Một Thời Yêu Dấu.

Tác giả:

Tôi sống ở Đà Nẵng mười sáu năm. Vừa đủ lớn để biết xôn xao làm con gái. Gia đình bên nội tôi gốc người Huế, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ mình là người Huế. Cả ba tôi, cũng nói giọng Quảng Nam, như thể không chịu thừa nhận cái gốc gác của mình. Mấy ông bác họ tôi hay khoe chúng tôi thuộc dòng dõi hoàng tộc. Nhưng trời ơi, nói ra, may mà cựu hoàng đã viên tịch chứ không thì mích lòng kể gì!


Là tôi chả thấy hãnh diện chút nào về cái gia phả có một bà cô trong tộc làm vợ vua -vua Khải Định đấy nhé!- mà ngược lại còn cảm thấy buồn cười trong bụng mỗi bận về Huế, nhìn Đức Từ ăn trầu bõm bẻm, rồi nhổ xoèn xoẹt vào cái ống nhổ bằng vàng, do một bà thứ phi theo hầu dâng lên, trông rất ư là mất… quan điểm cách mạng, tôi cứ thấy bụng dạ mình… sao sao ấy! Mới chín mười tuổi, tôi đã khó chịu với Đức Từ, và thương bà thứ phi xót xa. Hay nói đúng ra, tôi tội nghiệp một bà già, xấp xỉ bằng tuổi bà chánh cung, quân vương đã ngỏm củ tỉ từ đời nào, ngai vàng, cung cấm đã sụp đổ từ cái thời năm dậu, năm tuất nào đó, của cải bỗng lộc thì èo ọp như tường xiêu, mái dột, quanh năm suốt tháng tằn tiện từng li từng tí vẫn thấy từ túng cho tới thiếu; vậy mà cứ phải nai lưng ra làm thân con sen, nô tì cho bà cô tôi.
Tôi gặp bà Từ Cung một vài lần gì đó, ở Huế. Nhưng gặp mấy ông anh ruột của bà thì đều hơn. Nhất là sau khi mặt trận Quảng Trị tan vỡ năm 72, những ông bác họ xa lắc xa lơ này của tôi tản cư từ Huế vào Đà Nẵng (mà chúng tôi phải gọi mấy ông là "mệ", y như gọi mệ nội, mệ ngoại, nghĩa là bà nội, bà ngoại, thiệt hết sức kỳ cục!). Ngày ngày các "mệ" thường tụ lại nhau đánh mạc chược, tổ tôm hay một cái thứ bài gì gì tôi không rõ, chỉ nhớ quân cờ làm bằng sừng và ngà voi, chạm trổ tinh vi, rất đúng điệu cung đình! Cơm ăn, nước uống cho các "mệ", có người hầu hạ tận nơi.

Các "mệ" từ Huế tản cư vào, mang theo cả các câu chuyện kể (với nhiều tình tiết huyền thoại, động trời và dĩ nhiên là dẫu có tìm đỏ mắt cũng không bao giờ thấy trong sử sách, cũng như chẳng thể nào kiểm chứng được!) làm chộn rộn cả giòng họ. Tôi nghe kể, rằng thì là mà, vua Khải Định đã gặp Đức Từ nhân lúc bà, con gái của một ông quan nhỏ trong triều, đi bán bánh ú (?!) trong cung. Tình tiết huyền thoại và động trời nằm ở chỗ, là sau khi hoàng thượng đã "dớt đẹp" người con gái, đến lúc nàng thọ thai, thì ngài nhất định không chịu nhận, nhưng vì có quan thái giám chứng kiến, nên dùng dằng mãi cuối cùng vua mới đành phải chiếu lịnh xuống cho bà cô tôi phải… đẻ đúng ngày giờ vua ấn định, vua mới "OK" là của mình, bằng không, vương sẽ trảm ngay lập tức! Tới chỗ này, tôi xin được phép mở ngoặc, đóng ngoặc, làm một màn phê bình, kiểm điểm, là nếu như câu chuyện trật búa kể trên có thiệt, tôi xin đồng ý nhất trí với giai cấp liên minh công nông, rằng vua chúa thời phong kiến quả quá sức là tàn nhẫn, vô nhân đạo. Người mà cứ tính y như gà! Hay còn hơn cả gà nữa là khác, vì chưa chắc dân chăn nuôi công nghiệp lại dám đảm bảo kế hoạch sinh nở một cách ngon lành một chăm em ơi chiều nay một chăm phần chăm như vậy, thế mà quân vương lại dám bắt bà cô tôi phải sản xuất theo yêu cầu!
Tuy nhiên tính tới tính lui, nói ra cho cùng, thì cái số phần của bà cô tôi thời đất nước ta còn sống trong chế độ phong kiến dã man như thế kể cũng còn hên. Bởi nếu như bà… đầu thai lầm thế kỷ, không có dịp lạng quạng trong cung vua Khải Định, bị vua dớt, để có cơ hội trở thành hoàng hậu, rồi mẫu hậu của vị vua cuối cùng nhà Nguyễn, mà trễ hơn, tới thời của "bác", gặp "bác"… vui thú điền viên, thì chắc chắn bà đã bị tiêu tán đường, đã hưởng ngay cái án tiền trảm hậu chẳng tấu từ lúc mới hô hoán lên mình có bầu rồi, chứ sức mấy mà được chờ xem hồi sau sẽ rõ như thế.
Các ông bác của ba tôi, bào huynh của bà hoàng, không biết đã có cách sống như thế nào lúc bà còn là đương kim đệ nhất phu nhân, không biết trướng gấm màn thêu ra sao khi cựu hoàng chưa thoái vị, nhưng vào cái thời nghèo túng, loạn lạc, cứ nhất nhất không thích "thời" khoai củ, cũng không chịu được bát sành bát đất, nên rất nhiều phen hỏi "vay tạm vô thời hạn" tiền bạc của con cháu để giữ… thể diện, nề nếp gia phong. Lắm khi ngẫm nghĩ sự đời, tôi vẫn thường tự hỏi, chẳng biết cái quan hệ hoàng tộc có giúp ích gì cho ba tôi trong cuộc đời của ông, có làm cho người ta nhìn ông bằng cặp mắt kính trọng, xem ông quí phái sang trọng hơn không, mà cứ thấy mẹ tôi cằn nhằn quá xá trời đất những khi ông mang tiền đi mời các ông bác họ của mình xài!
Ba tôi xài sang lắm. Ông thường hãnh diện ông là dân thành Tourane, nói tiếng Tây, ăn cơm Tây, uống rượu Tây còn rành hơn cả dân đã đi Tây… Lâu lâu, ông lại làm cho mẹ tôi phải la làng lên, vì bỗng dưng nổi hứng tóm hết lũ chúng tôi đi… tập ăn dao nĩa ở những tiệm ăn Tây đắt như cắt cổ dưới phố. Mẹ tôi chán ngán lắm. Một lần, theo lời đề nghị của một bà chị họ tôi, bà xông pha xuống một cửa hàng chuyên bán dụng cụ làm bếp cho mấy ông… thực dân, kiệu về một bộ dao nĩa bằng bạc. Bà ra lệnh cho ba tôi, nếu có muốn cho chúng tôi thực hiện kiểu "trưởng giả học làm sang", thì làm ơn ngồi nhà dùng mớ đồ đạc bà mua về cho đỡ tốn! Ba tôi cười, đáp lại một câu xanh dờn, "dân thành Tourane là phải vào quán cho người ta phục vụ, chứ ai lại ngồi nhà cứa thịt bao giờ!".
Cái "thành" Tourane, theo nghĩa đen, mà ba tôi hay nhắc, tôi xin thành thật khai báo ở đây là tôi chả biết nó nằm nơi chốn nào. Chỉ nhớ có lần đi từ cổ viện Chàm về chợ Hàn, ông thầy dạy toán có chỉ cho chúng tôi thấy một cái bờ thành cao, nằm trên đường Độc Lập (hay Bạch Đằng?), bảo đó là di tích nơi mà Nguyễn Tri Phương (?) đã từng tuẫn tiết. Tôi có một trí nhớ rất kém cõi, lại hay thờ ơ với cuộc sống và cảnh vật chung quanh, nên đã không hề có ý thử… kiểm tra lại xem ông thầy mình có nói đúng hay không (nhất là khi một ông thầy dạy toán mà nói chuyện địa lý, lịch sử!). Tuy nhiên, trong cái trí nhớ mập mờ, cà chớn của tôi, thì có một nơi, tôi nhớ rất rạch ròi. Nhớ kiểu nói có sách mách có chứng đàng hoàng, đó là cái nhà ga Đà Nẵng, do tôi có trong tay cuốn sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư của ông Trần Trọng Kim, Việt Nam Tiểu Học Tùng Thư xuất bản năm 1948, có bài Đường Xe Lửa, minh họa một cái hình tuy đơn sơ, nhưng với mấy chữ "nhà ga Đà Nẵng" chua phía bên dưới, đã giúp cho tôi nhìn thấy lại một cách rất rõ nét, cái sân ga tẻ lạnh, những con đường rây han rỉ trên con đường Nguyễn Hoàng buồn rầu vắng vẻ ngày xưa.
Lần đầu tiên, khi cầm lại cuốn sách giáo khoa cũ kỹ với bài tiểu dẫn ấy trên tay, tôi đã rưng rưng muốn khóc. Trong trí tôi, hiện lên rất rõ hình ảnh một con bé con lúp xúp chạy theo hai ông anh, một ông anh ruột, một ông anh con cậu mà ba mẹ tôi bảo trợ từ nhỏ, năn nỉ hết nước miếng để xin được đi theo đến cái nhà ga Đà Nẵng ấy, nhặt mớ sỏi về chơi ô quan nhưng đã dứt khoát bị từ chối. Trong ký ức cỏn con của tôi, con đường từ nhà tôi dạo ấy, đường Hùng Vương nối dài, đến nhà ga Đà Nẵng, đi bộ, chắc chỉ hơn mười phút, mà như xa thật là xa, xa tít xa tắp, đến tận ở… cõi người! Ba tôi, thuở nhỏ, mới mười lăm tuổi đã bỏ ông tôi, bỏ cuộc đời cậu ấm, con quan, mà giang hồ vặt qua tận Vientane, Bangkok, nên khi có gia đình, có con, ông đâm ra… rét. Ông nảy ra cái "thói quen" là giữ rịt các con ở nhà, đi đâu cũng phải thưa trình đến mỏi cả miệng. Suốt cả thời tiểu học của tôi, tôi nhớ tôi chỉ dám "bỏ nhà ra đi" một lần, theo mấy đứa bạn tắm ở bãi biển Thanh Bình, một bãi tắm nằm ngay trong thành phố. Và hai lần khác, lên cồn. Ở miền trung, tôi nghĩ, cồn, có lẽ là một cái đồi nhỏ, không biết có giống như Phạm Thiên Thư viết, bóng em cắp rổ lên cồn hái dâu hay không; nhưng mãi cho tới tận bây giờ, thỉnh thoảng được nhìn thấy ở đâu đó một dãi đất, có hoa dại, có lá bạc màu, là lòng tôi lại xuyến xao một cách khó tả. Trí tôi cứ lẩn quẩn nhớ tới cái cồn nào đó thời thơ ấu. Cứ nghe vấn vương dẫu cả hai lần lên cồn, cộng với lần xuống biển, đều để lại những "kỷ niệm thương đau", là tôi đã bị ba tôi đét cho mấy roi, sưng cả đít, còn bị phạt quỳ trong góc nhà cho tới tối.
Ba tôi, kẻ thuở nhỏ mê giang hồ hành hiệp (tôi nói hành hiệp, là vì ông có cứu đời mấy… cô Lựu, kiểu phải thương kẻ cô đơn, góa bụa kẻo có tội với đất trời!). Qua các câu chuyện kể của ông thì chắc như đinh đóng cột là ông không ưa lễ mễ, không thích mâm trên mâm dưới, và ghét cay ghét đắng tinh thần con nhà quan của ông nội tôi; vậy mà về già, lại mê bà con, mê tộc họ, và có đầu óc kỳ thị địa phương còn hơn cả dân Ku Klux Klan. Mỗi năm ông dẫn tôi về Huế một lần thăm mấy ông bác họ của tôi ở bên kia cầu Gia Hội. Tôi còn nhớ là mấy ông bác tôi hãnh diện lắm về khu nhà hoàng tộc này (có lẽ vì vậy mà ba tôi khoái về Huế chăng?). Trong mớ trí óc non nớt của tôi lúc đó còn rơi rớt lại cho đến bây giờ, thì cái miếng vườn rộng thênh thang, có lẽ do vua Khải Định cấp, và ngôi nhà từ đường âm u cổ kính, treo đủ loại kiếm cung, áo mão, chứng tỏ giòng họ mình có nhiều người mang phẩm trật ấy, hoàn toàn chẳng có chút gì đẹp đẽ cả, mà trái lại còn kinh dị vô cùng. Tôi có cảm giác tôi vẫn chưa hề quên cái nỗi thất kinh, hãi hùng khi bị buộc đi ngang qua ngôi nhà từ đường ấy một mình. Tôi nhớ bao giờ tôi cũng rùng mình, mắt dáo dác nhìn quanh, lạnh người nghĩ đến một con quái vật hay một bóng người mặc áo trắng, chân không chạm đất, bất thần từ trong cái khối ánh sáng nhờ nhờ của những ngọn đèn bạch lạp, đèn dầu phụng đang cháy ấy, nhảy xổ vào tôi! Năm ngoái, lật lại cuốn album gia đình mà bà chị tôi đã mang theo lúc đi du học, tôi đã giật nẩy mình hoảng hốt khi nhìn thấy trong ấy một tấm có tôi, con bé khoảng chín mười tuổi gì đấy, mặc cái robe bông hoa ngắn tay, mặt mũi thơ dại phảng phất nét… kinh hoàng, đứng khép nép bên cạnh ba tôi trước ngôi nhà từ đường này. Chẳng thể nào tưởng tượng nổi, bao nhiêu năm đã trôi qua, mà nỗi sợ hãi gai góc ấy vẫn còn sờ sờ hiện trong trí tôi như vậy.
Ngán khu vườn hoàng tộc, ngán cái ngôi nhà từ đường ma quái như vậy, mà lần nào ba tôi hô lên một tiếng, là tôi cũng hí hửng leo lên xe con cóc theo ông vượt đèo Hải Vân ra Huế ngay. Sau này lớn lên, thỉnh thoảng ngồi lại với nhau, mấy anh chị em tôi vẫn ngạc nhiên chẳng biết sao ba tôi lại "chọn" tôi trong số sáu đứa để cho đi theo như thế. Đi Huế thuở ấy, với tôi, có nghĩa là đi… ăn. Nhưng không phải ăn mấy cái đĩa thịt heo luộc thái mỏng tang như giấy pelure, mấy đĩa xôi vắt lại chưa đầy một nắm, hay mấy cái bánh nậm ở giữa có màu đỏ, mờ mờ ảo ảo, thoạt trông có thể lầm là nhân, mà tìm hoài chả thấy miếng tôm thịt nào… trong các bữa giỗ kỵ mang điệu cung đình, hoặc các bữa cơm kiểu hoàng tộc, quí phái ở ngay nhà các ông bác tôi. 
Đi Huế với ba tôi, hay nghĩa đen là đi… ăn với ba tôi, thì khi chiều vừa buông xuống trên sông Hương, trời vẫn còn nắng hay mưa lất phất, khung cảnh thơ mộng hay chán ngắt, mà ba tôi đã "xạo xự" với các ông bác là muốn dẫn tôi đi dạo, thăm ngắm phố phường rồi dắt thẳng một mạch xuống phố; hai cha con sẽ tấp vào tất cả các hàng nem nướng, bánh xèo, bánh khoái, bánh lá chả tôm, bánh ướt tôm chấy v.v… ở hai bên con đường Trần Hưng Đạo (nếu tôi nhớ không lầm cái tên). Trong trí tôi thuở ấy, nếu cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp, hay tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương có ngân nga thanh thoát, có hay ho đến "tầm cỡ" nào đi nữa, mà không phảng phất đâu đó mùi lá chuối thơm ngát của mấy cây chả lụa dòn tan, săn cứng, nhỏ xíu bằng ngón chân người lớn; hoặc không là những xâu nem cay xé lưỡi, có thật nhiều da heo sần sật giữa hai hàm răng, được bày bán, treo lơ lửng trên những sạp bún, sạp nem nướng ngoài chợ Đông Ba, thì Huế chắc chắn không thể nào "đẹp và thơ" được! Tất cả các kỷ niệm của tôi về cố đô, hoàn toàn chẳng có chút gì liên quan tới "lá me bay bay là đà" như trong bài hát nào đó của Minh Kỳ, cũng không "vườn ai biếc quá xanh như ngọc" của thơ Hàn Mặc Tử, mà lẩn quẩn loanh quanh chỉ là bánh nậm, bánh canh, bánh su sê, cơm Âm Phủ, chè Cồn…
Huế, trong ký ức của tôi mờ mịt như những đám sương mù trên đèo Hải Vân, như những ngọn sóng bạc cửa biển Thuận An, bàng bạc như màu hoa đuôi chuột bâng khuâng tím, mọc bạt ngàn đâu đó gần Lăng Cô, nửa đường từ cố đô về Đà Nẵng. Mỗi bận nghe nhắc đến Huế, tôi đều cười một mình, với nụ cười thân ái dễ chịu trên môi. Năm ngoái trong một lá thư cho tôi, cô bạn thân của tôi, bảo cô mới từ Sài Gòn về Đà Nẵng, và có ghé ra Huế. Cô viết cho tôi, "Với Huế, thì tớ cũng như cậu, chỉ là một du khách dạo chơi quanh quẩn mặc dầu tớ có ở đó vài năm. Lòng tớ thật thanh thản an nhàn khi dạo trên những con đường vào thành nội, thẩn thơ bên hồ sen trong lăng Minh Mạng. Không vướng bận, không âu sầu, ngoài trừ cái buồn chung trước những cảnh điêu tàn, xơ xác của tất cả mọi nơi trên cái đất nước này…".
*
Huế, nơi tôi không được sanh ra, cũng chẳng là nơi chôn nhau cắt rốn của ba tôi, nhưng trong hồ sơ có lẽ phải ghi, sinh quán Quảng Nam, quê quán Thừa Thiên, nơi tôi chưa về, đã nghĩ mình là khách. Bạn tôi cũng vậy. Với Đà Nẵng, gốc gác tôi Huế, nó Sơn Tây, đứa tự nhận mình dân Quảng, đứa viết, "cái thành phố, tớ nghĩ, dầu không là quê hương của tớ, nhưng đã phác thảo nên con người tớ, đã cùng đi với tớ một đoạn đường rất đẹp. Một thời rất yêu dấu".
Một thời tóc xõa, vai mềm, eo cong áo lụa, hồn lãng đãng vượt ra ngoài cửa lớp, lướt qua khỏi cổng trường vào tận Sài Gòn, lên tận Đà Lạt, sang đến tận Paris. Thời thơ Nguyên Sa, thơ Cung Trầm Tưởng, thơ Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên…, được chép đầy trong vở học. Thời trái tim treo lơ lửng ở ngưỡng cửa phòng tranh Hạ Quốc Huy, nằm bẹp dí ở thư viện thành phố, mộng những cơn mộng không bao giờ với tới, mơ những trời mơ không bao giờ hiện hữu trên trần gian…
Năm mười sáu tuổi, lũ chúng tôi, bảy đứa chí chóe hẹn hò nhau một tối trà đàm, ngắm trăng và xem hoa quỳnh nở, nói toàn chuyện… trật búa, chẳng chút gì thơ mộng, nhưng lúc ngoảnh lại, ngẫm nghĩ lại, coi bộ nhiều đứa trong chúng tôi cũng hãnh diện về cái quá khứ… trí thức của mình! Nhỏ bạn tôi nhất định làm thơ "nhớ thất tiểu thư áo trắng bay".
Cái thời mười sáu tuổi, đi quán cà phê, nằng nặc đòi uống cho bằng được những ly trà cúc, chưa dám nhận một lá thư tình mà vẫn ra sức mường tượng cho bằng được sợi khói tình vướng trong mắt, hát smoke gets in my eyes một cách hết sức… Hồ Quảng, tân cổ giao duyên. Bạn tôi khi về Đà Nẵng, viết cho tôi, "tớ đã đi đi lại lại trên những con đường quen thuộc ngày xưa, để những cái cảm xúc, bồi hồi của ngày thơ ấy tràn về. Tớ đã mường tượng ra bóng dáng cậu, mường tượng cậu đi bên tớ, nói cười chuyện trăng sao. Tớ cũng đã thả mắt trên những gốc cây, những tàn phượng đỏ, những lề đường in dấu chân chúng ta, để lòng tớ lắng xuống, thanh bình…"
Về cái thời đã hoàn toàn tít tắp mù xa, đã biến mất khỏi cuộc đời của chúng tôi mà chẳng bởi vì tuổi đời chồng chất, chẳng vì những đoạn lìa, chia ly, vẫn cứ luôn quẫy đạp, dẫy dụa trong ký ức tôi. Trong nhiều tiểu đoạn, nhiều bài viết của tôi, hình ảnh Đà Nẵng thời ngọt như mật, đẹp như thơ vẫn thường nằm bên cạnh cơn hấp hối, đau thương của những ngày Đà Nẵng tuẫn nạn, thành phố tiêu điều xơ xác, hàng quán bị niêm phong, đóng cửa, trường học bị đập phá tơi bời. Cả hai, cứ như những ám ảnh không thể nào bứt rời ra được khỏi tôi. Có nhiều lúc, tôi đã khóc, đã xót xa nhớ một con đường, một chỗ ngồi bên bờ sông như khóc người yêu không còn nữa. Có khi tôi run rẩy như thể nỗi kinh hoàng vẫn còn lẩn quẩn đâu đó, trên một góc phố, bên lề đường những ngày tháng tang thương xưa.
Nhỏ bạn tôi viết, "tớ đã về thị xã để tìm lại trời mơ của chúng ta, vậy mà cậu ạ, chẳng làm sao cho tớ nhận ra một nét thân quen, một chút dấu yêu cũ. Đứng ở nơi nào trong thành phố, tớ cũng có cảm giác hết sức kỳ quặc, rằng tất cả đã mịt mờ, lăng lắc. Tất cả đã vô cùng lạ lẫm với tớ. Cứ như những con bé học trò ngày xa xưa ấy, hoàn toàn chẳng dính dáng gì đến chúng ta. Như tớ chỉ đọc trong tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài gì đó. Cái thành phố ven sông với những cơn mưa hồng, những sợi nắng mềm óng ả như chỉ thuộc về những nhân vật không có thật ngoài đời. Ngẩn ngơ, tớ tự hỏi, không hiểu có phải vì lòng con người mịt mờ, lạ lẫm, nên quang cảnh chung quanh cũng mờ mịt lạ lẫm theo? Hay bởi vì những thay đổi thật sự của phố xá, của con người ở đó khiến tớ hụt hẫng? Cậu thử tưởng tượng ra cái giọng Đà Nẵng pha chút Bắc kỳ của nhiều người bây giờ ở Đà Nẵng xem sao. Cậu có cảm thấy chướng tai, và buồn cười như tớ chăng? Xã hội thay chủ đổi ngôi, hở cậu, không lẽ con người ta cũng cần phải hùa theo, phải làm mất cả cái gốc của mình như thế mới chứng tỏ được là ta đang theo hay chăng?
Chao ơi, là tớ buồn. Tớ quẩn quanh vài ngày ở thị xã, nặng trĩu thở dài, rồi tớ về lại Sài Gòn. Lòng tớ hoàn toàn thờ thẩn. Y hệt như tớ vừa mất người yêu.
Mà Nga ạ, Đà Nẵng, rốt cuộc, chỉ còn lại trong tớ một cái gì đó 'xưa', rất xưa, rất buồn bã, não nề, mà tớ nghĩ nếu cậu có dịp nào đó trở về, rồi cũng sẽ cảm nhận như tớ. Cũng nghe mất mát chút hương thơ yêu dấu, cũng sẽ nghe lòng đau nhoi nhói như có kẻ bóp vụn vỡ trái tim mình…"

 

Thảo luận cho bài: "Một Thời Yêu Dấu."