm thầm, gặp thầy thì cúi mặt im lặng, không tự tin để đến thăm thầy đàng hoàng như các em "thành". Các em tự ti mặc cảm nên thường không đến tham dự những lần bạn bè cùng lớp tổ chức họp mặt. 

Một chiều thứ bảy tôi đang lang thang trên đường Trần Quốc Toản Sài-gòn , một người đàn bà vụt xô đến ôm chầm lấy tôi, mừng rỡ đến khóc nức nở. Thì ra đó là một học sinh cũ của tôi cách nay đã hơn 30 năm, một thời nỗi tiếng là đẹp.Người học trò cũ cứ mừng vui hỏi thăm đủ chuyện trường xưa , lớp cũ, quên cả thời gian chiều đã vào đêm, thành phố đã lên đèn ! Có lần tôi đi xe ôm, khi xuống người chở xe nhất định không lấy tiền, cứ bảo em là học trò xưa của thầy, thầy quên đó thôi, nhưng hỏi tên thì không nói. Có lần chiếc xe gắn máy cà tàng 32 năm của tôi dở chứng đạp mãi không nỗ, một người đàn ông lớn tuổi lem luốt ngồi vá xe ở ngã tư đường chạy ra giúp: thầy ngồi lên xe đi, em đẩy cho; xe nổ, tôi cám ơn thì được bảo: em là Tham đây, Tham còm học lớp 12A, thầy không nhớ sao? Giữa thành phố Đà Nẵng này có 2 người điên hay đi lang thang, 2 người ấy là học trò cũ của tôi cả. Không biết những ai còn nhớ thầy? Và chắc thầy cũng chẳng nhớ mặt mấy ai! 

Nhiều học sinh đã học trực tiếp với tôi, sau trở về làm đồng nghiệp của tôi tại trường PCT này. Nhìn danh sách Thầy Cô trong Đặc San kỷ niệm 45 năm, tôi đếm thầm: có đến hơn 80 vị . Tôi đâu có nhớ hết được , các anh các chị tự nhắc lại đấy thôi. Cũng có người không nhìn thầy, ngó lơ khi gặp, nhưng phần lớn đều dành cho tôi những cảm tình đặc biệt, thiết tha. Các dịp Lễ, dịp Tết , ngày Nhà Giáo, ngày Truyền Thống, v.v…, có bao giờ tôi rãnh rang đâu ! Một sung sướng vô biên của tôi là, trong những lần họp mặt, những học sinh cũ của tôi, nay tóc đã muối tiêu, đã là cha, là ông bà nội, ông bà ngoại, đứng dậy đọc lại những bài thơ tôi đã làm lúc còn trẻ, đã đăng trong các báo hoặc Đặc san, những bài thơ mà chính tôi cũng không còn nhớ trọn vẹn nữa! Các anh các chị đã đọc lại trơn tru, say sưa, thiết tha, kể kèm theo những kỷ niệm học sinh của mình, làm lòng tôi ngây ngất. Đã đành tôi hằng nhủ lòng: mình làm thơ cho vui thôi, để giải toả một chút lòng, để quên đi những ẩn ức, mong gì ai khen ai nhắc, nhưng nghe các anh chị học trò cũ của mình đọc lại thơ mình, lòng cũng thấy ngây ngất, sung sướng vô biên.

Ngày tôi sắp nghỉ hưu, các anh Trần Minh Thuấn, Nguyễn thành Năng, đã cùng với một số bạn xuất bản cho tôi một tập thơ để kỷ niệm: tập Tóc Trắng Sân Trường (1997)….Cũng thời gian này, trường có tổ chức một Đêm Thơ Nhạc nhìn thầy Mai Chánh Trí , một học sinh cũ thuộc lớp Đệ nhị cấp đầu tiên của PCT , đứng dậy nghiêm trang đọc bài thơ Thoáng Buồn của mình, lời run run , mắt kiếng rơi trễ trên sống mũi, tôi thấy cảm động và thương chi lạ ! Bấy giờ Anh cũng đã 60, sắp về hưu, là một người thầy dạy giỏi, lão thành của thành phố .Một chiều ngày 20-11 mưa gió tưng bừng, anh Lê Phú Kỳ, một hiệu-trưởng uy tín, hiện là Hiệu-Trưởng trường T.H. Phan Châu Trinh ĐN , đội gió dầm mưa, một tay ôm hoa, một tay níu vạt áo mưa để ngăn mưa ướt, đến kêu cổng nhà tôi. Nhìn mưa rơi trên những cánh hoa hồng hoa cúc, mưa rơi trên tóc trên má anh, chợt thấy lòng mình cũng mưa rơi lai láng! Trong tiệc cưới ở nhà một người bạn, bất ngờ có một đôi vợ chồng lớn tuổi, tóc đã muối tiêu, mãi đến bây giờ tôi cũng không nhớ tên, chạy đến ôm choàng lấy tôi, ríu ra ríu rít :"thầy đây sao, thầy Tăng đây sao, bây giờ tóc thầy bạc đến thế này sao?" Chắc 2 người vẫn còn giữ trong lòng hình dáng trai trẻ của tôi thuở nào! Rồi chồng hôn lên má trái, vợ hôn lên má phải, làm tôi quá ư cảm động và ngượng ngùng trước mặt quan khách. 

Là một thầy dạy Toán, nhưng có năm tôi làm Trưởng Ban Báo-chí, một năm khác, tôi nhớ là 72-73, tôi làm Trưởng-ban Văn-nghệ. Lần đó, dịp cuối năm, 3 đêm văn-nghệ của trường được tổ chức.Trong vở kịch Người Chép Sử, do thầy Trần Thông đạo diễn, hình ảnh Trần Ngọc Châu, trong vai Kinh-Kha, múa kiếm đọc thơ vẫn theo ám ảnh tôi mãi đến bây giờ : 

"Áo xiêm khanh tướng trong thiên hạ 
Đựng chửa đầy đôi mắt mỹ nhân !" 
(thơ Mặc Thu ) 

Trần Ngọc Châu bây giờ là Tổng biên tập báo Saigon Times, một tờ báo lớn của VN. Bốn mươi năm ở đó tôi có bao nhiêu hạnh ngộ, bao nhiêu chia ly, bao nhiêu ân tình, bao nhiêu kỷ niệm! Kỷ niệm nào nhớ lại cũng làm tôi xao xuyến cả lòng ! 







4. Bỏ Trường Mà Đi: 

Tôi chính thức rời trường PCT nghỉ hưu ngày 1.3.1998. 

Bốn mươi năm.Một thời gian rất dài nhưng sao tôi vẫn thấy quá ngắn! Khi đến, tôi là một gã con trai trẻ măng, má còn búng ra sữa, yêu đời, yêu người , lòng bao nhiêu ước vọng . Khi về, tôi là một ông già đầu tóc bạc phơ, tâm suy trí cạn. Những năm cuối đi dạy, 1996, 1997, tôi thường có những lúc buồn bất chợt, buồn da diết. Những giờ nghỉ, tôi hay đi lang thang trên hành lang, từ lớp này qua lớp khác. Nhìn các em học sinh nô đùa, tinh nghịch, nghe tiếng cười tiếng nói xôn xao, nhìn những tà áo trắng theo gió bay vào cổng, nhìn những mái tóc đen mượt theo gió bay vào sân, lòng cảm thấy có cái gì rất thân thiết, rất thương yêu, sắp bỏ mình mà đi! Tôi hay đứng ngơ ngẩn bên gốc cây xà cừ già giữa sân, cây xà cừ này do lớp tôi làm cố vấn trồng năm 1959, bây giờ cành lá xum xê, chĩa ra bốn phía, che kín cả một khoảng không gian của sân trường. Gió thổi hiu hiu làm lá cây dao động, và làm lòng tôi cũng dao động theo. Rất nhiều lần tôi có cảm tưởng như có tiếng ai đang thì thầm bên tai mình. Tiếng thì thầm của tuổi thanh xuân! Tiếng thì thầm của kỷ niệm !Tiếng thì thầm của hàng hàng lớp lớp học trò đã học ở đây và đã ra đi .Tiếng giảng bài. Tiếng trả bài. Tiếng hát. Tiếng ca.Tiếng cười khúc khích. Nhiều khi tôi mê mẩn đi. Thất thần. Mỗi viên gạch, mỗi vuông sân đều như muốn tâm sự. Mỗi lần lên lớp, nhìn học trò từ bục giảng, tôi có cảm tưởng đang đứng trong một biển sương mờ. Cuối giờ học, tôi còn đứng nhìn quanh nhìn quẩn, như đang tìm một cái gì đó mà chính tôi cũng không biết. 

Có những chiều không có giờ dạy, tôi vẫn lang thang đi bộ đến trường chơi. Đứng một mình trên hành lang, nhìn nắng chiều xen qua các tàng cây, rơi những giọt lung linh trên sân.Gió thổi dăm chiếc lá chao mình, rơi lặng lẻ bên thềm, bên chân tôi.Tiếng giảng bài từ các phòng học gần đó vang bên tai, như mơ hồ, như vời vợi. Nhớ ngày nào tôi bước chân vào lớp dạy, ngỡ ngàng, rụt rè, không dám ngững mặt nhìn thẳng vào học trò, hết giờ đi như chạy về phòng Hội đồng, tim còn đập liên hồi.Mới đó mà đã 40 năm !Bao nhiêu vật đổi sao dời! Bao nhiêu người ra đi! Bao nhiêu người trở lại ? Bao nhiêu người nhớ. Bao nhiêu người quên.Còn lại mình tôi ở đây với một trời kỷ niệm! 

Tôi chờ chiều tàn dần trên sân trường, màu nắng nhạt đi, giờ học vào giờ cuối rồi mới lặng lẻ ra về. Lê Lợi, Quang-Trung, Đống-Đa , Cao Thắng…Vẫn những con đường tôi đã đi bao nhiêu năm . Ngã tư. Ngã ba. Hàng cây. Bờ cỏ. Tôi ngâm khe khẻ: Ta đến khi tóc xanh Ta về khi tóc bạc … … 
Thấy buồn và cô đơn chi lạ ! 

Khi cầm giấy báo nghỉ hưu do Hiệu trưởng trao lại, tôi cố nặn ra một nụ cười để nói tiếng cám ơn, rồi hấp tấp chạy ra nhà xe, sợ mình sẽ oà ra khóc mất.Chạy một mạch về nhà, gục đầu xuống gối, thấy lòng trống trải hoang vu vô cùngï! Trưa đó, lên phi-trường, bay vào Sài-gòn. Sài-gòn ồn ào, náo-nhiệt không làm vơi được nỗi buồn chan chứa trong lòng.Đi một mình lang thang qua các phố đông người, tiếng cười, tiếng nói, tiếng xe cộ inh ỏi, sao nghe xa vời, như từ đâu vọng lại….Chai bia chiều đắng ngắt ở cuối một ngã tư, ngồi cho đến khi bóng tối chập choạng thành phố. Nghe như mình đang tan đi, đang biến thành khói thành sương. Bước nghiêng ngã trở về, áo mỏng phong phanh lạnh.Thấy cuộc đời sao xa lạ, người đời sao dửng dưng. Trời về đêm đổ mưa. Vào trốn mưa dưới vòm hiên một tòa cao ốc.Nhìn những cột mưa hối hả, xiên xiên dưới ánh đèn, nhớ lại một đêm xa, rất xa, giã từ thành phố này để "Đi Xuống Cuộc Đời". Ờ ! Cũng một đêm Sài-Gòn mưa như thế này tôi đã lên chuyến tàu suốt Sài-gòn Đà-Nẵng đến PCT nhận việc ! Mới đó mà đã 40 năm. Thấy thời gian xa lăn lắc mà sao như mới đâu đây .Tạnh mưa, bước từng bước nhỏ trên mặt đường loang loáng nước, nghe tâm hồn dịu lại, lặng đi. Con đường Lê văn Duyệt (CMT 8 ) dài vô cùng, đêm nay càng thấy dài vô tận. Khu Bàu Cát mờ mờ trong đêm, đèn không đủ sáng. Đưa tay vuốt mái tóc sũng nước, bước vội lên cầu thang chung cư, nghe lòng mình sao điêu tàn quá đổi ! 

Ghi vội mấy câu thơ vừa đến trong hồn: 

Xin khép lại một trang đời mộng ảo 
Vẫy tay chào năm tháng đã đi qua 
Mai anh về như con chim trốn bão 
Đứng co mình nhớ biển rộng trời xa 

Tảng sáng hôm sau, túi xách trên vai, trở về lại Đà Nẵng. 

Đêm đó, một mình đến trường, lách vào cánh cổng khép hờ, đứng tựa người vào tượng cụ Phan, nhìn sân trường lá rụng, nghe sân trường lá rụng. Gió lao xao.Cây lao xao. Cảnh vật như chia sẻ nỗi lòng với tôi. Tôi nhìn quanh. Sân trường vắng ngắt. Hành lang vắng ngắt. Học trò lớp này lớp khác đến đây rồi ra đi biền biệt, mê mãi với những chân trời góc bể mù tăm! Tôi dạy thế hệ cha mẹ, rồi dạy đến thế hệ con cái của họ. Hai thế hệ. Bao nhiêu cuộc đời! Bốn mươi năm mê mãi! Còn lại mình tôi ở đây với một tâm hồn trĩu nặng ưu tư, tóc bạc trắng phau phau và nỗi nhớ nhung dằn vặt . Tôi gọi thầm: Trường ơi! Phan Châu Trinh ơi! Hình như có hai hàng nước mắt đang lăn dài trên má ! 

Đêm đó, trong giấc ngủ, thấy mình đứng bên bục giảng, bẻ phấn đề thơ : 

“Mình về chẻ mộng chia mơ 
Xoã tung tóc trắng đợi chờ lai sinh 
Trường xưa nắng cứ lung linh 
Đến thiên thu vẫn đậm tình đó em!” 

Trần Ðại Tăng 

Cựu Giáo Sư Toán các trường:
Bán Công, Sao Mai, Bồ Ðề, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Thánh Tâm, Tây-Hồ, Ánh Sáng, Nguyễn Hiền, Vinh Sơn, Thành Nhân, Diên-Hồng, Hồng Ðức 


Thảo luận cho bài: "Một Đời Thơ, Một Đời Thầy"