Một đứa con

Tác giả:

MỘT ĐỨA CON
GUY DE MAUPASSANT
TRỌNG ĐỨC dịch
 
 
Tặng René Maizeroy
 
 
Đôi bạn già dạo chơi trong vườn nở đầy hoa, giạt giào sức sống giữa mùa xuân vui tươi. Một người là thượng nghị viên, còn người kia là viện sĩ Hàn lâm viện Pháp, cả hai đều đạo mạo, có đầy đủ lý luận rất hợp lý và trịnh trọng, vì họ là những nhân vật tai mắt và có danh tiếng.
 
Mới đầu họ mạn đàm về chính trị, trao đổi ý kiến, không phải về những khái niệm, mà là về những con người, ở địa hạt này những nhân vật xưa nay thường át cả lý trí. Rồi họ nhắc lại vài chuyện cũ; rồi họ im lặng, tiếp tục đi bên cạnh nhau, người đâm ra ủy mị trong tiết trời ấm áp.
 
Một bồn hoa đinh hương to tỏa ra những làn hương ngọt ngào và tế nhị; đủ các thứ hoa muôn hồng nghìn tía ngát thơm trong gió nhẹ; một cây mun già, phủ đầy những chùm hoa vàng, tung ra trước gió làn phấn mịn, một làn bụi vàng thoảng hơi mật và mang theo trong không trung mầm giống cây hương ngát, như các loại phấn dịu thơm ở nhà hàng nước hoa.
 
Viên thượng nghị sĩ dừng chân, hít làn phấn hoa nhuần nhị, phấp phới, ngắm nghía cái cây đa tình, rực rỡ như một vừng mặt trời, đang tung giống bay đi. Và ông ta nói: “Có khi nào ta nghĩ rằng những phân tử li ti, thơm tho này đi gây mầm sống cách đây hàng trăm dặm, đi khuấy động những thớ thịt và những dòng nhựa của những cây cái, và làm mọc lên loài cây cỏ, nó cũng từ một cái mầm mà sinh ra như chúng ta, sẽ chết đi như chúng ta, và sẽ được những vật đồng loại thay thế, cũng lại như chúng ta”.
 
Rồi, đứng ngây người trước cây mun rạng rỡ đang thả theo từng gợn gió những làn hương gieo mầm sống, ngài thượng nghị sĩ nói thêm: “À! Anh chàng mun này, nếu anh phải tính toán số con anh đẻ ra thì khá lúng túng đấy. Đây quả là một gã đẻ con ra dễ dàng và bỏ rơi chúng không hối hận, và chẳng bận tâm chút nào”.
 
Viện sĩ hàn lâm nói xen vào: “Chúng ta cũng làm như thế đấy, ông bạn ạ”.
 
Nghị sĩ lại nói: “Vâng, tôi không chối cãi điều đó, đôi khi chúng ta cũng bỏ rơi con cái đẻ ra, nhưng ít ra chúng ta cũng biết rõ điều đó, và chính vì vậy mà chúng ta hơn muôn vật”.
 
Nhưng viện sĩ hàn lâm lắc đầu: “Không, tôi không muốn nói thế; này, bác nghĩ xem, không có một người đàn ông nào mà không có những đứa con hoang, cũng gọi là những đứa con không bố, mà họ đẻ ra, như cây kia, hầu như vô ý thức.
 
Nếu phải làm con tính về số đàn bà đã cùng chúng ta chung chạ, thì phải chăng chúng ta cũng sẽ lúng túng như cây mun mà bác chất vấn kia, nếu nó phải tính số con cháu của nó.
 
Từ mười tám cho đến bốn mươi tuổi, kể cả những cuộc gặp gỡ chốc lát, những cuộc đụng chạm một tiếng đồng hồ, có thể công nhận rằng chúng ta đã ân ái với hàng hai ba trăm người đàn bà.
 
Thế thì, ông bạn ơi, trong số đó, ông có chắc rằng ông đã không làm cho có mang ít ra là một người, và ông đã không ném ra trên vỉa hè, hay trong nhà tù, một thằng con vô lại nó ăn trộm và giết hại những người lương thiện, tức là chúng ta; hoặc giả lại là một đứa con gái sống trong một xó bất thiện nào, hay có thể, may mắn mà mẹ nó bỏ rơi thì nó đi làm con đỏ cho một gia đình nào đó.
 
Bác lại nên nhớ rằng hầu hết những người đàn bà mà chúng ta gọi là gái điếm đều có một hay hai đứa con mà không biết bố nó là ai, những đứa con lượm được ngẫu nhiên trong những cuộc ái ân đáng mười hay hai mươi quan. Trong nghề nào thì người ta cũng tính lỗ lãi cả. Những đứa con ấy là những “món lỗ” trong nghề của họ. Còn những kẻ gieo giống kia là ai? – Là bác, – là tôi, – tất cả chúng ta, những người gọi là tử tế đấy! Đó là kết quả của những bữa tiệc chén chú chén anh, của những đêm hoan lạc, của những giờ phút mà xác thịt chúng ta phè phỡn đẩy chúng ta đến những cuộc giao hoan tình cờ.
 
Những quân ăn trộm, quân du đãng, tất cả những kẻ cùng khốn, rút cục đều là con chúng ta. Mà như thế còn may cho chúng ta hơn là chúng ta lại làm con cái bọn chúng, bởi vì bọn khốn kiếp ấy cũng sinh con đẻ cái đấy!
 
Đây này, riêng tôi, trong lương tâm tôi còn ghi một câu chuyện xấu xa mà tôi xin kể bác nghe. Đối với tôi đây là một điều ân hận suốt đời, hơn thế nữa, đây là một mối hồ nghi dai dẳng, một điều ngờ vực khôn nguôi, đôi khi nó day dứt tôi thảm hại.
 
Năm tôi hai mươi nhăm tuổi, tôi với một người bạn, nay làm ủy viên Tham chính viện, cùng đi bộ đến thăm vùng Bretagne.
 
Sau mười lăm, hai mươi ngày đi cật lực, sau khi thăm vùng bờ biển phía Bắc và một phần vùng Finistere, chúng tôi tới Douarnenez, từ đó đi một chặng xuyên qua Les Trepaases thì đến mũi Raz hoang vu và chúng tôi ngủ lại một làng nào đó tên có vần “of” ở cuối; nhưng, sáng ra bạn tôi bị một cơn mệt đến liệt giường. Tôi nói giường đây là vì thói quen, chứ thực ra chỗ ngủ của chúng tôi chỉ vẻn vẹn là hai ổ rơm.
 
Không thể ốm ở nơi này được. Tôi dựng bạn tôi dậy đi, và chúng tôi cố tới được Andierne vào khoảng bốn năm giờ chiều.
 
Hôm sau anh bạn đã đỡ một chút; chúng tôi lại đi; nhưng giữa đường anh ta lại khó ở không chịu được nữa, và gắng gượng lắm chúng tôi mới tới được Pont Labbe.
 
Ở đây ít ra cũng có một quán trọ của chúng tôi. Anh bạn tôi nằm liệt giường, và thầy thuốc, mới tận Quimper đến, khám thấy anh bị sốt nặng, nhưng không tìm ra căn bệnh gì.
 
Bác có biết Pont Labbe không? – Không – Thì đây, nó là cái thành phố có tính chất Breton nhất của cả xứ Bretagne rất Breton, đi từ mũi Raz đến Morbihan, các địa phương chứa chất tinh hoa của những phong tục, tập quán, truyền kỳ Breton ấy. Đến ngày nay cũng còn như vậy, góc đất nước ấy hầu như không thay đổi gì. Tôi nói: ngày nay còn thế là vì hiện giờ, ngao ngán thay! Năm nào tôi cũng trở lại đó.
 
Một tòa lâu đài cổ với những tháp canh dầm chân trong một hồ nước lớn, buồn buồn, từng đàn chim rừng bay qua. Một dòng sông con ăn vào đó, mà thuyền bè có thể ngược dòng lên đến thành phố. Và trong những phố xá chật chội, với những nhà cũ kỹ, những người đàn ông đội thứ mũ tó, mặc áo nịt thêu và một bộ bốn áo cánh trùm lên nhau; chiếc thứ nhất to bằng bàn tay, vừa đủ che xương bả vai, và chiếc cuối cùng thì vừa chấm đũng quần.
 
Cô hầu ở quán trọ của chúng tôi tuổi không quá mười tám, đôi mắt đến là xanh; một màu xanh lơ nhạt chấm giữa là hai điểm đen nhỏ của con ngươi; và hai hàm răng ngắn mà mau, luôn luôn hé ra để cười dường như có thể nghiền được cả đá nữa.
 
Cô ta không biết lấy một tiếng Pháp chỉ toàn nói tiếng Breton, như phần đông những người đồng hương.
 
Bấy giờ anh bạn tôi vẫn chưa đỡ, và mặc dầu chưa dò thấy triệu chứng bệnh tật gì, thầy thuốc cũng cấm không cho đi vội, bắt phải nghỉ ngơi hoàn toàn. Thế là tôi suốt ngày ở bên cạnh anh, và cô hầu ít tuổi luôn luôn vào buồng, hoặc mang thức ăn cho tôi, hoặc mang thuốc uống.
 
Tôi chòng ghẹo cô, hình như cô lấy làm thích, nhưng chúng tôi chẳng trò chuyện gì với nhau, tất nhiên, vì ngôn ngữ bất đồng.
 
Thế rồi một đêm thức quá khuya bên cạnh người ốm, khi trở về buồng tôi bắt gặp cô gái nhỏ đang đi về buồng cô. Vừa đúng ở trước cửa buồng tôi để ngỏ, thế là đột nhiên, chẳng nghĩ gì đến việc mình làm, để đùa nghịch chứ không có ý gì khác, tôi ôm chầm lấy cô, và khi cô chưa kịp hoàn hồn thì tôi đã ấn cô nhốt vào buồng. Cô nhìn tôi, ngơ ngác, cuống cuồng, kinh hãi, không dám kêu lên vì sợ tai tiếng, trước hết là sợ chủ thế nào cũng đuổi đi, và có lẽ rồi đến bố cũng đuổi nốt.
 
Tôi vừa làm như vậy vừa cười; nhưng khi cô ta đã ở trong buồng thì lòng thèm muốn chiếm đoạt người con gái nổi dậy trong người tôi. Rồi là một cuộc vật lộn kéo dài và lặng lẽ, một cuộc đánh vật, như kiểu các đô vật, tay vươn ra, co lại, xoắn lấy nhau, hơi thở hồng hộc, mình đẫm mồ hôi. Chà! Cô ta cầm cự thật là dũng cảm; và thỉnh thoảng va phải một đồ đạc, một chiếc ghế, hay va vào bức vách, thế là, cứ ôm chặt lấy nhau, chúng tôi ngừng lại một lát không cựa quậy, sợ gây tiếng động làm người ta thức dậy, sau đó lại tiếp tục giao chiến kịch liệt, tôi thì tấn công, cô nàng thì chống cự.
 
Cuối cùng mệt nhoài, cô ta ngã lăn ra; và tôi chiếm lấy cô một cách tàn bạo, ngay dưới đất, trên sàn lát.
 
Vừa trở dậy, cô thoắt chạy ra cửa, mở then và trốn mất.
 
Những ngày hôm sau họa hoằn lắm tôi mới gặp cô ta. Cô không để cho tôi đến gần. Rồi, đến khi bạn tôi khỏi bệnh và chúng tôi phải tiếp tục ra đi, thì đêm trước ngày tôi khởi hành, quãng nửa đêm, tôi thấy cô đi chân không, mặc áo lót mình, bước vào buồng tôi vừa lúc tôi trở về buồng.
 
Cô ta nhảy xổ vào tay tôi, ghì chặt lấy tôi một cách đắm đuối, rồi cho đến tận sáng cô vuốt ve, ôm ấp tôi, vừa khóc lóc nức nở, vừa tìm mọi cách để tỏ với tôi mối tình âu yếm và tuyệt vọng, vì cô ta không nói cùng một thứ tiếng với tôi.
 
Tám ngày sau, tôi đã quên hẳn câu chuyện thường tình ấy, nó vẫn hay xảy ra trong những chuyến du lịch, những cô hầu gái ở các quán trọ nói chung là để cho khách đi đường tiêu khiển như vậy.
 
Và ba mươi năm liền, tôi không hề nghĩ tới chuyện đó và cũng không trở lại Pont Labbe lần nào.
 
Thế rồi, năm 1876, tình cờ tôi quay lại chốn cũ trong một cuộc đi thăm Bretagne để lấy tài liệu cho một cuốn sách và để thâm nhập cảnh vật miền này.
 
Tôi dường như không thấy gì thay đổi. Tòa lâu đài vẫn dầm chân tường màu xám trong nước hồ, ở phía đi vào thành phố nhỏ; và ngôi quán trọ vẫn y nguyên, tuy có sửa sang, sắp đặt lại cho có vẻ tân thời hơn. Khi tôi bước vào thì hai cô gái Breton chừng mười tám tuổi ra tiếp, các cô trông xinh tươi, ngực bó chặt trong chiếc áo nịt da chật, đầu đội mũ ngân tuyến với những mảnh vải thêu lớn úp trên tai.
 
Lúc đó vào quãng sáu giờ chiều. Tôi ngồi vào bàn để ăn và trông thấy người chủ quán hối hả tự mình ra phục vụ, thì, âu cũng là điều định mệnh, tôi buột miệng hỏi: “Ông có biết những chủ cũ của ngôi nhà này không? Cách đây ba mươi năm tôi đã có lần ở trọ đây mươi ngày. Câu chuyện đã lâu lắm rồi”.
 
Anh ta trả lời: “Thưa ngài, đó là bố mẹ tôi”.
 
Thế là tôi kể lại nhân dịp nào tôi đã dừng chân ở đây, vì người bạn ốm tôi phải ở lại đây ra sao. Anh ta không để tôi nói hết.
 
–          Ồ, tôi nhớ rõ lắm. Hồi ấy tôi mới mười lăm, mười sáu tuổi. Ngài ngủ ở phòng đằng cuối kia, còn bạn ngài nằm ở phòng liền đường phố, bây giờ tôi dùng làm buồng riêng.
 
Đến lúc đó tôi mới chợt nhớ lại rõ nét cô hầu năm xưa. Tôi hỏi: “Ông có nhớ một cô hầu bé nhỏ, xinh xắn mà cụ nhà ta nuôi, và, nếu tôi không nhớ lầm, thì cô ta có đôi mắt đẹp và hàm răng tươi tắn?”.
 
Anh ta đáp: “Thưa ngài, có; chị ấy đã chết ít lâu sau khi ở cữ”.
 
Và giơ tay ra phía ngoài sân, chỉ vào một gã gầy còm và thọt chân đang đánh phân, anh ta nói thêm: “Con trai chị ấy kia kìa”.
 
Tôi liền cười: “Hắn chẳng đẹp và chẳng giống mẹ tí nào. Chắc hắn giống bố đấy nhỉ”.
 
Người chủ quán nói: “Có lẽ thế; nhưng chẳng ai biết bố hắn là ai cả. Chị ta chết đi không trối trăn điều gì mà ở đây cũng chẳng ai thấy có anh nào tán tỉnh chị ấy cả. Khi nghe nói chị ta có mang thì mọi người đều lấy làm lạ. Không ai tin là thật”.
 
Tôi thấy rợn mình khó chịu; một cái gì nhoi nhói tâm can như sắp xảy ra cơn phiền muộn não nề. Và tôi nhìn gã đàn ông ngoài sân. Bấy giờ hắn vừa múc nước cho ngựa xong, tay xách hai thùng nước, vừa đi khập khiễng, chân thọt bước đi đau đớn. hắn mặc rách rưới, bẩn thỉu đến ghê tởm, với bộ tóc dài màu vàng, rối chằng chịt đến nỗi xòa xuống hai bên má như những sợi thừng.
 
Người chủ quán nói them: “Hắn chẳng được tích sự gì cả, giữ hắn ở trong nhà làm phúc đấy thôi. Có nhẽ nếu được dạy dỗ như mọi người thì hắn cũng không đến nỗi nào như thế. Nhưng, ngài tính, không bố, không mẹ, không tiền! Bố mẹ tôi cũng thương nó lúc nó còn bé đấy, nhưng, ngài còn lạ gì, dù sao cũng không phải là con để dứt ruột ra”.
 
Tôi không nói gì cả.
 
Và tôi lại ngủ ở gian buồng năm xưa; suốt đêm tôi vừa nghĩ đến tên bồi ngựa thảm hại kia vừa luôn tự hỏi: “Nó là con mình thật sao? Té ra mình đã giết cô con gái kia và đẻ ra con người đó thật chăng?” Có thể lắm chứ!
 
Tôi quyết định hỏi chuyện hắn để biết rõ ngày sinh tháng đẻ của hắn. Chỉ chênh lệch hai tháng là đủ làm cho tôi hết nghi ngờ.
 
Hôm sau tôi cho gọi hắn đến, nhưng hắn cũng không nói tiếng Pháp nốt. Mà theo lời một cô hầu hỏi hộ tôi, hắn có vẻ cũng chẳng hiểu gì cả, tuyệt nhiên không biết mình bao nhiêu tuổi. Và hắn đứng trước mặt tôi với vẻ ngu ngốc, vo tròn cái mũ trong những bàn tay thô lỗ và bẩn thỉu, cười một cách đần độn, có cái gì như trong nụ cười của mẹ nó ngày xưa, ở kẽ môi và ở khóe mắt.
 
Nhưng người chủ quán chợt đến, và đi tìm giấy khai sinh của gã khốn nạn. Hắn ra đời tám tháng và hai mươi sáu ngày sau khi tôi rời Pont Labbe đi, vì tôi nhớ rõ là tôi đến Lorient ngày 15 tháng Tám. Tờ khai sinh có ghi rõ: “Bố vô danh”. Mẹ tên là Jeanne Kerradec.
 
Thế là tim tôi đập rộn lên. Tôi không nói nữa vì nghẹn ngào quá; và tôi nhìn con ngợm kia với những mảng tóc vàng giống như một mớ phân, tởm hơn cả phân súc vật; gã khốn nạn đó thấy tôi nhìn thì đâm ngượng, thôi không cười nữa, ngoắt đầu, tìm cách lảng đi.
 
Suốt ngày tôi vừa lang thang dọc theo bờ song con vừa suy nghĩ đau đớn. Nhưng suy nghĩ mà làm gì? Không có cái gì làm cho tôi quyết định được. Hàng giờ, hàng giờ tôi cân nhắc tất cả mọi lý lẽ, đúng hay sai, phải hay trái, xem tôi có phải là bố tên ấy không, tôi phát điên lên với những giả định rối như bòng bong để rồi vẫn trở lại mối ngờ vực ghê gớm, dĩ chí đi tới sự yên trí cay đắng hơn, đích thằng đó là con tôi.
 
Buổi tối tôi không ăn được và lui về buồng. Trằn trọc lâu lắm không ngủ được, rồi khi chợp mắt thì toàn những mê sảng kinh người. Tôi mơ thấy thằng mất dạy kia cười vào tận mũi tôi, gọi tôi “Ba ơi”; rồi nó biến thành con chó đến cắn vào bắp chân tôi, và nó đuổi tôi không chạy đâu thoát, và nó không sủa mà lại nói, chửi rủa tôi; rồi nó ra trình trước các đồng nghiệp tôi ở Hàn lâm viện, họ họp để quyết định xem tôi có phải là bố nó không; và một đồng viện kêu lên: “Thôi đích xác rồi! Các vị nhìn xem nó giống ông ta như đúc”. Và quả thật tôi nhận thấy thằng quái kia giống tôi thật. Và tôi tỉnh dậy với ý niệm đó ăn sâu trong óc, với ý muốn điên cuồng nhìn lại gã kia để xem thử chúng tôi có những nét giống nhau thật hay không.
 
Tôi đuổi theo kịp hắn, trong khi hắn đang đi lễ nhà thờ (hôm đó là ngày chủ nhật) và tôi vừa đưa cho hắn một đồng bạc vừa nhìn chòng chọc vào mặt hắn một cách lo lắng. Hắn lại cười một cách gớm ghiếc, cầm lấy tiền, rồi cũng lại đâm ngượng vì tôi nhìn, hắn bỏ chạy sau khi ấp úng một tiếng nghe không rõ, chắc có nghĩa là “cảm ơn”.
 
Cả ngày hôm đó tôi vẫn phiền muộn không kém gì đêm hôm trước. Tối đến, tôi cho gọi người chủ quán tới, và bằng đủ mọi cách đón trước rào sau, tôi nói với anh ta rằng tôi để ý đến gã đáng thương kia, hắn bị bỏ rơi và thiếu thốn đủ mọi thứ, và tôi muốn làm cách nào để giúp đỡ hắn.
 
Nhưng người chủ quán đáp lại: “Ô! Thưa ngài, xin ngài chớ nghĩ đến điều đó, thằng ấy nó chẳng ra gì đâu, ngài sẽ chỉ thêm bực mình vì hắn thôi. Tôi dùng hắn để quét chuồng ngựa, hắn chỉ làm được đến thế là cùng. Không nên cho hắn gì hơn. Nếu ngài có chiếc quần áo cũ gì thì cho hắn, nhưng chỉ dăm bữa là rách tan thôi”.
 
Tôi không nói gặng thêm điều gì, có ý sẽ định liệu.
 
Tối hôm đó thằng khốn nạn kia về nhà say bí tỉ, suýt nữa nó đốt cháy nhà, nó lấy cuốc bổ một con ngựa chí chết, rồi cuối cùng nằm lăn ra ngủ trên một đống bùn, phơi mưa, tất cả chỉ vì món tiền tôi cho hắn.
 
Hôm sau người ta đề nghị tôi từ rày đừng cho hắn tiền nữa. Rượu mạnh làm hắn nổi cuồng, và hễ có vài xu trong túi là hắn đi uống rượu. Người chủ quán nói thêm: “Cho hắn tiền là muốn giết hắn”. Gã ấy chưa bao giờ có tiền cả, trừ một vài đồng chinh mà khách đi đường ném cho hắn, và hắn không biết dùng mấy đồng tiền đó làm gì khác hơn là vào quán rượu.
 
Thế là tôi ngồi hàng giờ trong buồng, với một quyển sách để mở trước mặt tưởng như để đọc, nhưng thực tình là chỉ để ngắm nhìn thằng ngợm kia, nó là con tôi! Con tôi! Vừa cố tìm xem nó có chỗ nào giống tôi không. Cứ để ý tìm mãi thì rồi tôi cũng như nhận ra những nét hao hao giống ở trán, ở cuống mũi, và chẳng mấy lúc tôi tin chắc rằng có chỗ giống nhau mà người ta không nhận ra chỉ vì cách ăn mặc khác nhau và vì cái bờm tóc ghê tởm của gã kia.
 
Nhưng nếu tôi ở lại mãi đây thì người ta đâm nghi ngờ, cho nên tôi ra đi, lòng tan nát, sau khi để lại cho người chủ quán ít tiền để nhờ anh ta làm cho tên đày tớ kia đỡ khổ.
 
Cứ thế, từ sáu năm trời nay, tôi sống với nỗi tâm tư đó, tình trạng ngờ vực ghê gớm đó, mối hồ nghi tai ác đó. Và cứ hàng năm, một sức mạnh không cưỡng nổi kéo tôi trở lại Pont Labbe. Mỗi năm tôi tự đày đọa mình phải chịu cái hình phạt là nhìn con ngợm kia ngập ngụa trong chuồng phân của hắn, là tưởng tượng rằng hắn giống tôi, là tìm hết cách cứu giúp hắn mà đều vô hiệu quả. Và mỗi năm tôi trở lại đây, lòng càng them do dự, càng thêm ray rứt, càng thêm phiền não.
 
Tôi đã thử cho hắn học hành. Hắn ngu đần đến vô hy vọng.
 
Tôi đã thử làm cho cộc đời hắn đỡ vất vả. Hắn nghiện rượu không phương cứu chữa, và tiêu nhẵn tiền người ta cho hắn, để uống rượu, và hắn lại biết cả cách bán quần áo mới đi để mua rượu.
 
Tôi đã gợi lòng thương của ông chủ hắn, luôn luôn đưa tiền cho họ để họ trông nom hắn. Người chủ quán, rút cục lấy làm lạ, đã trả lời tôi một cách rất có lý: “Thưa ngài, ngài làm như thế chỉ tổ làm hại hắn. Cần phải giữ hắn như một thằng tù. Hễ được rảnh rang hay được no ấm là hắn sinh ra làm bậy. Nếu ngài muốn làm phúc thì thiết nghĩ không thiếu gì trẻ con vô thừa nhận, nhưng ngài nên chọn lấy một đứa nào xứng đáng với công phu của ngài”.
 
Biết trả lời sao?
 
Và nếu tôi để nảy ra một sự nghi ngờ về những nỗi băn khoăn đang giày vò tôi, thì gã ngu xuẩn kia chắc chắn sẽ đâm ra láu cá mà lợi dụng tôi, làm liên lụy đến tôi, làm hại tôi. Hắn sẽ gọi tôi, tướng lên: “Ba ơi”, như trong giấc mộng bữa nào.
 
Và tôi thầm nghĩ rằng tôi đã giết người mẹ và làm hại gã bất thành nhân kia, nó như con giòi chuồng ngựa, nở ra và lớn lên trong đống phân, người đó nếu được nuôi dạy như mọi người thì cũng sẽ như ai.
 
Và bác không thể hình dung được cảm giác kỳ quái, hỗn độn và ê chề ở tôi khi đứng trước hắn mà lòng nghĩ rằng kẻ đó từ trong tôi mà ra, rằng sợi dây cốt nhục cha con gắn bó hắn với tôi, rằng những quy luật di truyền ghê gớm đã khiến về đủ mọi mặt, về máu mủ, về xương thịt, hắn với tôi là một, và hắn mang trong mình cả những mầm mống bệnh tật cho chí những men dục vọng như tôi.
 
Và luôn luôn, một nhu cầu xót xa, không bao giờ nguôi thôi thúc tôi phải nhìn thấy hắn đánh phân và chuyển phân vừa luôn luôn nhắc thầm: “Con tôi đấy”.
 
Và đôi khi, tôi cảm thấy hết sức thèm muốn ôm lấy hắn. Tôi thật ra chưa bao giờ đụng đến cả bàn tay ghê tởm của hắn”.
 
Ông viện sĩ hàn lâm ngừng lời. Và bạn của ông ta, nhà chính trị, lẩm bẩm: “Ừ, thật đấy, chúng ta phải chăm sóc hơn chút nữa đến lũ trẻ không bố”.
 
Và một làn gió thổi qua rung động những chùm hoa vàng của cây mun, tung ra một đám bụi hương thơm mịn, bao bọc lấy hai ông già, họ hít thở hàng thôi dài.
 
Và viên thượng nghị sĩ nói thêm: “Thật là thú vị cái tuổi hai mươi nhăm, cho đến cả lối đẻ con ra như vậy”.

 

Thảo luận cho bài: "Một đứa con"